24/2/15

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI VIỆT NAM (LAST DAYS IN VIETNAM)

PHIM "NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI VIỆT NAM" (LAST DAYS IN VIETNAM) - PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ


Người Little Saigon nói về phim “Những ngày cuối cùng ở VN”

Ngọc Lan, thông tín viên RFA
2015-01-31
ngoclan01312015.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
IMG_8325-622.jpg
Ông Lê Tất Giao, cựu sĩ quan quân đội VNCH, nêu cảm nghĩ sau khi xem phim Last Days in Vietnam.
RFA PHOTO/Ngọc Lan
Cuối tuần qua, bộ phim tài liệu Last Days in Vietnam - Những ngày cuối cùng ở Việt Nam của nữ đạo diễn Rory Kennedy đã được trình chiếu miễn phí tại tòa soạn nhật báo Người Việt ở miền Nam California. Đây là cuốn phim đang được đề cử tranh giải Oscar 2015 cho thể loại phim tài liệu.

Tiếng thở dài và những giọt nước mắt

Đông đảo đồng hương gốc Việt sống quanh vùng Little Saigon và cả những người ở các thành phố khá xa đã đến xem cuốn phim này trong tâm tình vừa muốn tìm hiểu về một thời điểm đặc biệt khốc liệt của lịch sử Việt Nam vừa muốn chứng kiến sự thật mà phim nói đến là như thế nào.
Xem cuốn phim này tôi rất buồn nhiều khi tôi muốn đứng lên đi về sớm, không muốn xem nhưng mà tôi cố ở lại để xem cho hết cuốn phim. Tôi buồn cho cảnh tang thương của xứ sở nhưng mà tôi rất kính phục ông đại sứ Martin.
-Ông Lê Tất Giao
Nhiều tiếng thở dài, nhiều giọt nước mắt rơi xuống và cả những tiếng nấc bật lên trong khoảng thời gian Những Ngày Cuối Cùng ở Việt Nam hiện lên màn ảnh.
Mời quý thính giả nghe tâm tình của ông Hùng Vũ, một cư dân ở San Gabriel Valley thuộc Los Angeles County:
“Tôi rất cảm động sau khi xem phim. Tôi là một trong những người may mắn được được di tản sang Mỹ năm 1975 bằng không vận C141 của Hoa Kỳ. Tôi rất may mắn hơn nhiều người. Nhưng kinh nghiệm của tôi sau 40 năm ở Mỹ, thành công tất cả mọi thứ, có một điều tôi nhận thấy là tôi đã mất tình quê hương. Và tôi không hề có hạnh phúc. Và tôi không thể thấy được tình đồng hương của những người ở bên Mỹ, ngay cả trong gia đình tôi, tôi cũng thấy nó biến đổi rất nhiều. Tôi chỉ mong tất cả những người may mắn sang Mỹ hiểu rằng lý do chúng ta được sang đây là bởi vì chúng ta là những người tị nạn, chúng ta có bổn phận cứu giúp những người còn lại ở Việt Nam.”
Ông Triết Nguyễn, 70 tuổi, từ tiểu bang Alabama về Little Saigon xem phim cũng không giấu được sự xúc động:
“Xem xong cuốn phim vừa chiếu, quan trọng nhất là tôi không cầm được nước mắt. Cái cảm xúc đầu tiên của tôi là tôi bị mất tất cả. Tôi là người di tản từ miền Trung vào và bài hát mà Trịnh Công Sơn viết “người chết hai lần, thịt da nát tan.” Điều đó là điều tôi thấy rất rõ ràng. Mẹ chết, mẹ ngồi dựa vào gốc cây, con xé áo quấn trên đầu lạy 3 lạy rồi ra đi. Những điều đó tôi đã trải qua. Ngày hôm nay xem lại cuốn phim tôi thấy ông đại sứ Martin quả là một người nhân bản. Tôi xin cám ơn ông hết lời.”

IMG_8342-400.jpg
Bà Ngân Nguyễn, cư dân Little Saigon, một trong những người lên chiếc trực thăng cuối cùng để di tản khỏi Sài Gòn từ tòa nhà DAO. RFA PHOTO/Ngọc Lan.

Cô Nhã Lan, một kỹ sư đang làm việc tại hãng Boeing, bày tỏ cảm nghĩ:
“Nó chỉ là một phim tài liệu nhưng thực sự phim tài liệu này đã giúp cho rất nhiều người, ngay cả chính Nhã Lan. Vì ngày 30 tháng 4, Nhã Lan còn ở tuổi thiếu niên nên cũng không rõ lý do tại sao mà miền Nam của mình mất trong tay của miền Bắc. Thực sự một tiếng rưỡi phim này, là phim tài liệu nó không có sự hư cấu, qua một tiếng rưỡi phim này chúng ta thấy chúng ta mất miền Nam nhưng từ xưa đến giờ, chính Nhã Lan cũng có câu hỏi tại sao Hoa Kỳ lại bỏ rơi miền Nam Việt Nam và một tiếng rưỡi phim này đã trả lời phần nào tại sao.”
Là một trong những người có mặt trên chuyến trực thăng cuối cùng rời khỏi Sài Gòn từ tòa nhà DAO, bà Ngân Nguyễn, khán giả xem đang sống tại thành phố Garden Grove nhớ lại:
“Khi chúng tôi lên chiếc trực thăng cuối cùng ở tòa nhà DAO thì chúng tôi cứ tưởng nó bay thẳng ra ngoài mẫu hạm, nhưng không, nó vào Tân Sơn Nhất, từ đó họ mới đổi lên chiếc trực thăng lớn hơn để chở người ra ngoài chiếc mẫu hạm Midway. Đêm 29 pháo kích đã làm tan nát phi trường rồi. Khi chúng tôi lên được được chiếc mẫu hạm Midway thì cũng đã gần sáng và mới thấy những chiếc trực thăng của phi công Việt Nam mình đáp trên những chiếc mẫu hạm đó. Và chiếc nào đáp xong thì họ cứ xô xuống biển, y như quý vị thấy trong phim.
Sáng hôm sau chúng tôi được đưa ra ngoài khơi quốc tế để lên những chiếc tàu hàng dân sự của Hoa Kỳ, chuyển hết từ 3.000 đến 5.000 người Việt Nam mình từ chiếc Midway ra hết bên ngoài. Rồi từ đó chúng tôi đi 11 ngày cho tới Guam.
Điều đầu tiên tôi muốn nói là cảm ơn Tổng Thống Ford đã ra lệnh cuộc di tản này. Tôi xin được cám ơn cả ông đại sứ Graham Martin. Cám ơn nhân dân Mỹ. Cám ơn nước Mỹ đã cưu mang chúng ta.”
Xin mượn lời của ông Lê Tất Giao, 78 tuổi, cư dân Garden Grove, từng là cựu Đại Úy Y sĩ làm việc ở Tổng Y viện Duy Tân Đà Nẵng trước 1975, thay cho lời kết:
“Xem cuốn phim này tôi rất buồn nhiều khi tôi muốn đứng lên đi về sớm, không muốn xem nhưng mà tôi cố ở lại để xem cho hết cuốn phim. Tôi buồn cho cảnh tang thương của xứ sở nhưng mà tôi rất kính phục ông đại sứ Martin, người Mỹ đã có tấm lòng đại lượng, nhân ái, đã cứu giúp những người Việt Nam muốn trốn khỏi cộng sản trong giờ phút cuối cùng với sức ông có thể làm được. Tôi kính phục ông lắm. Và chứng tỏ tinh thần người Mỹ dù sao cũng có những người tốt để cứu những người muốn thoát khỏi nạn cộng sản để đi tìm tự do.”
nguồn http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ngoc-lan-01292015-01302015124428.html

Ngày cuối cùng ở Việt Nam

  • 4 tháng 10 2014
Đây là bộ phim tài liệu hướng đến kỷ niệm 40 ngày di tản khỏi miền Nam Việt Nam
Sau khi nhận chức tổng thống chiều 28/4/1975, một trong những quyết định của Đại tướng Dương Văn Minh là yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam.
Qua công điện gửi Đại sứ Mỹ Graham Martin, ông Minh đã yêu cầu Hoa Kỳ rút tất cả người Mỹ trong vòng 24 giờ.
Đó cũng là 24 tiếng đồng hồ của ngày 29/4/1975 tại Sài Gòn được đạo diễn Rory Kennedy đưa vào phim tài liệu “Last Days in Vietnam” đang chiếu tại nhiều rạp ở Mỹ. Phim được sự phối hợp sản xuất của chương trình American Experience thuộc hệ thống truyền hình PBS.

Công điện đuổi Mỹ

Nếu không có công điện của Đại tướng Minh, 30/4/1975 có phải là ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà và câu chuyện người Mỹ di tản sẽ có khác? Vì Đại sứ Martin đã rất bướng bỉnh, không vội lên kế hoạch di tản bất chấp khuyến cáo. Vì ông muốn nhiều người Việt được di tản trước, vì ông lo sợ cảnh hỗn loạn như ở Đà Nẵng hay ông thực sự tin rằng sẽ có một giải pháp chính trị cho Việt Nam?
Ông Martin qua đời năm 1990 nên đạo diễn không có cơ hội đưa ông vào phim như một phần lịch sử của cuộc di tản.
Qua Last Days in Vietnam, sau gần 40 năm từ khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, công chúng lần đầu tiên được thấy bức công điện đuổi Mỹ của vị lãnh đạo cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa.
Cùng nhiều tài liệu khác, như bức thư Tổng thống Richard Nixon gửi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hứa sẽ trả đũa nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp định Paris 1973, như các kế hoạch di tản được phía Mỹ chuẩn bị.
Nhưng trọng tâm của phim là ngày 29/4/1975 ở Sài Gòn, qua kế hoạch Frequent Winds dùng trực thăng để di tản, vì lúc đó phi trường Tân Sơn Nhứt đã bị đạn pháo không còn xử dụng được.
Last Days in Vietnam chứa đựng nhiều phim tài liệu, có những đoạn phim chưa bao giờ công bố, đan xen cùng lời kể của nhiều người có mặt lúc đó.
Bà Kennedy là một đạo diễn phim tài liệu có tiếng
Họ là những sĩ quan, binh lính Mỹ như Đại úy Stuart Herrington, cố vấn Richard Armitage, Đại úy Hugh Doyle, Trung tá Hạm trưởng Paul Jacobs, Thượng sĩ Juan Valdez, nhà phân tích cao cấp của CIA Frank Snepp.
Họ là những người Việt như Đại tá Hải quân Đỗ Kiểm (Kiem Do), sinh viên Phó Đức Bình (Binh Pho), Trung úy Phạm Hữu Đàm (Dam Pham).

Những giờ phút căng thẳng

Có những thước phim bỏ quên trong một góc nhà, chưa tráng rửa sau 37 năm, của một người lính từ chiến hạm USS Kirk, ghi lại hình ảnh những trực thăng do phi công Việt di tản và vị chỉ huy Mỹ phải quyết định khẩn mà không hỏi cấp trên là đẩy những trực thăng UH-1 trị giá nhiều triệu đôla xuống biển để có chỗ đón người tị nạn.
Những đoạn phim ghi lại hình ảnh Miki Nguyễn, lúc đó mới 6 tuổi, và gia đình đã phải nhảy ra từ cửa sổ chiếc Chinook lơ lửng trên không, không thể đáp vì có thể làm chìm chiến hạm. Một em bé cuốn trong khăn vải được thả xuống cho thủy thủ đoàn chụp bắt. Sau đó phi công rà rà trực thăng sát mặt biển, nhảy ra khỏi cửa sổ, trước khi máy bay nổ tung trên nước.
Cuốn phim không bàn về nguyên nhân đưa đến sự thất bại của Hoa Kỳ dù có nhắc đến Hiệp định Paris 1973 là một văn kiện với ngôn ngữ rất mơ hồ, theo nhận xét của Frank Snepp, mà Ngoại trưởng Henry Kissinger đã thương thảo cùng Hà Nội để các bên ký kết, với hy vọng sẽ có hai quốc gia nam bắc Việt Nam như bán đảo Triều Tiên.
Phim cũng đề cập đến việc Tổng thống Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate, việc Quốc hội Mỹ cắt viện trợ cho miền Nam Việt Nam.
Phim không nói đến nguyên nhân khiến người Việt chạy trốn cộng sản qua các cuộc di tản từ tỉnh thành phía bắc, nhưng đưa ra hình ảnh thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968.

Hết sức giúp người tỵ nạn

Những người Mỹ xuất hiện trong phim
Chủ điểm chính của phim là những nhân vật đã làm hết sức mình, bất chấp luật pháp Mỹ hay lệnh từ Washington để đưa nhiều người Việt ra khỏi Việt Nam.
Đại sứ Martin từ chối lên chuyến trực thăng đầu tiên, thay vào là 40 người Việt được di tản. Ông ở lại cho đến khi có lệnh từ Washington buộc phải cuốn cờ ra đi.
Đại úy Stuart Herrington điều phối di tản từ tòa đại sứ Mỹ. Ông kể lại chuyển biến từng phút sau khi kế hoạch Frequent Winds được thi hành để di tản nhiều nghìn người, trong đó có khoảng 3 nghìn người Việt, từ khuôn viên tòa đại sứ sứ với phương tiện là 75 trực thăng CH-47 có thể dùng được.
Phía người Việt muốn ra đi, sinh viên Bình kể lại cảnh chen lấn để được vào bên trong sân tòa đại sứ Mỹ. Đại tá Kiểm nói về kế hoạch đưa tàu hải quân ra Côn Sơn. Trung úy Đàm thuật lại những lo âu của một người sĩ quan khi thấy tình hình quân sự ngày một xấu đi từ các tỉnh phía bắc.
Khi chuyến trực thăng, tưởng là cuối cùng, rời nóc sứ quán Mỹ và Washington được báo cáo cuộc di tản chấm dứt thì vẫn còn 11 lính Mỹ kẹt lại. Một binh sĩ là Mike Sullivan đã khẩn cấp gọi điện yêu cầu cho trực thăng vào.
Đại úy Herrington phải nói dối những người Việt rằng ông cần đi tiểu. Rút lên nóc, chân thang đóng lại. Thượng sĩ Juan Valdez là người sau cùng lên máy bay. Ông đếm đi, đếm lại nhiều lần để chắc chắn tất cả lính Mỹ còn lại đã có mặt trên chiếc trực thăng CH-47 cuối cùng rời Việt Nam.
Khoảnh khắc đó là rạng sáng ngày 30/4/1975. Bên dưới còn 420 người Việt bị bỏ lại. Nhìn xuống, Đại úy Herrington xem đó là một sự phản bội thật đau lòng.

Hát quốc ca lần cuối

Đại tá Đỗ Kiểm đã rơi nước mắt khi hát Quốc ca Việt Nam Cộng hòa lần cuối
Cùng khoảng thời gian, cố vấn Richard Armitage phối hợp với tướng lãnh hải quân Việt Nam Cộng hòa để di tản các chiến hạm từ Côn Sơn đi Philippines với 20 nghìn người gồm lính và dân.
Vài giờ sau, xe tăng mang số 843, 844 của bộ đội cộng sản Bắc Việt tiến vào Sài Gòn ủi sập cổng Dinh Độc Lập.
Trên đường phố, những người lính Việt Nam Cộng hòa cởi bỏ quân phục. Những lá cờ vàng ba sọc đỏ trên tường nhà được sơn lấp đi.
Ngoài khơi gần bờ biển Philippines, quân và dân Việt trên chiến hạm hát bản quốc ca lần cuối cùng: “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng…” trước khi lá cờ vàng hạ xuống. Những giọt nước mắt rơi, từ trong khoé mắt của cả những sói biển như Đại tá Đỗ Kiểm.
Gần bốn mươi năm sau, hồi tưởng lại ngày kết thúc bi thương đó, Trung úy Đàm tự hỏi: “Bạn bè của tôi đã nằm xuống để làm gì, có phải để được như hôm nay?”
Last Days in Vietnam tạo cảm giác hồi hộp, căng thẳng vì người xem, dù có thể đã biết cuộc chiến này kết thúc ra sao qua hình ảnh kí ức với chiếc trực thăng bốc người từ nóc nhà của phó trưởng cơ quan CIA, không phải nóc tòa đại sứ như thường hiểu lầm, nhưng không biết hệ lụy ra sao với những chứng nhân người Việt.
Ghi chú cuối phim cho biết 130 nghìn người thoát khỏi Việt Nam vào cuối tháng 4/1975, trong đó 77 nghìn được di tản bằng máy bay hay được tầu Mỹ cứu giúp trên biển.
Đại tá Đỗ Kiểm theo tàu hải quân rời Việt Nam đến trại tị nạn rồi định cư tại Mỹ. Gia đình của Miki Nguyễn cũng thế. Sinh viên Phó Đức Bình kẹt lại, bị giam tù hơn một năm, rồi vượt biển và đến Mỹ. Trung úy Phạm Hữu Đàm đi học tập cải tạo 13 năm và hiện cũng đang sống Mỹ.

Bài học cho hiện tại?

Trung úy Phạm Hữu Đàm đã bị kẹt lại ở Việt Nam với 13 năm lao động cải tạo
Sau buổi chiếu phim ở Berkeley, đạo diễn Rory Kennedy mời những người Mỹ gốc Việt đi xem phim đứng lên nhận một tràng pháo tay từ khán giả.
Qua phần thảo luận, khi được hỏi với tình hình Syria, Iraq và những cuộc oanh tạc nhắm vào ISIS, giới lãnh đạo Hoa Kỳ như Tổng thống Obama, đặc biệt là ngoại trưởng John Kerry và bộ trưởng quốc phòng Chuck Hagel, là những cựu chiến binh của cuộc chiến Việt Nam, đã có xem phim chưa?
Bà Kennedy cho biết phim đã gửi đến một số dân cử quốc hội và năm tới kỷ niệm 40 năm cuộc di tản, lúc đó chính giới sẽ chú ý đến phim nhiều hơn.
Bài học gì có thể rút ra từ phim, khi Hoa Kỳ lại can dự vào Afghanistan, Iraq hay vào những quốc gia khác trong tương lai? Đạo diễn chỉ muốn đưa ra những tài liệu lịch sử. Người xem, tùy theo trải nghiệm và cách tiếp cận để có quan điểm hay nhận xét riêng về chính sách của Hoa Kỳ ở Afghanistan, ở Iraq, Syria.
Việc lúc đó Hoa Kỳ không viện trợ cho nam Việt Nam nữa có phải là lỗi của Quốc hội? Bà nói Quốc hội đại diện cho dân mà lúc đó dân chúng Mỹ cũng đã mệt mỏi với cuộc chiến.
Bà Rory Kennedy sinh năm 1968, con út trong số 11 người con của Thượng nghị sĩ Robert Kennedy – người có anh ruột là Tổng thống John Kennedy.
Bà đã đạo diễn hơn 30 bộ phim tài liệu và từng đoạt giải Emmy.
Trong một dịp tiếp xúc khác với truyền thông dịp ra mắt phim, bà đưa ra nhận định nếu Tổng thống John Kennedy còn sống, Hoa Kỳ không sa lầy ở Việt Nam.
Đây cũng là luận điểm gây tranh cãi khi nhắc lại cuộc chiến, khởi đầu với việc Tổng thống John Kennedy gia tăng số cố vấn quân sự cho Việt Nam, rồi Tổng thống Lyndon Johnson, Richard Nixon can thiệp quân sự mạnh hơn.
Cuộc chiến kết thúc bằng cuộc di tản, để lại một vết đen trong lịch sử Hoa Kỳ.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả hiện đang sống tại vùng Vịnh San Francsico, California.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/10/141004_last_days_in_vn

 PHIM "NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI VIỆT NAM" (LAST DAYS IN VIETNAM) - PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ

Trí Nhân Media
15/2/2015

Tháng Tư năm 1975. 
Trong khi quân Bắc Việt tiến gần vào Sài Gòn, với tình trạng hỗn loạn, sự kháng cự chống trả của quân dân miền Nam Việt Nam hoàn toàn bị tan rã trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam. Những người Mỹ có thẩm quyền lúc ấy đã phải đứng trước một quyết định quan trọng có ảnh hưởng đến mạng sống đang bị đe dọa của hàng ngàn người Việt Nam: ai sẽ là người được di tản và ai sẽ là người bị bỏ lại phía sau. Những người bị bỏ lại chắc chắn sẽ bị nhận chịu những sự trả thù tàn bạo, bị bỏ tù hay thậm chí tử vong.


Tuy nhiên, trước tình trạng đầy tuyệt vọng lúc đó, một số người Mỹ đã tự quyết định di tản người dân miền nam ra khỏi Việt nam càng nhiều càng tốt, bất kể những trừng phạt họ có thể phải nhận lãnh về quyết định táo bạo này.

Đúng ??? Sai ???

40 năm sau, lật lại lịch sử, cuốn phim tài liệu đã mang đến người xem lẫn người làm phim nhiều xúc cảm: đau thương, hối tiếc, căm giận, tủi nhục ...

Đã có rất nhiều,  rất nhiều ...  máu và nước mắt từ 40 năm qua ...

Nguồn: http://www.trinhanmedia.com/2015/02/phim-nhung-ngay-cuoi-cung-tai-viet-nam.html

23/2/15

Saigon City of Westminster

Bảng "Saigon" được Thành Phố Westminster chính thức gắn trên đại lộ Bolsa, thủ đô tỵ nạn Little Saigon


10 giờ sáng thứ Sáu ngày 20 tháng 2 năm 2015, tức Mùng Hai Tết Ất Mùi, Hội Đồng Thành Phố Westminster, cùng với quý vị đại diện cộng đồng, các tổ chức đấu tranh, và một số đồng hương đã chính thức làm lễ khánh thành 2 tấm bảng tên "Saigon" gắn trên trụ điện giao thông trên đại lộ Bolsa, để thay thế cho 2 tấm bảng treo lâu nay là "Asian Garden" và "Cultural Court". Hai tấm bảng "Saigon" này, một bên chỉ vào khu thương mại Phước Lộc Thọ, một bên chỉ vào khu chợ Á Đông, thuộc vùng thủ độ tỵ nạn Little Saigon. Kính mời quý vị bấm vào Link Youtube dưới đây để xem tóm lược nghi thức buổi lễ.


Năm mới, vận hội mới, hy vọng mới, nỗ lực mới, quyết tâm giải thể đảng cộng sản Việt Nam để ngọn cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được phất phới tung bay ngay tại thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam.

Dưới đây là quang cảnh còn bảng tên cũ "Asian Garden," trước khi được đổi thành bảng tên mới "Saigon":


Dưới đây là hình các pho tượng "danh nhân Tàu" được chủ nhận khu thương mại này trưng bày lúc còn bảng tên "Cultural Court,"  nhưng nay đã bị dẹp bỏ, và bảng tên "Cultural Court" đã được đổi thành "Saigon"


Dưới đây là một số hình ảnh về buổi lễ chính thức khánh thành 2 bảng "Saigon" được gắn trên trụ điện giao thông 


để thay thế 2 bảng tên cũ "Asian Garden" và "Cultural Art"



Bảng tên "Saigon" phía khu chợ Á Đông


Bảng tên "Saigon" phía khu thương mại Phước Lộc Thọ








Nhìn tư đại lộ Bolsa thấy các bảng tên Moran, Saigon, Magnolia....



20/2/15

Người trí thức Dương Nguyệt Ánh


  BS.Trần Văn Tích

Người trí thức Dương Nguyệt Ánh

 Hình: nguồn Hoàng Lan Chi

Trong vụ tranh tụng giữa hai tờ báo Sàigòn Nhỏ và Người Việt, Bà Dương Nguyệt Ánh đứng về phía Sàigòn Nhỏ. Sự lựa chọn này biến Bà thành một trí thức, theo suy nghĩ của cá nhân tôi.
Malraux cho rằng trí thức không những chỉ là người cần đến sách mà còn là người sẵn sàng dấn thân và sắp xếp cuộc đời theo một tư tưởng.1 Sartre cho rằng trí thức là người vào một lúc nào đó của cuộc đời, đã can thiệp vào chuyện chẳng dính dáng gì đến mình cả.2 Một nhà bác học thành công trong việc chế tạo bom nguyên tử không phải là một trí thức. Nhưng vào thời điểm ông nhận chân rằng vũ khí hạt nhân là một nguy cơ cho nhân loại và kêu gọi các đồng nghiệp cùng ký tên vào một bản tuyên ngôn chống đối việc sử dụng nó thì ông trở thành trí thức. Sản xuất bom nguyên tử là vấn đề thuộc khoa học và kỹ thuật, sửdụng bom nguyên tử là vấn đề thuộc chính trị và đạo đức. Người trí thức tỏ thái độ, nhà khoa học tìm phát minh. Tuy nhiên dấn thân đòi hỏi trách nhiệm và lương tri.
Lương tri là tình cảm nội tâm thúc đẩy con người làm những việc phải làm, đáng làm. Các quyết lệnh đạo đức của lương tri lắm khi lại nhân danh một chính nghĩa cao cả, một đạo lý công bằng mà khích lệ con người hành xử không theo lẽ thường : cô Kiều bán mình, Jeanne d’Arc lên giàn hoả. Ý thức được thế đứng của mình trong xã hội là điều cần thiết để hoàn thành bổn phận, tất nhiên hoàn thành theo chiều hướng tích cực, xây dựng. Dấn thân có sức hấp dẫn của nó mặc dầu khi dấn thân, con người vốn không chờ đợi được tưởng thưởng, thậm chí có khi còn phải chịu tiếng thị phi. Từ Thức cởi áo chuộc người không phải để mong có ngày gặp Giáng Tiên. Trí thức lăn xả vào việc bảo vệ tự do không phải để được tự do vì – chỉ nói đến trí thức lưu vong tỵ nạn – bản thân họ đã được tự do rồi. Nhưng có dấn thân thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Cho nên các vai chính trong những tác phẩm của Malraux, của Camus qua dấn thân mà thoát ly được tình trạng phi lý của nhân sinh. Dấn thân cũng tạo cơhội cho con người vượt lên khỏi mình, giúp con người tránh khỏi chủ nghĩa cá nhân vị kỷ. Dấn thân khiến con người tự khẳng định để từ đó hoàn tất được những điều hay đôi điều cao cả hơn tự thân. Dấn thân mang lại bình an cho lương tâm và đưa đến niềm vui của hy sinh. Bởi dấn thân là trí thức.

Ngược lại, không thể là trí thức những kẻ không ra khỏi cái vỏ ốc thân phận, không thấy được lẽ sống của dân tộc, không xác định được trách nhiệm với xã hội. Suy tư của người trí thức vừa là sứ mệnh, vừa là bất hạnh. Trí thức là người biết rộng hơn, biết sâu hơn, nhìn xa hơn, nhìn rõ hơn, thấy sớm hơn, thấy mau hơn, nếu so với những người không phải là trí thức. Chính vì thế mà trí thức lo trước khi người khác chưa lo, thấy con đường phải đi trước khi người khác chưa thấy, chọn vị thế phảiđứng trước khi người khác chưa chọn được.

Từ trước đến nay, Dương Nguyệt Ánh từng nhiều phen sẵn sàng đặt chân trên con đường khổ nạn của đấng Messie vác thánh giá đòi hỏi nhân quyền cho đồng bào, cho nữ giới, oằn vai gánh nặng khổ đau và vinh dự của người trí thức. Hôm nay, Dương Nguyệt Ánh đã mau chóng chọn phe chọn phái trong vụ Sàigòn Nhỏ-Người Việt. Bà lên tiếng rất sớm. Xưa nay người trí thức thường lắm lo âu cho nên Nguyễn Trãi mới tâm tình :
Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn
(Trên đời người trí thức thường lắm lo âu hoạn nạn)

Bà Dương Nguyệt Ánh là một nhà khoa học nhưng là một nhà khoa học có tâm huyết. Đối trước một vấn đề thời sự liên quan đến sinh hoạt cộng đồng tỵ nạn cộng sản, Bà thấy ngay, thấy trước rất nhiều người là mình phải “m'est mêlée de ce qui ne me regarde pas“ như Sartre ngày nào. Bà đã chủ động tích cực xen vào, dính vào một chuyện chẳng liên hệ gì đến Bà.
Chẳng những chỉ lên tiếng – nhiều người khác cũng lên tiếng – Bà Dương Nguyệt Ánh còn đóng góp cụ thể bằng hiện kim.Hành động này tạo khích lệ cho người khác, nâng tinh thần cho tha nhân. Số tiền Bà đóng góp cho Quỹ Pháp Lý của Cô Lữ Anh Thư không quan trọng – có người đóng góp nhiều hơn Bà – nhưng nó tạo thành một chất xúc tác cho phản ứng tặng dữ trong cộng đồng, do uy vọng của Bà trước công luận.
Cung cách lên tiếng của Bà Dương Nguyệt Ánh mực thước, trầm tĩnh dẫu rằng Bà đã phản ứng trong tâm trạng kích động của một người tỵ nạn thường xuyên nghĩ đến nghĩa tự do, luôn luôn mang nặng lòng ái quốc. Bà nhận thức chính xác, đúng đắn rằng đây không phải là một vụ tranh khách giữa hai cơ quan thông tin mà đây là một vụ đối đầu giữa chánh và tà, giữa thiện và ác, giữa quốc và cộng. Cùng chiều hướng đó, Bà trình bày cách đánh giá bản thân đối với những giới chức thực thi luật pháp Hoa Kỳ trong vụ kiện tụng. Bà phát biểu chừng mực, cân nhắc. So câu văn Bà viết trong điện thư với lời bình sau đây của một nữcông dân Hoa Kỳ khác, thấy rõ dấu ấn văn hoá dân tộc lưu lại trên trí tuệ nhà nữ khoa học trí thức. Thenjiwe Tameika McHarris, Amnesty International USA Senior Campaigner tố cáo vào dịp Glenn Ford bị xử oan ức ba mươi năm tù mặc dầu đương sự hoàn toàn vô tội : Glenn Ford is living proof of just how flawed our justice system truly is. (Vụ Glenn Ford là bằng chứng sống chứng tỏ hệ thống pháp lý của chúng ta thực ra hà tỳ nặng). Trong khi người công dân Hoa Kỳ kết án toàn bộ một nền công lý thì nhà nữ khoa học gia trí thức gốc Việt chỉ nói nhẹ nhàng và điềm đạm về một vài ông toà.
Tôi không bao giờ tự vấn rằng Bà Dương Nguyệt Ánh đúng hay sai khi ủng hộ Sàigòn Nhỏ. Việc đó không phải việc của tôi. Việc của tôi là hoan hỉ nhận ra rằng 1) Bà Dương Nguyệt Ánh đã xem vụ Sàigòn Nhỏ là một khía cạnh của đại cuộc chống cộng; 2) Bà đã mau chóng và cụ thể biến kiến giải của mình thành hành động.
Đương nhiên phải có người không đồng ý với Bà Dương Nguyệt Ánh, từ đó, Bà đã chịu ít nhiều tiếng bấc tiếng chì. Bên cạnh nỗi ưu của người trí thức, Nguyễn Trãi từng xếp cái hoạn. Ức Trai đã xem tử vi cho Bà Dương Nguyệt Ánh và xem rất đúng. Khi Sartre cùng Aron được Valéry Giscard d'Estaing tiếp tại Điện Élysée ngày 26.06.1979 nhân dự án thuê tàu sang biển Đông vớt đồng hương tỵ nạn chúng ta, đảng cộng sản và cánh tả Pháp đã lên án. Bây giờ nếu có đến phiên Dương Nguyệt Ánh nhận được lời nặng tiếng nhẹ thì cũng chỉ là sự muôn năm cũ mà thôi.
20.02.2015

1Je sais maintenant qu'un intellectuel n'est pas seulement celui à qui les livres sont nécessaires, mais tout homme dont une idée, si élémentaire soit-elle, engage et ordonne la vie. (Les Noyers de l'Altenburg. Chartres, 21 juin 1940. Gallimard).

2(…) se sont mêlés “de ce qui ne les regarde pas“. (Plaidoyer pour les intellectuels. Situations VIII, 1972, p. 377. Gallimard).

15/2/15

lễ tưởng niệm chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 Chuyến hải hành trở về Biển Đông và lễ tưởng niệm chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa



Chuyến hải hành trở về Biển Đông và lễ tưởng niệm chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa 01/1974
Nguyễn Hùng và gia đình (Danlambao) - Trong những ngày cuối của tháng Giệng 2015, chúng tôi tham gia chuyến đi du lịch trên một Tàu du lịch xuyên quốc gia (cruise ship). Hành trình ghé thăm các quốc gia nằm bao bọc Biển Đông gồm Việt Nam, Hồng Kông, Philippines, Mã Lai và Singapore.
Tại Việt Nam, tàu du lịch ghé cảng Cái Mẹt (Phú Mỹ) và cảng Chân Mây (Thừa Thiên).
Cách đây nhiều chục năm chúng tôi đã có một vài chuyến hải hành xuất phát từ một bến bải vô danh trong lòng đất nước, trên những chiếc thuyền cây mong manh, không đi du lịch mà phải rời bỏ quê hương xứ sở thân yêu để ra đi. 
Lần này là lần đầu tiên được đi trở lại trên Biển Đông bằng cách đi tàu thủy trên biển, đặc biệt là xuyên qua vùng biển từ Mã Lai Thái Lan và miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17. Dù cho được đi trên chiếc tàu du lịch với số lượng người trên 3000 nhưng trong lòng vẫn nao nao khi nhớ lại lúc ra đi trong vùng biển này trên chiếc thuyền cây mong manh và luôn gần kề với sự chết chóc.
Tàu du lịch chỉ cặp bến trong thời gian khoảng 10 giờ tại mỗi bến cảng. Sài Gòn là nơi chúng tôi trưởng thành, nên việc viếng thăm thắng cảnh Sài Gòn không phải là điều cần thiết.
Điều đặc biệt của chuyến hải hành này là thời gian của chuyến đi trùng hợp với thời gian xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa giữa các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ quần đảo Hoàng Sa chống lại bọn xâm lược Tàu cộng cách đây 41 năm, ngày 19/01/1974.
Chúng tôi có ý định sẽ tiến hành thực hiện một lễ tưởng niệm đơn sơ để tưởng nhớ và ghi công ơn những chiến sĩ của quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng hy sinh trong trận hải chiến đánh đuổi bọn xâm lược Tàu cộng tại quần đảo Hoàng Sa. 
Để cho lễ tưởng niệm mang thêm ý nghĩa tình quê hương đất nước, chúng tôi đã cố gắng trong khả năng, thu góp những lễ vật cần thiết ngay tại Sài Gòn và thành phố Đà Nẵng chứ không mang theo từ nước ngoài, ngoài trừ lá cờ vàng Tổ Quốc và những lời tưởng niệm ghi công và nhớ ơn những anh hùng tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh tại Hoàng Sa.
Trong lần tàu cập cảng container Cái Mẹt, Phú Mỹ chúng tôi đi cùng đoàn khách du lịch về Sài Gòn. Chúng tôi đến viếng thăm khu tượng đài đức Trần Hưng Đạo, Thánh Tổ của binh chủng Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tại đây chúng tôi thu nhặt một số lượng đất dưới chân tượng đài. Sau đó chúng tôi đến khu vực chợ Sài Gòn tìm mua vài thước ribbon màu và vài ký trái cây Việt như chôm chôm, măng cụt…
Khi tàu cập bến cảng thứ nhì trong lộ trình di chuyển dọc theo bờ biển Việt Nam, cảng Chân Mây, chúng theo đoàn du khách nước ngoài đi thăm thành phố Đà Nẵng. Kết hợp với chuyến đi thăm viếng những thắng cảnh tại Đà Nẵng, chúng tôi tiếp tục thu nhặt cát tại bãi biển Mỹ Khê và mua một số lễ vật như nhang đèn tại chùa Linh Ứng, Sơn Trà, và mua thêm một vài loại hoa quả tại chợ Hàn cho lễ tưởng niệm sắp được thực hiện trên vùng Biển Đông khi tàu chạy ngang gần quần đảo Hoàng Sa.
Tàu rời cảng Chân Mây và tiếp tục chạy về hướng Hồng Kông. Vào thời điểm hừng đông ngày hôm sau, vị trí của tàu chạy gần quần đảo Hoàng Sa nhất, chúng tôi đã tiến hành thực hiện lễ tưởng niệm chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa anh dũng hy sinh trong trận hải chiến đánh đuổi bọn xâm lược Tàu cộng bảo vệ quần đảo Hoàng Sa ngày 19/01/2015.
Xin gởi đến bà con những hình ảnh ghi lại buổi lễ tưởng niệm này trên Biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa, kỷ niệm 41 năm ngày quần đảo Hoàng Sa bị bọn xâm lược Tàu chiếm đóng.
Lòng quả cảm liều chết quên thân của các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn được toàn dân Việt tri ơn.
Ngày 15/02/2015

Chùa Liên Trì phát Quà cho Người Nghèo và Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa

 Chùa Liên Trì Cúng Tất Niên và Biếu Quà cho Người Nghèo và Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa












Chùa Liên Trì tuy chưa biết giải tỏa lúc nào, dầu vậy, nhân dịp cuối năm ngày 23 tháng Chạp âm lịch, Hòa Thượng Thích Không Tánh vẫn tổ chức cúng Tất niên. Hàng trăm phật tử xa gần đã về dự lễ và dùng cơm thân mật với chư tăng của chùa.
Nhà chùa còn phóng sanh chim để cầu quốc thái dân an, đồng bào được an cư lạc nghiệp và cúng thí cô hồn cho những vong linh siêu mồ lạc mã không người cúng quải.
Đến bốn giờ chiều, nhà chùa đã biếu 240 phần gạo cho bà con nghèo neo đơn mỗi phần trị giá 110.000 đồng và 27 phần quà cho anh em TPB/VNCH thật khó khăn, mỗi phần trị giá là 400.000 đồng, (gồm 300.000 đồng tiền mặt và 100.000 đồng tiền gạo với mì). Ngoài ra cũng có một Đại Úy VNCH Ngô Văn Trưng, trước đây đã bị ở tù 17 năm, khi ra tù thì nhà cửa người thân không còn, phần bị liệt chân anh phải ngồi xe lăn bán vé số sống qua ngày, cũng đến thăm chùa và được HT TKT niềm nở chia sẻ.
Xin chân thành cám ơn và tri ân công đức đến tất cả quý ân nhân, thân hữu và phật tử đã có lòng ủng hộ cho việc làm từ thiện này trong ngày lễ Tất niên của chùa Liên Trì năm nay.
Dưới đây là một số hình ảnh lễ cúng Tất niên và biếu quà cho người nghèo và TPB/VNCH.
Chùa Liên Trì, (màu vàng), nằm trơ trọi bên tay trái, bên kia là quán cóc.

Phật tử nhận lộc khi ra về.
Phật tử nhận lộc khi ra về.
Quà phát cho Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa.
Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa với chiếc xe mới vừa nhận buổi sáng từ bên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. 
Hòa Thượng đang thăm hỏi TPB/VNCH.
Các TPB/VNCH đang trò chuyện.
Cựu Tù Nhân Chính Trị, cựu Đại Úy Ngô Văn Trưng ở tù 17 năm.
Hòa Thượng đang thăm hỏi cựu Đại Úy Ngô văn Trưng.

TPB/VNCH cụt hai chân được người nhà cõng.
TPB/VNCH được phật tử cõng.
Phật tử hết cõng rồi bồng TPB/VNCH.
TPB/VNCH đang cầu nguyện.
TPB/VNCH đang dùng cơm chay.
Hòa Thượng đang biếu quà cho TPB/VNCH.
TPB/VNCH đã nhận quà.
Người nghèo và người tật nguyền đang tụ tập chờ nhận quà.
Người nghèo và người tật nguyền đang tụ tập chờ nhận quà.
Người nghèo và người tật nguyền đang tụ tập chờ nhận quà.
Phật tử đang chuẩn bị biếu quà cho người nghèo.
Hòa Thượng Thích Không Tánh đang biếu quà cho người nghèo.
Hòa Thượng Thích Không Tánh đang biếu quà cho người nghèo.
Hòa Thượng Thích Không Tánh đang biếu quà cho người nghèo.
Thầy Thích Đồng Minh đang biếu quà cho người nghèo.
Thầy Thích Đồng Minh đang biếu quà cho người nghèo.
An ninh đang quay hình người ra vào.
An ninh đang làm việc.

14/2/15

Tin vùng lên

NGÀY 10/2/2015 LÚC 15h , LỰC LƯỢNG CÔN AN CỦA UBND HUYỆN THẠNH HÓA LONG AN   



Có thể bấm vào phía dưới để xem

13/2/15

Mùa Xuân tôn giáo tại Việt Nam - Rupert Neudeck


Mùa Xuân tôn giáo tại Việt Nam - Rupert Neudeck
„Mùa xuân tôn giáo tại Vietnam“ của TS Rupert Neudeck (ân nhân của người Việt tỵ nạn tại Đức) mới đăng trong báo CIG (CHRIST IN DER GEGENWART) tháng 1 2015.
Bài này cũng được phổ biến trong trang mạng MRVN (Menschenrechte für Vietnam)

Mùa Xuân tôn giáo tại Việt Nam

Giáo hội Công giáo tại đây đang phát triển và trẻ trung.  Một chuyến đi thăm người công giáo tại xứ sở cộng sản.

Rupert Neudeck

Vào ngày chủ nhật chỉ riêng tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế tại quận ba Sàigon có đến 9 lễ rước mình thánh chúa. Chúng tôi đã chọn lễ bắt đầu lúc năm giờ chiều. Quen theo kiểu Đức, chúng tôi nghĩ là đa số mọi người sẽ có mặt sớm trước giờ cử hành thánh lễ, nhưng không phải vậy. Khi chúng tôi đến giáo xứ, đã thấy có nhiều trẻ em và thanh thiếu niên. Bãi đậu xe thật lớn

cho cả mấy trăm chiếc xe gắn máy. Thêm một chợ giáng sinh, một hang đá Đức Mẹ và một trường mẫu giáo tạo thành tổng thể của khu giáo xứ. Bên trong nhà thờ chen chúc người dự lễ, ca đoàn đã khai mạc thánh lễ thật tưng bừng bằng những bài thánh ca nghe thật hay. Hơn phân nửa số người tham dự, thậm chí  hai phần ba, là còn trẻ. Số người xếp hàng chờ rước lễ dài vô tận. Khi bản tin của giáo phận được đọc lên mới biết là sinh hoạt cứu trợ thiện nguyện là phần chính của buổi thánh lễ.

Người công giáo tại VN không có tự do, cũng như những thành phần tôn giáo khác. Đảng cộng sản dùng sự kiểm duyệt, tù tội và lực lượng công an để thể hiện quyền lực. Hệ thống độc đảng chuyên quyền đã  thoái hóa từ lâu nay, nhà cầm quyền bây giờ theo tư bản và tham nhũng một cách trắng trợn. Độ khoảng 15 năm nay, người công giáo  được dễ thở một chút, việc xin phép xây cất nhà thờ dễ được chấp thuận hơn trước kia. Nhưng cũng không che dấu được rằng giáo hội công giáo đã có một thời gian bị cản trở và phải chịu đựng áp bức vô cùng. Người ta chỉ cần nhớ đến vị Tổng Giám Mục giáo phận Hà Nội, Hồng Y Paul Joseph Phạm đình Tụng, người đã qua đời vào năm 2009. Ngài đã bị quản thúc tại gia suốt 27 năm trời. Từ năm 1963 đến năm 1990, Ngài không được phép thăm viếng các giáo xứ trong địa phận của mình. Tổng Giám Mục Francois Xavier Nguyễn văn Thuận của giáo phận Sàigòn đã ngồi tù từ năm 1975 đến năm 1988 và cuối cùng được Đức Giáo Hoàng Johannes Paul Đệ Nhị triệu về Vatikan và năm 2001 được tấn phong bậc Hồng Y Bộ trưởng.

Giờ vẫn còn những cản trở: Tuy nhiên giáo hội công giáo Việt Nam đã tự tin hơn trước. Họ tìm cách đòi lại những đất đai, tài sản của giáo hội đã bị sung công, kể cả việc người công giáo xuống đường biểu tình. Về việc nối lại bang giao với Tòa Thánh, vốn đã bị cắt đứt từ năm 1975, vẫn chỉ là phỏng đoán.

Giáo hội công giáo đang hồi nở rộ, trong một thời kỳ mà người dân về mặt kinh tế được dễ chịu hơn. Trong khi ở Trung Âu châu, giáo hội công giáo già đi và co cụm lại vì hầu như không còn đến được với giới trẻ thì ở vùng Viễn Đông, giáo hội được trẻ trung hóa. Bất chấp khoảng thời gian cả ngàn năm lệ thuộc văn hoá tàu phương bắc; Bất chấp một giai đoạn dài bị Pháp thuộc (1882-1954) và mặc dù bị chế độ cộng sản vô thần cai trị, nhưng những phong cách, giá trị cổ truyền vẫn luôn được lưu giữ và phục hồi. Tập quán thờ cúng tổ tiên đã từng bị các giám mục ngăn cấm, nhưng cũng chẳng được bao lâu. Tại những khu công giáo như ở Sàigòn hoặc Biên Hòa người ta vẫn thấy trong nhà các giáo dân có đặt bàn thờ Đức Mẹ được thiết kế như những bàn thờ phật có cả bát nhang.      

Có đến 20 nhà dòng công giáo hiện diện tại VN và họ bắt đầu xây dựng cơ sở bởi vì có thêm nhiều người trẻ vào dòng tu. Thí dụ như dòng nữ tu Biển Đức nữ Thánh Rosa von Lima có đến 111 thiếu nữ xin đi tu.

Mới đây các tổ chức tôn giáo tại Sàigòn đã liên kết với nhau để chống lại một dự án xây dựng của nhà cầm quyền. Trên báo đảo Thủ Thiêm bên bờ sông Sàigòn, bao trùm một diện tích khoảng bảy cây số vuông, có dự án 1 trung tâm tài chánh thật tân tiến và một khu nhà ở: Khu ngoại ô Tân Thủ Thiêm. Dân cư ngụ đang bị cưỡng ép di dời đi chỗ khác. Cả một ngôi chùa và một nhà thơ trong khu vực cũng phải bị phá dỡ. Người ta phản đối dự án đó. Một Uỷ ban cố vấn  liên tôn, bao gồm năm tôn giáo lớn đã phổ biến một tuyên cáo chung để chận lại việc phá bỏ ngôi chùa và nhà thờ. Cùng với việc này, Uỷ ban cũng công khai vận động các tín đồ. Người ta kể là giáo dân được khuyến khích ngày chủ nhật hãy đến nhà thờ bên Thủ Thiêm để dự lễ.

Nhà cầm quyền VN lèo lái đất nước cũng giống như nhà nước Bắc Kinh. Sách lược tư bản theo kiểu xã hội  chủ nghĩa giống như một con sâu, sau khi ra khỏi kén thì hiện nguyên hình thành tư bản. Về tôn giáo thì không có số lượng chính xác. Người ta ước đoán là vào năm 2004 khoảng 4/5 dân số 92 triệu người Việt không theo tôn giáo nào cả. 20 triệu người theo đạo Phật, khoảng 6 triệu giáo dân công giáo và nửa triệu theo Tin Lành. Thêm vào đó là đạo Cao Đài (một nối kết giữa triết lý công giáo và đạo lý Á châu), khoảng 2 triệu tín đồ, và đạo Hòa Hảo (một hình thức nghiêm tu theo Phật giáo) có khoảng một triệu tín đồ. Theo quan niệm của tất cả những nhóm tín đồ này thì tôn giáo là phần căn bản trong đời sống hàng ngày của họ.  
Một ngày kia chúng tôi đi Vũng Tàu, một thành phố thuộc miền biển. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975, tại đó đã có rất nhiều người đi vượt biên lén lút bằng thuyền, lúc sương mù đêm khuya để tránh tai mắt công an, kẻ dữ. Thoạt đầu họ đi bằng những chiếc thuyền taxi nhỏ để ra ghe lớn hơn mà thường là chứa khẳm người. Họ ra đi với một hy vọng tấp vào được một bến bờ nào đó của vùng biển đông.

Trên ngọn núi cao nhất của Vũng Tàu, nơi hiện có một pho tượng Jesu thật lớn, thấy có nhiều băng ghế nghỉ chân dọc đường ngoằn ngèo dẫn lên núi. Những ghế này là do những người vượt biên khi trước, giờ trở về thăm lại Vũng Tàu và hiến tặng như để cám ơn đã có được chuyến đi vượt biên thành công.  
Nhìn sự hồi xuân của tôn giáo tại vùng đông nam Á châu này, người ta cũng hồi tưởng lại vào thế kỷ thứ 19 đã có nhiều phản ứng chống lại Thiên chúa giáo một cách dữ dội mà tiêu biểu là trong dụ cấm đạo của vua Tự Đức đã cho „Đạo“ đây là đạo của phương Tây. „Đạo này cấm đoán việc thờ phật, ông bà, thánh thần, ma quỷ. Vì vậy đạo công giáo từ phương tây là sai lầm, làm hại đến linh hồn con người và phá vỡ mọi truyền thống dân tộc“.

Có một thứ mà dưới ánh mắt một người phương Tây khó tiêu hóa nổi là những thứ biểu hiện niềm tin tôn giáo như ảnh các thánh, chuỗi hạt, thánh giá… mang phong cách ấu trĩ. Chỗ nào người ta cũng thấy đầy những tượng màu sắc lòe loẹt, kể cả trong nhà thờ. Tôi và người bạn Việt đi chung, anh ta cũng từ Đức sang, cùng đồng ý với nhau là những thứ này quả tình không hợp nhãn chúng tôi, nhưng phải tôn trọng thôi. Dẫu sao Giáo hội đang sống tại Việt Nam, niềm tin của họ chính là sức mạnh vô song.  


(chuyển dịch ThànhLQ)

nguồn:http://viettudomunich.blogspot.de/2015/02/mua-xuan-ton-giao-tai-viet-nam-rupert.html