2/6/15

Điều thật, điều bịa và Biển Đông

 Điều thật, điều bịa và Biển Đông


Cái nhìn rạch ròi của một chuyên gia và tác giả nổi tiếng về yêu sách biển của Trung Quốc 
Chỉ trong vài tuần nữa, các thẩm phán quốc tế sẽ bắt đầu xem xét tính hợp pháp của yêu sách ‘đường chữ U’ của Trung Quốc (Trung Quốc) ở Biển Đông. Nơi diễn ra sẽ là Toà Trọng Tài Thường Trực tại The Hague và bước đầu tiên của tòa - trong thời gian nghị án vào tháng 7 - sẽ là xét xem liệu ngay cả toà [có quyền] xem xét vụ kiện này hay không. 
Điều Trung Quốc hi vọng lớn nhất là các thẩm phán sẽ phán quyết chính họ không có thẩm quyền bởi vì nếu không, và vụ kiện của Philippines tiến tới, rất có khả năng Trung Quốc sẽ bị bẽ mặt rất lớn.
Philippines muốn Tòa phán quyết rằng, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Trung Quốc chỉ có thể yêu sách chủ quyền và quyền đối với tài nguyên cách lãnh thổ đất liền một khoảng cách nhất định trong biển này. Nếu tòa đồng ý thì điều đó sẽ có tác dụng thu hẹp ‘đường chữ U’ to rộng đó thành một vài vòng tròn có đường kính không quá 24 hải lý (khoảng 50km). 
Trung Quốc không chính thức tham gia vào vụ kiện, nhưng họ đã đưa ra các tranh luận gián tiếp, đặc biệt là qua ‘văn bản về lập trường’ mà họ công bố cuối tháng 12. Văn bản này lập luận rằng khi chưa có phán quyết của một tòa án khác cho tất cả các yêu sách lãnh thổ cạnh tranh đối với các đảo, đá và rạn san hô khác nhau thì tòa này không nên xét xử vụ kiện của Philippines. Đây là vấn đề mà các thẩm phán sẽ phải xem xét trước tiên. 
Chiến lược của Trung Quốc trong ‘cuộc chiến pháp lý’ trên Biển Đông là tung ra các lập luận lịch sử để đánh tạt đi các lập luận dựa trên UNCLOS. Trung Quốc ngày càng có vẻ coi UNCLOS không phải là một phương tiện trung tính trong việc giải quyết các tranh chấp mà là một vũ khí phe phái do các nuớc khác nắm lấy để từ chối các quyền tự nhiên của Trung Quốc. 
Nhưng có một vấn đề lớn đối với Trung Quốc trong việc sử dụng lập luận lịch sử. Hầu như họ không có bất kỳ bằng chứng nào. 
Đây không phải là ấn tượng mà người đọc bình thường thu được khi đọc hầu hết các bài báo hoặc các báo cáo của các nhóm chuyên gia (think-tank) viết về tranh chấp Biển Đông trong những năm gần đây. Đó là vì hầu như tất cả các bài báo và báo cáo này đều có căn cứ lịch sử dưa trên một số lượng rất nhỏ các bài viết và sách. Đáng lo ngại là việc kiểm tra chi tiết những công trình này gợi ra rằng họ sử dụng các căn cứ không đáng tin cậy để từ đó viết ra những chuyện lịch sử [đuợc cho là] đáng tin cậy. 
Đây là một trở ngại đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp vì việc Trung Quốc đọc nhầm các bằng chứng lịch sử là yếu tố gây bất ổn lớn nhất trong đợt căng thẳng hiện nay. Sau nhiều thập niên giáo dục sai, người dân và lãnh đạo Trung Quốc dường như tin rằng Trung Quốc là chủ sở hữu hợp lẽ tất cả các thể địa lý trong biển này - và có thể tất cả các vùng biển ở giữa. Quan điểm này đơn giản là không được các bằng chứng từ thế kỷ 20 hậu thuẫn.
Ai kiểm soát quá khứ sẽ kiểm soát tương lai
Vấn đề đối với khu vực này là việc giáo dục sai không chỉ giới hạn ở Trung Quốc. Bằng chứng không đáng tin cậy che phủ diễn ngôn quốc tế về tranh chấp Biển Đông. Nó đang bẽ lệch các đánh giá về tranh chấp này ở cấp cao trong chính phủ - cả ở Đông Nam Á lẫn ở Hoa Kỳ. Tôi sẽ sử dụng ba tài liệu công bố gần đây để minh họa cho quan điểm của mình: hai bài ‘Bình Luận’ năm 2014 của Trường Nghiên Cứu Quốc Tế Rajaratnam ở Singapore do học giả Trung Quốc Li Dexia (Lý Đức Hà) và một người Singapore tên Tan Keng Ta viết[1], một bài thuyết trình năm 2015 của cựu Phó Đại sứ Mỹ tạiTrung Quốc Charles Freeman tại Đại học Brown[2] và một bài báo năm 2014 của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân có trụ sở tại Hoa Kỳ.[3]
Điểm nổi bật về những công trình gần đây này - và chúng chỉ là một các mẫu của một luồng văn bản rộng lớn hơn nhiều - là chúng tin vào các tài liệu lịch sử công bố nhiều năm trước đây: một số lượng nhỏ các bài viết được công bố trong thập niên 1970, đáng chú ý là tài liệu của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park;[4] cuốn sách Contest for the South China Sea của Marwyn Samuels năm 1982;[5] cuốn sách China’s Ocean Frontier[6] của Greg Austin năm 1998 và hai bài báo của Jianmeng Shen [申建明 (Thân Kiến Minh)] công bố năm 1997[7] và 2002.[8]
Các tài liệu này đã tới chỗ thành ‘kiến thức phổ thông’ (conventional wisdom) về các tranh chấp [ở Biển Đông]. Google Scholar tính ra rằng tài liệu của Chiu và Park được 73 công trình khác trích dẫn, và sách của Samuels đuợc 143. Những công trình có trích dẫn các tác giả này gồm một của Brian Murphy năm 1994[9] và những công trình của Jianming Shen năm 1997 và 2002 - rồi tới phiên chúng lại được trích dẫn tương ứng bởi 34 và 35 công trình khác và bởi Chi-kin Lo mà cuốn sách của ông lại được 111 công trình khác nữa trích dẫn.[10] Đối với hầu hết các diễn giải lịch sử, Lo dựa vào Samuels một cách rõ rệt, thực sự ca ngợi ông vì “xử lý tỉ mỉ cácdữ liệu lịch sử” (p.16). Đô Đốc (hưu) Michael McDevitt khi viết lời mở đầu cho bài viết của CNA, lưu ý rằng quyển Contest for the South China “ vẫn đứng rất vững cho tới khoảng 40 năm nữa.” 
Những công trình này là những nỗ lực đầu tiên giảng giải lịch sử của các tranh chấp cho người xem nói Tiếng Anh. Chúng có một số đặc điểm chung: 
● Chúng được viết bởi các chuyên gia về luật quốc tế hay khoa học chính trị chứ không phải là nhà sử học về biển của khu vực này. 
● Chúng thường thiếu các tham khảo từ nguồn tài liệu gốc (primary source material). 
● Chúng có xu hướng dựa vào các nguồn trên báo chí Trung Quốc mà các nguồn này lại không đưa ra nguồn ttham khảo nào từ các bằng chứng ban đầu hoặc từ các công trình có tham khảo các nguồn này. 
● Chúng có xu hướng trích dẫn các bài báo nhiều năm sau đó như là bằng chứng có thật. 
● Chúng thường thiếu thông tin bối cảnh lịch sử. 
● Chúng được viết bởi tác giả có các quan hệ mạnh mẽ với Trung Quốc.
Các công trình ban đầu về tranh chấp
Việc viết về các tranh chấp ở Biển Đông bằng tiếng Anh nổi lên như hậu quả trực tiếp của ‘Trận đánh ở quần đảo Hoàng Sa’ vào tháng 1 năm 1974, khi quân đội Trung Quốc đuổi quân đội Việt Nam Cộng Hòa (‘Nam Việt Nam’) ra khỏi nửa phía Tây của quần đảo này.
Các phân tích đầu tiên mang tính báo chí, trong đó có một bài của Cheng Huan, lúc đó là một sinh viên luật người Malaysia gốc Hoa ở London mà bây giờ là một khuôn mặt pháp lý cao cấp tại Hong Kong, trong ấn bản tháng sau đó của Far Eastern Economic Review (Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông).[11] Trong bài đó, ông phát biểu rằng, “yêu sách lịch sử của Trung Quốc [đối với quần đảo Hoàng Sa] rất vững chải về mặt tài liệu ghi chép (well documented) và đi ngược về quá khứ xa xưa rất nhiều năm, rằng sẽ gần như bất khả để bất kỳ nước nào khác đưa ra một phản yêu sách có ý nghĩa.” Lời thẩm định của một sinh viên còn non choẹt đã được chuẩn nhận trích dẫn trong cuốn sách ‘China’s Policy Towards Territorial Dispute’ của Chi-Kin Lo xuất bản năm 1989.[12]
Các công trình có tính học thuật đầu tiên xuất hiện năm sau đó. Chúng gồm một bài viết của Tao Cheng cho Tạp Chí Luật Quốc Tế Texas[13] và một bài khác của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cho Ocean Development & International Law.[14] Năm sau, Viện Nghiên Cứu Châu Á tại Hamburg xuất bản một chuyên khảo của học giả Đức Dieter Heinzig có tựa là ‘Disputed islands in the South China Sea’ (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông).[15] Đây là những bài viết mở đuờng nhưng nội dung - và do đó phân tích của chúng- còn xa mới có tính trung lập. 
Bài của Cheng chủ yếu dựa vào nguồn của Trung Quốc với các thông tin bổ sung từ báo chí Mĩ. Các nguồn chính của Trung Quốc là các tạp chí thương mại hồi thập niên 1930, đáng chú ý là các số của tạp chí Wai Jiao Ping Lun [外交评论 (Ngoại Giao Bình Luận)] ở Thượng Hải năm 1933 và năm 1934 và Xin Ya Xiya yue kan [新亚细亚月刊 (Tân Á Tế Á Nguyệt San: Nguyệt san Châu Á mới)] năm 1935. Các nguồn này được bổ sung bằng các tài liệu từ tạp chí tin tức hàng tháng Ming Pao [明报 (Minh Báo)] ở Hong Kong năm 1973 và năm 1974. Các báo khác được trích dẫn bao gồm Kuo Wen Chou Pao [国文周报 (Quốc Văn Chu Báo: Tuần Báo Quốc Văn)], xuất bản tại Thượng Hải từ năm 1924 đến 1937, Renmin Ribao [Nhân Dân Nhật Báo] và New York Times. Cheng không tham khảo bất kỳ nguồn nào của Pháp, Việt Nam hoặc Philippines, ngoại trừ một bài báo từ La Geographie (Địa Lí) năm 1933 đã được dịch và in lại trong Wai Jiao Ping Lun. 
Bài báo của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cũng dựa trên các nguồn tương tự. Trong những phần cốt lõi, bài viết trích dẫn bằng chứng dựa trên các bài báo được xuất bản vào năm 1933 trong Wai Jiao Ping Lun[16] và Wai Jiao Yue Bao [外交月报 (Ngoại Giao Nguyệt Báo)][17], và Fan-chih Yueh-k'an [方志月刊 (Phuơng Chí Nguyệt San)] năm 1934[18] cũng như Kuo-wen Chou Pao (Quốc Văn Chu Báo) năm 1933 và Wai-Chiao-pu kung-pao [外教部公宝:(Ngoại Giao Bộ Công Báo: Công báo Bộ Ngoại Giao)] của chính phủ Trung Quốc.[19] Nó bổ sung thông tin này với các tài liệu thu thập được từ quyển Nan-hai chu-tao ti-li chih lūeh [南海诸岛地理志略 (Nam Hải chư đảo địa lý chí lược)] của Cheng Tzu-Yueh [郑资约 (Trịnh Tư Ước)] xuất bản năm 1948 ở Thượng Hải,[20] và các tuyên bố của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) từ năm 1956[21] đến 1974.[22]
Chiu và Park có sử dụng một số tài liệu tham khảo của Việ Nam, đặc biệt là 8 thông cáo báo chí hay các bảng kê sự kiện do Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington đưa ra. Họ cũng tham khảo một số “tài liệu chưa được công bố thuộc sở hữu của hai tác giả.” Tuy nhiên, phần lớn nguồn của họ là từ báo chí Trung Quốc. 
Viết một năm sau đó, Dieter Heinzig dựa vào, đặc biệt là các ấn bản của hai tạp chí Hong Kong Ch'i-shih nien-tai [七十年代 (Thất thập niên đại)] và Ming Pao [明报 (Minh Báo)][23] xuất bản lần lượt vào tháng 3 và tháng 5 năm 1974. 
Điều quan trọng là tất cả những bài viết nền tảng này đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo cơ bản cho các bài báo Trung Quốc xuất hiện trên truyền thông vào những thời điểm khi thảo luận về Biển Đông đã bị chính trị hóa cao độ. Năm 1933 là năm mà Pháp chính thức sáp nhập các thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa - kích động sự giận dữ lan rộng ở Trung Quốc, 1956 là năm mà doanh nhân Tomas Cloma của Philippines tuyên bố hầu hết quần đảo Trường Sa là quốc gia độc lập "Freedomland" của chính mình - kích động các phản yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc, Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa; và 1974 là năm có trận đánh Hoàng Sa. 
Các bài báo được công bố trong ba thời kỳ này thì không thể được xem là các nguồn trung lập và vô tư về bằng chứng thực tế mà cần phải được xem là những tài liệu phe phái ủng hộ các quan điểm quốc gia cụ thể. Điều này không có ý nói rằng các tài liệu đó sẽ tự động không chính xác mà cần phải thận trọng kiểm chứng những điều chúng khẳng định với các nguồn tài liệu gốc. Đây không phải là điều mà các tác giả đã làm. 
Khuôn mẫu do Cheng, Chiu và Park và Heinzig thiết lập sau đó đã được lặp lại trong cuốn sách Contest for the South China Sea của Marwyn Samuels.[24] Chính Samuels tự thừa nhận sự thiên vị Trung Quốc trong các nguồn của ông trong Lời Mở Đầu của cuốn sách, khi ông nói “đây không phải là một nghiên cứu chủ yếu về lịch sử trên biển, chính sách đại dương hoặc lợi ích của Việt Nam hay Philippines ở Biển Đông. Thay vào đó, ngay cả khi với các yêu sách và phản yêu sách khác nhau được bàn luận khá dài, mối quan tâm cuối cùng ở đây là với tính chất thay đổi trong chính sách đại dương của Trung Quốc.” Kết hợp các vấn đề lại, Samuels thừa nhận rằng nghiên cứu Châu Á của ông chủ yếu trong kho lưu trữ của Đài Loan. Tuy nhiên, các hồ sơ chính yếu liên quan đến hành động của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông trong đầu thế kỷ 20 chỉ được giải mật năm 2008/9, sau khi công trình của ông được công bố khá lâu.[25]
Có một sự bùng nổ về việc viết lịch sử vào cuối thập niên 1990. Nhà địa lý Daniel Dzurek, cưu nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sau trở thành nhà tư vấn trong lĩnh vực dầu khí đã viết một bài báo cho Đơn vị nghiên cứu các ranh giới quốc tế của Đại học Durham vào năm 1996 và cuốn sách của một nhà phân tích Úc Greg Austin xuất bản vào năm 1998. Phần lịch sử của Austin tham khảo sách của Samuels, các bài viết của Chiu và Park, tài liệu có tên ‘Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa’ do Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố tháng 1 năm 1980[26] và một bài viết của Lin Jinzhi (Lâm Kim Chi) trên tờ Nhân Dân.[27] Cuốn sách của Dzurek cũng tương tự. 
Người đóng góp quan trọng kế tiếp cho cách tường thuật này là một giáo sư luật Mỹ gốc Hoa, Jianming Shen thuộc Trường Luật Đại học St. John ở New York. Năm 1997, ông công bố một bài viết then chốt trong Hastings International and Comparative Law Review. Giống như Tạp Chí Luật quốc tế Texas, Tạp Chí này là một ấn phẩm do sinh viên biên tập. Hầu như không cần phải nói rằng ban biên tập gồm các sinh viên khó có thể là cơ quan tốt nhất để giám sát các công trình về lịch sử biển Châu Á. Tiếp sau bài viết này, Shen có một bài thứ hai trong một tạp chí có uy tín hơn, the Chinese Journal of International Law - mặc dù trong nhiều mục nó chỉ đơn giản là tham khảo bài viết thứ nhất. 
Hai bài viết của Shen đặc biệt có ảnh hưởng - chẳng hạn bài của CNA 2014 dẫn ít nhất là 170 lần hai bài này. Tuy nhiên, khi kiểm tra lại nguồn thì thấy rõ hai bài này cũng đáng nghi như các bài có trước. Các mục về lịch sử nhằm cung cấp các bằng chứng cho bài năm 1997 của ông dựa phần lớn vào hai nguồn. Một là một cuốn sách của Duanmu Zheng [端木正 (Đoan Mộc Chính)] có tên Guoji Fa [Quốc Tế Pháp (Luật quốc tế)] do nhà xuất bản Đại Học Bắc Kinh xuất bản năm 1989 (đuợc tham chiếu ít nhất 18 lần).[28] Năm sau Duanmu chính thức trở thành quan chức pháp luật đứng thứ hai ở Trung Quốc - Phó Chánh Án Toà án Nhân dân Tối cao của Trung Quốc - và sau đó là một trong những người dự thảo Luật Cơ bản của Hong Kong.[29] Nói cách khác, ông là một quan chức cấp cao của nhà nước Trung Quốc. Nguồn sử liệu chính khác của Shen là một tập hợp các bài từ một hội nghị chuyên đề về các đảo ở Biển Đông do Viện Chiến lược Phát triển Biển, một bộ phận của Cục Hải Dương Quốc Gia Trung Quốc, tổ chức năm 1992 (đuợc tham chiếu dẫn ít nhất 11 lần). Có vẻ còn hơn là trớ trêu rằng tài liệu do Cục Quản Lý Hải dương Quốc Gia làm ra và tiếp đó được các cơ quan pháp lý của Trung Quốc xào nấu thông qua các tác phẩm của giáo sư Shen và của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân lúc đó mà bây giờ lại trở thành một thành phần trong hiểu biết của Lầu Năm Góc về lịch sử Biển Đông. 
Không ai trong số các tác giả được nói tới cho đến giờ là chuyên gia về lịch sử biển ở Biển Đông mà là nhà khoa học chính trị (Cheng và Samuels), luật sư (Chiu và Park và Shen) hoặc chuyên gia quan hệ quốc tế (Heinzig và Austin). Như một quy luật, các công trình của họ không kiểm tra tính toàn vẹn của các lời văn mà họ trích dẫn, và họ cũng không bàn luận về bối cảnh mà chúng được tạo ra. Đặc biệt Cheng cùng với Chiu và Park lại đưa vào các khái niệm lỗi thời - chẳng hạn như ‘đất nước’ (country) để mô tả quan hệ tiền hiện đại giữa các thực thể chính trị xung quanh Biển Đông - cho những giai đoạn mà các quan hệ chính trị rất khác biệt với các quan hệ đang có hiện nay. 
Cũng đáng chú ý là Cheng, Chiu và Shen đều là người gốc Hoa. Cheng và Shen đều tốt nghiệp LLB (Cử Nhân Luật) tại Đại học Bắc Kinh. Chiu tốt nghiệp Đại học Quốc gia Đài Loan. Dù điều này tất nhiên không tự động làm cho họ thành thiên vị, nhưng sẽ hợp lý để cho rằng họ quen thuộc với các tài liệu của Trung Quốc và các quan điểm của Trung Quốc nhiều hơn. Cả Samuels lẫn Heinzig đều là những học giả về Trung Quốc.
Bằng chứng có lổ hổng
Hầu như không đáng ngạc nhiên rằng những tài liệu bằng tiếng Anh đầu tiên về tranh chấp [Biển Đông], được viết như thể chúng do các tác giả Trung Quốc viết và dựa trên các nguồn của Trung Quốc, ủng hộ lập luận của Trung Quốc. Cheng đánh giá (p. 277) rằng “có lẽ an toàn để nói rằng vị thế của Trung Quốc trong tranh chấp các đảo ở Biển Đông là một ‘yêu sách vượt trội hơn cả’.” Chiu và Park (p.20) kết luận rằng “Trung Quốc có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Spratlies [sic]) mạnh mẽ hơn Việt Nam.” Có thể thấy rõ quan điểm của Shen qua tựa hai bài báo của ông ta: ‘Các quy tắc của luật quốc tế và bằng chứng lịch sử hậu thuẫn quyền sở hữu của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông’ và ‘Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông.’ 
Những lời phán này vẫn còn có ảnh hưởng tới ngày nay: chẳng hạn chúng đã được các bài viết của Li và Tan năm 2014 trích dẫn. Tuy nhiên, khi xem xét cặn kẽ hơn các bằng chứng mà họ dựa vào thì sẽ thấy chúng sai lầm trầm trọng. Những bài viết vào năm 1933, 1956 và 1974 không nên được coi là bằng chứng trung lập mà là các bài đọc có tính phe phái về lịch sử tranh chấp. 
Bài viết này không có chỗ để nêu lên tất cả những khẳng định mà các tác giả đã đưa ra về các sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, các điều Cheng, Chiu và Park, Samuels và Shen đưa ra đều có cùng giả định chung: đó là Trung Quốc luôn luôn chiếm ưu thế hải quân, thương mại và khả năng đánh cá ở Biển Đông. Chẳng hạn như Cheng đã nêu như thế này, “Nó là một phần quan trọng của tuyến đường biển từ Châu Âu đến Phương Đông kể từ thế kỷ thứ 16, là nơi trú ẩn cho ngư dân Đảo Hải Nam, và là cửa ngõ cho các thương gia Trung Quốc từ miền Nam Trung Quốc đến Đông Nam Á kể thời xa xưa”(p.266). 
Lịch sử dựa vào thực tiễn Biển Đông nhiều hơn gợi cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều. Các công trình của các nhà sử học Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade đã cho thấy việc sử dụng biển trong thời tiền hiện đại đa phương hơn rất nhiều. Tàu thuyền và các thương nhân Trung Quốc hầu như không có vai trò trong giao thương đường biển cho mãi đến thế kỷ thứ 10 và thậm chí sau đó cũng chưa bao giờ chiếm ưu thế mà sử dụng biển chung với người Malaysia, Ấn Độ, Ả Rập và Châu Âu. Nghiên cứu của François-Xavier Bonnet,[30] Ulises Granados[31] và Stein Tønnesson[32] cho thấy mô thức tương tự đã kéo dài vào thế kỷ 20 như thế nào. 
Nhiều tài liệu tiết lộ hồi đầu thế kỷ 20 cho thấy rằng nhà nước Trung Quốc gặp khó khăn rất lớn trong việc kiểm soát ngay cả bờ biển của chính mình, và hoàn toàn khôngcó khả năng triển khai thẩm quyền tới các đảo cách xa hàng trăm cây số ngoài khơi. Ví dụ, hai bài báo trên The Times ở London tháng 1 năm 1908 mô tả sự bất lực của chính quyền Trung Quốc trong việc kiểm soát ‘cướp biển’ ở sông TâyGiang - trong nội địa ở Canton / Quảng Châu.[33] Một bài báo trên tờ The Examiner của Australia năm 1909 cho chúng ta biết rằng người nước ngoài (“hai người Đức, một người Nhật, và một số người Malaysia”) đã bắt đầu các hoạt động khai mỏ trên đảo Hải Nam mà không có cơ quan chức năng nào phát hiện cho đến mãi sau này[34]
Điều mà các tài liệu này bộc lộ là một Biển Đông cho đến giữa thế kỷ 20 cơ bản vẫn không ai cai quản trừ các can thiệp khi cần của các cường quốc nước ngoài để chống cướp biển. Chỉ trong năm 1909, sau vụ ôm sồm xung quanh việc nhà khai thác phân chim Nhật Nishizawa Yoshiji chiếm đảo Pratas [Trung Quốc gọi là Đông Sa] thì nhà chức trách Trung Quốc mới trở nên quan tâm đến các đảo ngoài khơi.[35]
Việc phản đối các cuộc khảo sát của Đức 
Tuy nhiên, Samuels (p. 52) cho rằng có thể xem Trung Quốc đã ngầm yêu sách quần đảo Trường Sa từ năm 1883 khi (theo trình bày của ông) chính phủ nhà Thanh chính thức phản đối đoàn khảo sát (có nhà nước bảo trợ) Đức tới quần đảo Trường Sa. Khẳng định này lấy nguồn từ số tháng 5 năm 1974 của tạp chí tháng Ming Pao của Hong Kong mà không có bằng chứng bổ trợ nào khác. Chiu và Park (trong chú thích 47) quy nó về một bài báo trong Wai Jiao Yue Bao năm 1933, tức viết ra sau sự kiện đang nghi vấn này những 50 năm,[36] Heinzig cũng trích dẫn cùng số Ming Pao mà Samuels dựa vào để nói rằng đoàn khảo sát Đức năm 1883 thực sự đã rút đi sau khi có phản đối của Trung Quốc. 
Điều khẳng định này có vẻ rất khó xảy ra bởi vì các nhà khảo sát Đức đã lập bản đồ quần đảo Hoàng Sa (không phải Trường Sa) từ năm 1881 đến năm 1883, hoàn tất công việc và sau đó đã xuất bản một hải đồ. Ấn bản tiếng Pháp của hải đồ đó được xuất bản năm 1885.[37]
Công ước Pháp-Thanh [Sino-Tonkin] 1887
Samuels lập luận rằng công ước Pháp -Thanh 1887 do chính phủ Pháp đàm phán, trên danh nghĩa là thay mặt cho cho Bắc Kỳ [Tonkin], cho ra một thỏa thuận quốc tế phân các đảo này [Hoàng Sa và Trường Sa] cho Trung Quốc (p. 52). Điều 3 của Công ước quả thực có phân các đảo phía Đông kinh tuyến Paris 105° 43' cho Trung Quốc. Nhưng Samuels và các tác giả khác không để ý rằng Công Ước này áp dụng cho Bắc Bộ - khu vực phía Bắc của vùng đất bây giờ là Việt Nam và do đó chỉ có thể liên quan đến các đảo trong Vịnh Bắc Bộ. Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm lệch xa về phía Nam trong khu vực mà lúc đó là lãnh địa của An Nam (Trung Kỳ) và Nam Kì không thuộc phạm vi của Công Ước.
Bí ẩn của chuyến đi năm 1902
Ngoài ra còn xuất hiện một số nhầm lẫn về thời gian của chuyến đi đầu tiên của các quan chức Trung Quốc tới quần đảo Hoàng Sa. Samuels (p. 53), tin vào của bài viết trên Ming Pao năm 1974, cho chuyến đi đó là vào năm 1902 với chuyến đi thứ hai vào năm 1908. Austin và Dzurek viết theo Samuels trong sự việc này. Li và Tan (2014) cũng khẳng định là năm 1902, cùng với một chuyến đi riêng biệt khác vào năm 1907. Cheng cho nó là vào năm 1907, dựa trên một số tài liệu tham khảo năm 1933[38] như Chiu và Park đã làm, hai tác giả này dẫn một ấn bản năm 1933 của Kuo-wen chou -pao.[39] Tuy nhiên, trái ngược với các tường thuật này, được viết sau cái cho là các sự kiện mà họ định mô tả tới 26 và 72 năm, việc khảo sát báo chí cùng thời đó cho thấy khá rõ rằng các chuyến đi diễn ra vào năm 1909. 
Có lý do chính đáng cho sự nhầm lẫn về chuyến đi năm 1902 này. Vào tháng 6 năm 1937, trưởng khu hành chính số 9 của Trung Quốc, Huang Qiang đã được phái đến quần đảo Hoàng Sa thực hiện một nhiệm vụ bí mật - một phần là để kiểm tra xem có hoạt động của người Nhật trên các đảo hay không. 
Nhưng ông cũng có một nhiệm vụ khác - mà một phụ lục bí mật kèm báo cáo của ông cho thấy rõ. Một đoạn trích của phụ lục này đã được Ủy ban Địa Danh Tỉnh Quảng Đông in lại vào năm 1987.[40] Tàu của ông chở theo 30 cột mốc (marker) bằng đá - một số ghi năm 1902, một số ghi năm 1912 và một số khác ghi năm 1921. Trên Cồn Bắc, họ chôn 2 cột ghi năm 1902 và 4 cột ghi năm 1912; trên Đảo Linh Côn (Lincoln), toán công tác chôn 1 cột ghi năm 1902, 1 cột ghi năm 1912 và 1 cột ghi năm 1921 và trên đảo Phú Lâm, 2 cột ghi năm 1921. Cuối cùng, trên Đảo Đá (Rocky), họ chôn 1 cột mốc duy nhất ghi năm 1912. 
Các cột mốc này bị quên lãng cho mãi đến năm 1974 khi mà, sau trận đánh Hoàng Sa, chúng được tìm thấy và ‘khám phá’ này được làm ầm ĩ trên báo chí Hồng Kông - như Ming Pao. Chuyến đi năm 1902 không hề tồn tại này sau đó lại đi vào sử sách. Chỉ tới bây giờ nó mới bị nhà địa lý học người Pháp làm việc ở Manila Francois-Xavier Bonnet vạch trần.[41]
Tên các đảo
Trong bài viết năm 1997, Shen khẳng định Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ‘thẩm tra lại tên các đảo ở biển Nam Trung Quốc’ năm 1932. Trên thực tế ủy ban chính phủ đó chỉ đơn giản dịch hay phiên âm tên Tiếng Anh hoặc tên quốc tế hiện có. Kết quả là một số trong những cái tênTiếng Trung tiếp tục vinh danh các nhà khảo sát Anh vốn lập bản đồ các thể địa lý này lần đầu tiên. Trong quần đảo Hoàng Sa có Ling yang Jiao [Linh Dương Tiêu] - dịch từ Antelope Reef (Đá Hải Sâm) - vốn được đặt tên theo một tàu khảo sát Antelope của Anh. Jin Yin Dao [Kim Ngân Đảo] - Money Island (Đảo Quang Ảnh) - không phải được đặt tên theo tiền và bạc - mà theo tên tổng giám sát William Taylor Money của Bombay Marine - đoàn tàu của Công ti Đông Ấn.
Phản đối ngoại giao năm 1933?
Một lập luận vốn là chìa khóa cho yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa là việc khẳng định thường được lặp đi lặp lại rằng Trung Hoa Dân Quốc đã chính thức phản đối Chính Phủ Pháp sau khi nước này chính thức sáp nhập một số thể địa lý trong quần đảo Trường Sa vào ngày 26 tháng 7 năm 1933. Điều chắc chắn đúng là sự sáp nhập gây kinh ngạc trong chính phủ và nỗi tức giận dân tộc chủ nghĩa trong công chúng. Tuy nhiên, có chăng một phản đối chinh thức đã được đưa ra? 
Tao Cheng, trong bài báo năm 1975, dẫn một bài viết trong Xin Ya Ya Xi Yue Kan [Hsin-ya-hsi-ya Yueh kan (Tân Á Tế Á Nguyệt San)], ra hai năm sau đó, năm 1935.[42] Chiu và Park nêu trong một chú thích rằng “có bằng chứng rằng Trung Quốc cũng phản đối.” Họ tham khảo bài viết của Cho Min trong Wai-Chiao Yueh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo],[43] và một cuốn sách Nan-hai-chu tao ti-li chih- lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] năm 1948 của Cheng Tzu-Yueh.[44]
Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng “Ngày Trung Quốc đưa ra phản đối không có nêu trong cuốn sách của Cheng, và cũng không được nói tới trong ‘Bản ghi nhớ về bốn quần đảo lớn của nước Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông’ do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc công bố vào tháng 2 năm 1974. Xem Lien-ho-pao [联合报 (Liên Hiệp Báo)], ấn bản nước ngoài, 25 tháng 2 năm 1974, p. 3.” 
Điều khẳng định này xuất hiện trong bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman và trong bài của CNA - bài này trích dẫn Shen. Trong bài báo năm 1997, Shen trích dẫn hai nguồn: Cheng, và Chiu và Park - nhưng như chúng ta đã thấy - các tác giả này không nêu ra bất kỳ tài liệu tham khảo nào cho khẳng định của mình. Trong bài báo năm 2002, Shen dẫn các bài viết của hội nghị chuyên đề của Cục Hải Dương Quốc Gia.[45] Những bài viết này không tìm thấy bên ngoài Trung Quốc, nhưng có bằng chứng tốt rằng tất cả các công trình này đều chỉ đơn giản là sai. 
Francois-Xavier Bonnet đã tìm được hồ sơ của Mỹ cho thấy rằng ngay sau công bố của Pháp chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu viên lãnh sự ở Manila, ông Kuan-ling Kwong đến hỏi chính quyền thực dân Mỹ về bản đồ có vẽ vị trí của các đảo đó. Chỉ sau đó chính phủ ở Nam Kinh mới hiểu được rằng những đảo này không thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó đã quyết định không đưa ra bất kỳ phản đối chính thức nào.[46]
Theo Bonnet, nguyên do của việc này có thể thấy rõ từ biên bản của cuộc họp của Hội đồng quân sự Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 1 tháng 9 năm 1933, “Tất cả các nhà địa lý chuyên nghiệp của chúng ta nói rằng Đảo Tri Tôn [thuộc Hoàng Sa] là đảo cực nam của lãnh thổ của chúng ta.”[47] Trung Hoa Dân Quốc quyết định rằng họ không có yêu sách trong quần đảo Trường Sa vào thời điểm đó và do đó không có gì để phản đối. 
Nghiên cứu của Chris Chung, một nghiên cứu sinh người Canada, đã phát hiện ra rằng cho tới năm 1946, các hồ sơ của Trung Hoa Dân Quốc đã dẫn chứng việc Trung Quốc phản đối chính thức vào năm 1933 như thể nó là có thật. Điều này sau đó đã trở thành cách biện minh của Trung Quốc cho việc ‘đòi lại’ những đảo này từ tay Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai.[48]
Tóm lại, những gì có vẻ như đã xảy ra là hơn 13 năm sau khi Pháp sáp nhập các đảo, một hiểu biết khác biệt về những gì đã xảy ra vào năm 1933 đã bám cứng trong giới cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc. Theo tôi đoán, các quan chức Trung Quốc nhầm lẫn một phản kháng có thật năm 1932 về hoạt động của Pháp ở quần đảo Hoàng Sa với một phản kháng năm 1933 không hề tồn tại về quần đảo Trường Sa.
Các cuộc khảo sát trong thập niên 1930
Trong bài báo năm 2002, Shen cho rằng Trung Hoa Dân Quốc, “đã tổ chức ba đợt khảo sát quy mô lớn cùng các hoạt động đặt tên lại tương ứng vào năm 1932, 1935 và 1947” (p.107) nhưng không có công việc khảo sát nào đã được thực hiện ở quần đảo Trường Sa mà chỉ là việc sao chép lại bản đồ quốc tế. Điều này có vẻ là lý do tại sao Trung Hoa Dân Quốc đã dịch sai tên của James Shoal [Bãi Ngầm James] - ban đầu gọi nó Zengmu Tan [曾母滩Tăng Mẫu Than)]. Zeng-mu chỉ đơn giản là phiên âm của từ James. Tan [滩 (than)] có nghĩa là bãi cát, trong khi thực tế thì ‘shoal’ là bãi ngầm. Qua việc dịch sai đơn giản này một mảnh đáy biển đã trở thành một đảo và được coi là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc cho đến tận hôm nay - dù nó không tồn tại! Những cái tên đó đã được Trung Hoa Dân Quốc sửa đổi lại năm 1947 (lúc đó Zengmu Tan trở thành Zengmu Ansha - [暗沙 (ám sa: rạn san hô ngầm)]) và Trung Quốc chỉnh lại một lần nữa năm 1983.[49]
Tuyên bố Cairo
Shen (2002 p. 139), và Li và Tan (2014 ) lập luận theo đúng Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng theo Tuyên bố Cairo 1943, các đồng minh thời chiến đã trao các đảo ở Biển Đông cho Trung Quốc. Bài của CAN bàn luận về khẳng định này và rạch ròi bác bỏ nó trên cơ sở rằng,
"Tuyên bố Cairo, như được củng cố bởi Tuyên Ngôn Potsdam , chỉ quy định rằng Trung Quốc sẽ thu hồi lại Mãn Châu, Formosa [Đài Loan], và Pescadores [Quần đảo Bành Hồ] sau chiến tranh. Câu tiếp theo chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản sẽ bị trục xuất khỏi các ‘vùng lãnh thổ khác’ mà họ đã chiếm bằng bạo lực, nhưng không chỉ ra rằng những ‘vùng lãnh thổ khác’ đó sẽ được trả lại cho Trung Quốc. Dù không được nêu cụ thể, kết luận hợp lý duy nhất là những ‘vùng lãnh thổ khác’ bao gồm cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, vốn đã bị đoạt lấy bằng bạo lực từ tay Pháp chứ không phải từ tayTrung Quốc.” (p. 97) 
Tuy nhiên, Freeman (2015) lập luận rằng vì nhà chức trách Nhật Bản sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào tỉnh Đài Loan nên Tuyên bố Cairo trả chúng cùng với phần còn lại của ‘Tỉnh Đài Loan’ về cho Trung Quốc. Nhưng Tuyên bố không đề cập đến từ ‘Đài Loan.’ Nó nói về Formosa và Pescadores. Kết luận hợp lý là đồng minh chỉ đồng ý rằng hai quần đảo cụ thể này [Formosa và Pescadores] sẽ được trả lại cho Trung Quốc.
Nhật Bản đầu hàng ở quần đảo Hoàng Sa
Cả bài của CNA lẫn bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman đều chuyển tải khẳng định rằng quân đội Trung Quốc tiếp nhận sự đầu hàng của các đơn vị của Nhật Bản trú đóng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào cuối Thế Chiến thứ hai. Freeman lập luận rằng Hải Quân Mỹ thực sự đã chở lực lượng Trung Hoa tới hai quần đảo đó cho mục đích này. Trong trao đổi riêng với tác giả, ông đã không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng hổ trợ nào cho khẳng định đó. 
Dựa trên những bằng chứng từ kho lưu trữ của quân đội Mỹ và Úc, khẳng định đó khó có vẻ là sự thật. Trong chiến tranh, Nhật Bản đã có các căn cứ quân sự trên Đảo Hoàng Sa (Pattle) và Phú Lâm (Woody) thuộc quần đảo Hoàng Sa và Đảo Ba Bình (Itu-Aba) thuộc quần đảo Trường Sa. Đảo Phú Lâm bị tàu ngầm USS Pargo pháo kích ngày 6 tháng 2 năm 1945[50] và ngày 8 tháng 3 máy bay Mỹ ném bom đảo này cùng với Đảo Hoàng Sa.[51] Khi tàu ngầm USS Cabrilla ghé Đảo Phú Lâm vào ngày 2 tháng 7, cờ tam tài [ba màu] của Pháp còn đang treo, nhưng lúc đó cũng có với một lá cờ trắng [mặt trời] ở trên nó.[52]
Ba Bình đã bị máy bay Mỹ ném bom xăng ngày 1 tháng 5 năm 1945. Sáu tháng sau đó, Hải Quân Mỹ đã phái một toán trinh sát đến Ba Bình. Toán này đổ bộ lên đảo ngày 20 tháng 11 năm 1945 và nhận thấy đảo không người - người Nhật đã bỏ đi. 
Mãi cho đến hơn một năm sau đó - tháng 12 năm 1946 mới có một phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc dùng tàu chiến cũ của Mỹ (vừa được chuyển cho Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc) mới có thể đi tới được đảo này. (Hai tháng trước đó người Pháp đã đến và khẳng định lại chủ quyền đảo này nhưng điều này hiếm khi được đề cập trong các nguồn Trung Quốc.) Tên tiếng Trung của Ba Bình là Taiping Dao (Thái Bình Đảo), được đặt theo tên tàu chiến chở phái đoàn này. Tàu Taiping trước đây là tàu USS Decker. Điều trớ trêu là nếu như Hoa kỳ không cung cấp những tàu chiến đó thì Trung Quốc sẽ không có yêu sách nào trong quần đảo Trường Sa hiện nay.
Kết luận
Việc xem xét lại các bằng chứng kiểm chứng được cho thấy một lịch sử về các đảo ở Biển Đông khác biệt với lịch sử có trong hầu hết các tài liệu tham khảo thường được sử dụng. Nhà nước Trung Quốc chỉ bắt đầu quan tâm tới các đảo này từ thế kỷ 20. Chưa có bằng chứng nào về việc có viên chức nhà nước Trung Quốc đến quần đảo Hoàng Sa trước ngày 6 tháng 6 năm 1909 đã được đưa ra. Chỉ trong năm 1933 sự chú ý của quốc gia mới chuyển sang quần đảo Trường Sa - và tại thời điểm đó Trung Hoa Dân Quốc đã quyết định không cố yêu sách quần đảo này. Sự chú ý đã được hồi sinh ngay lập tức sau Thế Chiến thứ hai, dựa trên những hiểu lầm về những gì xảy ra vào năm 1933 và lần đầu tiên trong lịch sử một quan chức Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa vào ngày 12 tháng 12 năm 1946. 
Năm 1933, 1956, 1974 và hiện nay cũng vậy lịch sử về các đảo này được viết và viết lại. Trong mỗi cuộc khủng hoảng, những kẻ ủng hộ lập trường của Trung Quốc lại công bố những phiên bản mới của lịch sử vốn vẫn tái chế những sai lầm trước đó và đôi khi lại thêm vào trong đó nhiều sai lầm mới của chính họ. Khi mà các cách nhìn nhận này vượt qua rào cản ngôn ngữ nhảy sang tiếng Anh vào giữa thập niên 1970, nền móng lung lay của chúng lại có vẻ rắn chắc đối với những người mới tìm tòi lịch sử lần đầu. Chúng đã được in trên các tạp chí học thuật Phương Tây và ‘trở thành sự thật.’ Nhưng việc xem xét lại các nguồn của chúng làm lộ ra điểm yếu cố hữu của chúng. 
Không còn đủ thuận lợi cho những kẻ ủng hộ yêu sách của Trung Quốc dùng những bằng chứng vô căn cứ như vậy làm cơ sở cho lập luận của mình. Đã tới lúc cần thực hiện một một nỗ lực phối hợp để xem xét lại các nguồn thông tin gốc đối với phần lớn các khẳng định được các tác giả này đưa ra cũng như đánh giá lại độ chính xác của chúng. Việc giải quyết các tranh chấp phụ thuộc vào đó - cả trong phòng xử án ở The Hague lẫn trong các vùng nước của Biển Đông. 
Cựu phóng viên BBC Bill Hayton là tác giả của The South China Sea: the struggle for power in Asia,’ (Biển Đông: cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á), gọi là cuốn sách đầu tiên đưa ra ý nghĩa rõ ràng về các tranh chấp ở Biển Đông.
*
Chú thích:
(Các chú thích do chính tác giả gửi riêng cho người dịch)
[1] Li Dexia and Tan Keng Tat, South China Sea Disputes: China Has Evidence of Historical Claims. RSIS Commentary 165 dated 15 August 2014 Available at 
See also Li Dexia, Xisha (Paracel) Islands: Why China’s Sovereignty is ‘Indisputable’. RSIS Commentary 116 dated 20 June 2014. Available at 
[2] Charles Freeman, Diplomacy on the rocks. Remarks at a Seminar of the Watson Institute for International Studies, Brown University 10 April 2015. 
[3] Pete Pedrozo, China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea, Center for Naval Analyses, August 2014. Available at 
[4] Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands, Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28. 
[5] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea, Methuen New York, 1982. 
[6] Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development. Allen & Unwin, 1998 
[7] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997‐1998). 
[8] Jianming Shen, China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective, CHINESE JIL (2002), pp. 94‐157 
[9] Brian K. Murphy, Dangerous Ground: the Spratly Islands and International Law, Ocean and Coastal L.J. (1994), pp. 187–212 
[10] Chi-kin Lo, China's Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands. Routledge 1989 
[11] Cheng Huan, A matter of legality. Far Eastern Economic Review. February 1974 
[12] Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes. Routledge, London. 1989 
[13] Tao Cheng, Dispute over the South China Sea Islands, Texas International Law Journal 265 (1975) 
[14] Chiu & Park (1975) ibid 
[15] Dieter Heinzig. ‘Disputed islands in the South China Sea: Paracels, Spratlys, Pratas, Macclesfield Bank’ Institut für Asienkunde (Hamburg). 1976 
[16] Wai-chiao p'ing-lun [Ngoại Giao Bình Luận], Shanghai, vol. 2, no. 10 (October 1933), pp. 64-65 
[17] Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo]], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78 
[18] Fan-chih yüeh-k'an [Phương Chí Nguyệt San], vol. 7, no. 4 (Nanking, April 1, 1934), p. 2 
[19] Wai-chiao-pu kung-pao, [Công Báo Bộ Ngoại Giao] vol 6, no. 3 (July-September 1933), p. 208 
[20] Cheng Tzu-yüeh, Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải Chư Đảo Địa Lí Chí Lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948). 
[21] Tuyên bố do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc đưa rangày 10 tháng 6 năm 1956, tóm lược trong “Vietnamese Claim of Sovereignty Refuted," Free China Weekly, June 26, 1956, p. 3; Chung-yang jih-pao, June 11, 1956, p. 6; Shao Hsun-cheng, "Chinese Islands in the South China Sea," People's China, no. 13 (Peking, 1956) Foreign Languages Press 
[22] Lien-ho-pao [United daily news], overseas edition, February 25, 1974, p. 3; "Memorandum on Four Large Archipelagoes," ROC Ministry of Foreign Affairs (February 1974). 
[23] Ming Pao (nguyệt san) No. 101 May 1974 
[24] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea’, Methuen, New York. 1982 
[25] Chris P.C. Chung, “Since Time Immemorial”: China’s Historical Claim in the South China Sea. MA Thesis, University of Calgary, September 2013. p8 
[26] PRC Ministry of Foreign Affairs, China’s indisputable sovereignty over the Xisha and Nansha islands, Beijing Review Vol. 23 No.7 1980 pp15-24 
[27] Lin Jinzhi, Renmin Ribao (People’s Daily) 7 April 1980. FBIS-PRC-80-085 30 April 1980 p.E6 
[28] Duanmu Zheng ed. Guoji Fa (International Law) Peking University Press, Beijing 1989 
[29] Điều đáng lưu ý là Duanmu không phải là đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà là thành viên của Liên Đoàn Dân Chủ Trung Quốc. Colin Mackerras, The New Cambridge Handbook of Contemporary China. Cambridge University Press, 2001 p85. 
[30] Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012 
[31] Ulises Granados, As China Meets the Southern Sea Frontier: Ocean Identity in the Making, 1902-1937. Pacific Affairs Vol. 78, No. 3 (Fall, 2005), pp. 443-461 
[32] Xem, đặc biệt là, Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline. Modern Asian Studies. Vol 40, Issue 01. February 2006, pp 1-57 and An International History of the Dispute in the South China Sea, East Asia Institute Working Paper No. 71 (2001) 
[33] The Times “Chinese foreign relations” Jan 18, 1908; pg. 5; The Times “The recent piracy in Canton waters”. Jan 25, 1908; pg. 5 
[34] The Examiner (Launceston, Tasmania) “China and her islands-keeping an eye on foreign nations” Saturday 12 June 1909 p 8 
[35] Xem Granados (2005) phía trên. 
[36] Điều này được chính quyền Tỉnh Quảng Đông tiết lộ năm 1933. XemCho Min, "The Triangular Relation- ship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea," Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], Vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933); p. 82, note 4. 
[37] Hydrographic Office, The Admiralty, The China Sea Directory, Vol. 2, London, 1889, p.103. Quoted in Bonnet 2012 
[38] Tham khảo của Cheng: Saix, Iles Paracels, La Geographie (Nov.-Dec. 1933), reprinted in 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 5 (Hu Huan-Yung Chinese transl. May 1934), at 65-72;, at 67; Hu, Fa-jen Mou-tuo Hsi-Sha Ch’ün-tao [The French Plot to Snatch the Paracel Islands], 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 4 (April 1934), at 92. 
[39] "On Li Chun's Patrol of the Sea"(Về chuyến tuần tra của Lí Chuẩn) Kuo-wen chou-pao [National news weekly], vol. 10, no. 33 (August 21, 1933), p. 6. 
[40] Committee of Place Names of the Guangdong Province [Guangdong sheng di ming wei yuan hui (Quảng Đông Tỉnh địa danh uỷ viên hôi)], Compilation of references of the names of all the South Sea islands [Nan Hai zhu dao di ming zi liao hui bian (Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên)], Guangdong Map Publishing Company [Guangdong sheng di tu chu ban she], 1987, p.289 
[41] Bài viết do Francois-Xavier Bonnet trình bày tại the Southeast Asia Sea conference, Ateneo Law Center, Makati, Manila. March 27 2015. (Tường thuật có ở đây: http://opinion.inquirer.net/84307/a-chinese-strategy-manipulating-the-record
[42] Lu, Hsi-sha Ch'iin-tao Chih-yao [Tây Sa Quần đảo Sơ yếu], 9 Hsin Ya Hsi Ya Yueh Kan No. 6 (June 1935), at 50-54. 
[43] Cho Min, "The Triangular Relationship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea," Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78. 
[44] Cheng Tzu-yüeh [Trịnh Tư Ước], Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948), p.80 
[45] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997) footnote 160. 
[46] François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal, IRASEC Discussion Papers #14, Bangkok November 2012. 
[47] Wai Jiao bu nan hai zhu dao dang an hui bian [Ngoại Giao Bộ Nam Hải chư đảo đương án hội biên], Vol. 1, Taipeh, 1995, p. 47-49. Trích dẫn trong François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012 
[48] Xem Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 031. This ROC official telegram is dated August 24, 1946. AND Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 145-146. This ROC official telegram is also dated to 1946. The month is unclear. 
[49] Chen Keqin, Zhong guo nan hai zhu dao (Trung Quốc Nam Hải chư đảo) Hainan International Press and Publication Center, Haikou 1996 
[50] A.B. Feuer, Australian Commandos: Their Secret War Against the Japanese in World War II (Mechanicsburg, Pennsylvania, 2006), Chapter 6. 
[51] US Navy Patrol Bombing Squadron 117 (VPB–117), Aircraft Action Report No. 92, available at
[52] US Navy, USS Cabrilla Report of 8th War Patrol, available a
Bản tiếng Việt:

Là người Việt, nên biết và hiểu Biển Đông là gì...

 Là người Việt, nên biết và hiểu Biển Đông là gì...


Phan Châu Thành (Danlambao) - Nguyên tắc đầu tiên của sự lừa bịp và ăn cướp của thầy trò CS Tàu-Việt là: nếu dân Việt không biết chính xác mình có gì (Biển Đông, hải đảo, lãnh thổ biên giới) thì cũng sẽ không biết mình đã mất gì! Thứ hai, đó là nguyên tắc của chính sách ngu dân nói chung của CSVN: dân ngu thì không biết mình có những thứ gì, quyền gì đã bị đảng cướp mất. Và thứ ba, đó là nguyên tắc, ai có thể bóp méo lịch sử (về Biển Đông) thì người đó có thể thay đổi tình trạng tương lai (của Biển Đông) theo ý mình...
*
Biển Đông là đại phúc của dân tộc Việt Nam
Nước Việt, dân tộc Việt chúng ta có một đại đại phúc là đất nước nhỏ mà có trên 3,200 km bờ biển dài và đẹp, từ bãi Trà Cổ phía bắc ngàn đảo Hạ Long trong Vịnh Bắc Bộ, chạy qua 13 đường vĩ tuyến (từ 21N đến 8N) dọc theo chiều dài đất nước và xuyên qua lịch sử dân tộc mấy ngàn năm, đến mũi Cà Mau rồi vắt lên Hà Tiên, nhấn lại ở đảo Phú Quốc trong vịnh Thái Lan. Chính cuộc hành trình về hướng Nam đó đã định hình không chỉ hình hài đất nước Việt mà cả tên gọi của dân tộc Việt, đã định hình cả tinh thần và tính cách dân tộc Việt. Bởi vì, Việt - đó là thoát Hán vượt về phương Nam để có Tự do và Độc lập cho dân tộc, để có bờ cõi riêng hạnh phúc, là đất nước Việt Nam trải dài bên bờ Biển Đông.
Cuộc đào thoát vô cùng ngoan cường, ngoạn mục và dài lâu đó đã để lại cho dân tộc Việt chúng ta một món quà - kho báu vĩ đại và ngoạn mục từ Tổ tiên Việt và và Lịch sử Việt, mà có lẽ dân tộc ta phải có đại phúc mới có được, đó là Biển Đông, và phải vô phúc lắm mới không biết gìn giữ bảo vệ nó cho Thịnh vượng ngàn năm của mình.
Vâng, Biển Đông có thể biến nước Việt thành quốc gia biển giàu mạnh từ biển, nhưng cũng có thể giam cầm và tàn phá xơ xác đất nước và dân tộc Việt như nó đã và đang “làm” hàng ngàn năm nay, và nhất là hiện nay - khi người Việt không hiểu biển và sợ biển. Sự giam cầm đó xuất phát từ chính nỗi sợ và sự vô cảm trước Biển Đông của người Việt đang sống trên dải đất lẽ ra là có đại phúc đó.
Vậy mà mỗi người Việt chúng ta đã biết, đã hiểu gì và coi trọng yêu quí Biển Đông của mình như thế nào? Hay, chúng ta để Biển Đông ở đâu trong lòng, trong tim, trong óc mình - từng cá nhân và cả dân tộc Việt? Biển Đông là gì với mỗi người Việt chúng ta, với nhà nước, với cả dân tộc Việt hôm nay?
Phải đau xót thú nhận rằng, người Việt chúng ta không biết gì nhiều về Biển Đông “của mình”, không bằng bất kỳ ai khác. Tôi muốn nói là chúng ta biết rất ít về Biển Đông, ít hơn nhiều các dân tộc khác như Philippines, Malaysia... - tất nhiên không thể so với các dân tộc vĩ đại như người Nhật, Mỹ... dù họ ở rất xa và không có “mẩu” Biển Đông nào! 
Nhưng ngược lại, rất hào phóng, Biển Đông vẫn cung cấp dồi dào hải sản, đầu khí, hải cảng, đường biển và những nơi nghỉ mát... cho chúng ta, dù chúng ta dường như không xứng đáng với Biển Đông về những thứ đó, lại càng không biết ơn Biển Đông vì những điều đó.
Có một qui luật thế này của Tự nhiên, rằng nếu ta không hiểu, không trân quí cái gì đó thì ta không thể có (sở hữu) Nó, và càng không thể là chủ nhân đích thực của Nó (có chủ quyền) được. 
Ví dụ: Nếu bạn không hiểu và yêu thương trân quí vợ/chồng mình thì sẽ/đã có ngày nàng/chàng là... của hàng xóm-bạn bè “tốt! hảo!”; Hay: Nếu bạn không hiểu biết lại coi khinh tiền bạc thì bạn chắc chắn không có nhiều tiền! Trên 80% người nghèo là vì thế đó, vì đồng tiền cũng biết bỏ những người chủ luôn khinh rẻ mình ra đi, chỉ có những đồng tiền “còm” mới đành ở lại với họ.
Và ví dụ về người Việt, nước Việt với kho báu đại phúc Biển Đông hôm nay cũng gần như vậy. Câu hỏi ở đây là, người Việt ta có ngu toàn diện đến như vậy về Biển Đông?
Đó là câu hỏi tôi mạo muội tự đặt ra để tìm câu trả lời ở đây, cùng người Việt.
Người Việt hôm nay biết gì về Biển Đông?
Câu hỏi trên dẫn ngay đến câu hỏi tiếp là: Người Việt hiện nay được chế độ CSVN này nhồi nhét gì (từ nhỏ), cho phép được biết gì, nói gì (khi đã là công dân XHCN) về Biển Đông? CSVN đã và đang thống trị hoàn toàn mọi nội dung thông tin và giáo dục trong xã hội VN từ hơn 70 và 40 năm nay, mà Biển Đông từ 1945 là nội dung luôn “nhậy cảm” bị đảng CSVN kiểm duyệt, dưng bít hay ngăn cấm người dân nói, viết về nó gắt gao nhất? 
Ai và tại sao lại không muốn cho người Việt chúng ta biết về Biển Đông của mình? Rất tiếc đó là mục tiêu và mưu đồ của chính đảng CSVN và Tàu cộng. Vì muốn dâng Biển Đông cho Tàu cộng từ đầu (từ khi đảng sinh ra) nên CSVN luôn giấu và cấm đoán mọi thông tin về những quyền và lợi của Việt Nam ở Biển Đông, thậm chí chúng bóp méo các bằng chứng lịch sử về biển Đông, tạo các bằng chúng pháp lý (như công hàm PVĐ 1958) một cách có chủ ý, hệ thống, toàn diện và triệt để suốt 70 năm qua, sao cho có lợi cho Tàu cộng. Đó là lý do tại sao người Việt mọi tầng lớp, nhiều thế hệ qua hầu như không được biết gì cặn kẽ về Biển Đông. Đó là lý do tại sao người Việt lại chỉ biết những thông tin sai lệch mơ hồ về Biển Đông. Đó là lý do tại sao VN đã mất toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, một phần Trường Sa vào tay Tàu cộng suốt trong thời gian CSVN cầm quyền hiện nay. 
Nguyên tắc đầu tiên của sự lừa bịp và ăn cướp của thầy trò CS Tàu-Việt ở đây là, nếu dân Việt không biết chính xác mình có gì (Biển Đông, hải đảo, lãnh thổ biên giới...) thì cũng sẽ không biết mình đã mất gì! Thứ hai, đó là nguyên tắc của chính sách ngu dân nói chung của CSVN: dân ngu thì không biết mình có những thứ gì, quyền gì đã bị đảng cướp mất. Và thứ ba, đó là nguyên tắc, ai có thể bóp méo lịch sử (về Biển Đông) thì người đó có thể thay đổi tình trạng tương lai (của Biển Đông) theo ý mình.
Vì thế, hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về Biển Đông là vấn đề nhức nhối hàng đầu với mỗi người Việt hôm nay - từ thanh thiếu niên đến những người trưởng thành, đến những người già uyên bác, từ công nhân nông dân đến trí thức VN. Hiện nay, chúng ta hầu như không được biết gì cả hoặc biết toàn những sự lừa bịp của đảng về Biển Đông!
Ở nhà trường, trẻ em Việt từ bé đến hết đại học hầu như không được chế độ CSVN này dạy gì và cho được dạy gì Biển Đông suốt nhiều thế hệ nay. Trong xã hội, chế độ CSVN này công dân không được nói, được nghe gì về Biển Đông cả, và nếu có thì phải theo tin bị kiểm duyệt của đảng, tin bị bóp méo, hay tin bịa của chính Tàu cộng mớm cho đảng. Ai có suy nghĩ độc lập hay nghi vấn, không đồng ý với Tàu cộng về Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa là nhẹ thì “bị thế lực thù địch lợi dụng”, vừa vừa thì “xuyên tạc nói xấu chế độ”, và “nặng hơn” là tự nhiên bị côn đồ tự phát rình đón đánh trộm.
Vì thế cho nên, người Việt chúng ta phải biết chính xác mình có gì - Biển Đông là gì, tại sao chúng ta phải quan tâm và hiểu biết trân quí nó thì mới giữ được nó và có nó...
Vài điều cơ bản và đơn giản người Việt nên biết và cần biết về Biển Đông
Những điều quan trọng mà một người Việt bình thường cần biết và nên biết, phải biết về Biển Đông thực ra không nhiều, có thể chứa gọn trong một trang A4. Vậy mà CSVN không thể cho chúng vào nội dung giảng dạy địa lý, lịch sử, tự nhiên cho học sinh cấp 1, cấp 2 trở đi để khi là công dân Việt trưởng thành chúng biết rõ và có thể tự học để biết nhiều hơn về Biển Đông khi quan tâm. Lý do CSVN không làm thế thì tôi đã nói ở phần trên, đó thật là một tội ác vô cùng thâm độc.
Và đây, vài thông tin tôi chọn về Biển Đông đủ để thấy giá trị và tầm quan trọng của Biển Đông với đất nước và dân tộc Việt. Nhất là đủ để hiểu tại sao Tàu cộng lại thèm Biển Đông của chúng ta đến thế.
Biển Đông không chỉ là biển kín (thông với các đại dương bằng các eo biển Malacca và Đài Loan) lớn nhất trong 15 biển của Trái Đất (khoảng trên 3,5 triệu km2), nó là biển có nhiều đảo, quần đảo nhất và được bao bọc bởi nhiều đảo nhất thế giới (trên 30 ngàn hòn đảo của Philippines và Indonesia) và có tuyến đường biển đông đúc nhất hành tinh đi qua.
Nhưng điều quan trọng nhất không chỉ là Biển Đông cho nước ta một vùng lãnh hải (lãnh thổ trên biển) khá lớn - thêm khoảng 66,000 km2, bằng trên 20% diện tích trên bờ, mà là theo Luật Biển UNCLOS Việt Nam có trên 1,11 triệu kms thuộc khu đặc quyền kinh tế EEZ - Exclusive Economic Zone (khoảng 1,500kms bờ biển x 370 kms EEZ +/và 1,500 kms bờ biển x 150 kms EEZ = 880,000 km2 EEZ), hơn gấp 2 lần diện tích đất hình chữ S. Đó chính là kho báu vô cùng to lớn mà Tổ tiên Việt để lại cho chúng ta. Và hơn thế nữa, trên Biển Đông Tổ tiên Việt còn để lại cho chúng ta hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với hàng trăm đảo và bãi đá có thể cho nước Việt cả chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải và EEZ rộng gần 1 triệu km2 nữa (gồm Hoàng Sa khoảng trên 350,000 km2 và Trường Sa khoảng 650,000 km2 EEZ là gần/trên 1 triệu km2 EEZ).
Như vậy, nếu thực sự làm chủ được và được làm chủ kho báu Biển Đông Tổ tiên Việt để lại, Việt Nam sẽ có diện tích EEZ biển để khai thác lớn gấp trên 5 lần diện tích đất liền (một diễm phúc hiếm đất nước nào có được) nữa, với xác xuất phân bổ tài nguyên dưới thềm lục địa tương đương như trên bờ, nhưng về dầu khí EEZ VN lại rất nhiều tiềm năng, thì đất nước ta sẽ thực sự có thể rất giàu và mạnh.
Còn nếu mất Biển Đông, VN không chỉ mất cơ hội trở thành quốc gia biển giầu mạnh lên 5-10 lần hiện nay, mà còn chắc chắn sẽ mất luôn lãnh thổ trên đất liền - cả đất nước vào tay Tàu cộng. Đó cũng chính là nhiệm vụ cuối cùng và “món nợ” của đảng CSVN đối với Tàu cộng mà không người Việt nào muốn để cho CSVN làm được thế.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng hiểu biết rõ Biền Đông là gì đối với Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam.
02.06.2015

Lại chuyện nghị quyết 36

 Lại chuyện nghị quyết 36


Tú Kép (Danlambao) - Báo Nhân Dân Điện Tử Hà Nội ngày 27-5-2015, đăng nguyên văn chỉ thị số 45-CT/TW do Bộ Chính trị (BCT) đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) ban hành ngày 19-5-2015, về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của BCT khóa IX về công tác đối với người Việt ở nước ngoài trong tình hình mới. Lại chuyện nghị quyết 36!
Với từ ngữ chính trị sáo rỗng vốn có của CS, chỉ thị gồm phần dẫn nhập và 10 điều chỉ thị, trong đó từ điều 1 đến điều 4 đề cập đến người Việt ở nước ngoài và 6 điều còn lại là hướng dẫn công tác cán bộ đảng viên cần phải thực hiện để chèo kéo người Việt ở nước ngoài.
Phần dẫn nhập, chỉ thị nầy viết: "Đến nay, một bộ phận lớn bà con đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội nơi họ đang sống và làm việc. Tiếng Việt được sử dụng là ngôn ngữ chính của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài song hành cùng tiếng nói của nước sở tại. Bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc Việt Nam được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tiếp theo. Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng nâng cao, thực sự là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là cầu nối quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước sở tại; đồng thời góp phần tích cực xây dựng quê hương, đất nước." (Trích nhật báo Nhân Dân, ngày 27-5-2015.)
Ai cũng biết, sau năm 1975, lý do quan trọng khiến cho người Việt bỏ nước ra đi là vì kinh nghiệm tích lũy từ năm 1945 về chế độ độc tài đảng trị toàn trị tàn ác, bóc lột của đảng CSVN. Vì vậy người nào có điều kiện, liền tìm đường vượt biên, kể cả liều mạng sống để tìm tự do. Nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã thốt một câu để đời: "Ở Việt Nam, cái cột đèn cũng muốn ra đi.” Về phía đảng CSVN thì tìm cách chận đứng, bắt bớ, giam cầm, bắn giết những người tìm cách ra đi, lại còn hết lời nhục mạ những người đã ra đi trót lọt là “phản quốc”, “tay sai đế quốc Mỹ “, “theo chân đế quốc Mỹ, tìm chút bơ thừa, sữa cặn”…
Sau khi người Việt hải ngoại xây dựng thành công đời sống ở quê hương mới, gởi tiền về giúp bà con trong nước, CSVN đánh hơi mùi đô-la, còn thơm hơn và hấp dẫn hơn “bơ thừa sữa cặn”, CSVN liền LỘT LƯỠI, ĐỔI GIỌNG, gọi người Việt hải ngoại là “khúc ruột ngàn dặm”, kiếm cách “gọi người tình về”. Mẹ kiếp, dí người ta đến đường cùng, bắt giam bắn giết người ta không gớm tay, phỉ báng người ta là “phản quốc”, bây giờ lại mở miệng mơn trớn “khúc ruột ngàn dặm”. Thiên hạ kháo nhau rằng kẻ nào mà không biết lột lưỡi đổi giọng, ăn nói lật lọng, thì không phải là CS; và càng biết lột lưỡi đổi giọng, càng láo toét thì càng được nhanh chóng thăng quan tiến chức trong chế độ CSVN. Càng lên cao thì càng láo hơn. Đúng y chang!
Người Việt hải ngoại tự hào là dân Việt, yêu nước Việt do tổ tiên để lại, tức nước Việt không cộng sản, chứ người Việt hải ngoại chẳng yêu cái thứ “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của CSVN, vì nếu yêu “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, thì chẳng bỏ nước ra đi. Ngày xửa, ngày xưa, tổ tiên chúng ta chẳng có chủ nghĩa xã hội, chẳng có chủ nghĩa cộng sản, mà sao yêu nước quá xá, nhiều lần bảo vệ tổ quốc, đánh đuổi quân Tàu ô chạy có cờ. 
Cộng đồng người Việt hải ngoại chẳng bao giờ là cái “cầu nối quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước sở tại”. Câu nầy nói như đang giỡn vì chứng minh rất đơn giản mà rất dễ ẹt: Khi các quan chức CSVN, từ tổng bí thư, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, thủ tướng, bộ trưởng CS, đi đến đâu, ở bất cứ nước nào thì người Việt sở tại biểu tình phản đối rần rần đến đó, với cả rừng biểu ngữ đả đảo CSVN, khiến các đoàn quan chức nầy phải chui trốn cửa sau để vào nơi hội họp. Vì vậy có vè vịnh quan chức CSVN rằng: “Trong nước hùng hổ quan liêu / Bước ra khỏi nước như diều đứt dây.” Như thế những cuộc biểu tình của cộng đồng người Việt hải ngoại đuổi CS như đuổi tà, chứ làm gì có chuyện cầu nối với cầu gãy ở các nước sở tại. Bỏ đi con cháu của tên Tám keo. Tám keo tức là “bát hồ” đấy.
Sau phần dẫn nhập, điều 1chị thị 45-CT/TW như sau: “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục thể hiện đầy đủ và phát huy tốt truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xóa bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.”
Cộng sản mà nói chuyện đại đoàn kết dân tộc là chuyện chú Cuội ngồi gốc cây đa, nghe chẳng lọt lỗ nhĩ. Hiện nay, ở trong nước, chủ nghĩa CS và lý thuyết Mác-xít là môn học bắt buộc cho sinh viên, học sinh. Căn bản của chủ nghĩa CS là ĐẤU TRANH GIAI CẤP. Đấu tranh giai cấp là người đấu người, người giết người, con người biến thành ác thú, cắn xe đồng loại, thì làm sao gọi là đoàn kết dân tộc. Hai phạm trù nầy hoàn toàn trái ngược nhau. Chính đấu tranh giai cấp là nền tảng cho các cuộc Rèn cán, Chỉnh quân, Cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, Vụ án chống đảng, Học tập cải tạo, Kinh tế mới, Đánh tư sản, Hợp tác xã, Công tư hợp doanh… Những phong trào đấu tranh giai cấp nầy đưa đến đại đoàn kết dân tộc hay đưa đến sự chia rẽ tan nát trầm trọng hiện nay? Vì vậy, còn CS thì còn học chủ nghĩa CS, còn học đấu tranh giai cấp. Còn học đấu tranh giai cấp thì không thể nói chuyện đoàn kết dân tộc.
Chỉ thị 45-CT/TW nói chuyện xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, thì người Việt ai cũng mong muốn nước mình giàu mạnh. Tuy nhiên trong nước Việt Nam cộng sản hiện nay, tham nhũng nổi tiếng trên thế giới, cái gì cũng phải bôi trơn mới chạy được, chỉ có cán bộ, đảng viên giàu có, còn lại toàn dân đói nghèo. Thực tế hiện nay là ĐẢNG GIÀU NƯỚC NGHÈO. Xem nhà cửa thật hoành tráng của cán bộ CS thì biết liền hà. Tiền đâu mà chúng tậu nhà cửa hoành tráng quá xá vậy bà con?
Còn nói chuyện dân chủ, người Việt ở nước ngoài rất quen thuộc với đời sống dân chủ, đường lối và cách thức sinh hoạt dân chủ, tức là rất rành về dân chủ. Ở nước ngoài, dân chủ đúng nghĩa, chỉ có quốc hội dân cử mới có quyền ban hành luật lệ cho chính phủ thi hành, chứ các đảng phái, kể cả những đảng đang cầm quyền, như hiện nay đảng Bảo Thủ của Canada hay đảng Dân Chủ ở Hoa Kỳ, cũng không có quyền đưa ra chỉ thị cho chính phủ thực hiện. 
Rành sáu câu về chuyện dân chủ như vậy, nên người Việt hải ngoại rất lấy làm lạ là tại Việt Nam, nói rằng dân chủ, mà tại sao BỘ CHÍNH TRỊ ĐẢNG CSVN LẠI CÓ QUYỀN ban hành chỉ thị cho nhà nước phải thi hành nghị quyết hay chỉ thị của đảng CSVN. Đảng chỉ có quyền ra lệnh cho nội bộ đảng viên, chứ chẳng có quyền gì với nhà nước, với người dân. Vậy là nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) là của dân, do dân, vì dân hay là CỦA ĐẢNG, DO ĐẢNG, VÌ ĐẢNG? Nói như vậy để cho thấy ngay từ đầu, cái chỉ thị 45-CT/CT hoàn toàn phản dân chủ, và chuyện dân chủ là chuyện hoàn toàn bịp bợm. Bịp bợm cả trong hiến pháp hiện hành ở trong nước với điều 4, đặt đảng CSVN lên đầu lên cổ dân chúng Việt Nam. Như thế là dân chủ hay chủ dân! Đảng CSVN thờ tụi Tàu cộng nên cũng tập đọc ngược chữ như Tàu cộng, dân chủ thành chủ dân.
Ở “đế quốc” Mỹ hay Canada, dân chúng bất bình điều gì, có quyền tức khắc biểu tình hà rầm chẳng những ở các thành phố mà ngay cả ở thủ đô, miễn sao giữ trật tự, không cản trở lưu thông, không bạo động đánh nhau. Còn báo chí tự do đăng tải tin tức, tự do chỉ trích hoạt động của chính phủ, kể cả thủ tướng hay tổng thống, Ở trong nước Việt Nam hiện nay, bất cứ ai có ý kiến khác biệt với quan chức CS, ở cấp tỉnh hay nhà nước CS, hoặc khác biệt với đảng CSVN, kể cả những ý kiến yêu nước, xây dựng, chỉ cần lên e-mail, facebook, liền bị theo dõi và bị bắt ngay. Đảng CSVN khoe rằng trong nước hiện có trên 700 tờ báo. Có trên 700 tờ báo, nhưng hoàn toàn do các cơ quan nhà nước điều khiển, chỉ nói một giọng, viết một ý, rồi chia ra đăng lại. Chuyện nầy, cách đây non một thế kỷ, nhà văn Pháp André Gide đã nói trong quyển Retour de l’URSS rằng chỉ cần đọc một tờ báo là biết mấy trăm tờ báo Liên Xô viết gì.
Điều 2 của chỉ thị 45-CT/TW viết tiếp: "Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tăng cường hơn nữa sự gắn bó của người Việt Nam ở nước ngoài với đất nước. Mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều được khuyến khích, tạo điều kiện trở về thăm quê hương, đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Tiếp tục quan tâm, sớm có giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trên tinh thần cởi mở, chân thành, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Kiên trì vận động, thuyết phục những người còn giữ định kiến, mặc cảm."
Xin nói ngay là vì người Việt hải ngoại thành đạt, nhà nước CSVN mới nhận vơ là một bộ phận không thể tách rời, chứ năm 1975, CSVN bắn bỏ, bắt giam, tù đày biết bao nhiêu người. Đó là chưa kể bao nhiêu người bị bắt đi tù sau 1975 mà CSVN gọi là học tập cải tạo, bị đày đọa tận cùng bằng số. 
Đày đọa người ta xong, bây giờ lại kêu gọi “giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trên tinh thần cởi mở, chân thành, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Kiên trì vận động, thuyết phục những người còn giữ định kiến, mặc cảm.” Khỏe quá hà. Không một lời xin lỗi. Không một chút sửa đổi. Dễ dàng quá. Nói chuyện khép lại quá khứ, thì con cháu nhà “Tám keo” (bát hồ đấy) phải học cách khép lại quá khứ từ quê hương của Marx, của Lenin, của Stalin. Đất nước các ông nầy là chiếc nôi của chủ nghĩa CS, nay đã khép lại quá khứ, VỨT BỎ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VÀO SỌT RÁC, làm lại cuộc đời mới. Đó là cách khép lại quá khứ thứ thiệt đó. Dân chúng trong và ngoài nước đang chờ đợi. Nhà nước Việt Nam còn chờ đợi gì nữa mà chưa thực hiện, chưa khép lại quá khứ, chưa đóng cửa tiệm CSVN cho rồi, còn ngồi đó mà ngáp ruồi, nói chuyện mộng du cõi trên. 
Còn điều nữa. Quá khứ chưa kịp khép lại, mà tương lai bị tụi côn đồ côn an đóng sầm cửa rồi. Bất cứ bà con nào ở trong nước muốn tỏ bày vài ý kiến trên thế giới ảo, trên facebook, liền bị bắt giam vô điều kiện. Những người can đảm hơn thì bị đánh bầm mặt bầm mày, chảy máu, sưng trán lỗ đầu, xong rồi còn bắt giam tù…Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước ba tòa quan lớn. Con cháu “tám keo” còn chơi trò “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” (Kiều câu 584), khiến cho dân oan chẳng có mặc cảm định kiến gì ráo, nhưng bị cướp đất cướp nhà, ngày nào cũng biểu tình ào ào khắp nước rất thảm thương, tạo thành bức tranh xã hội thật hoành tráng. “tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây”. (Kiều câu 590).
Ở hải ngoại, thỉnh thoảng có vài tên có học vị, như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư… xé lẻ trốn về Việt Nam do lời mời của nhà nước CSVN. Những tên nầy chẳng qua lợi dụng lời mời, về nước nói xạo, nịnh nọt vài điều làm vui lòng chủ nhà CS, để có cơ hội du hí, ăn chơi, mua bán, kinh doanh, kiếm chác chút đỉnh, chứ mấy tên nầy dư biết là CSVN chẳng tin gì chúng, và chúng cũng chẳng tin gì CSVN. Bằng chứng là trong số các tên tiến sĩ, giáo sư, bác sĩ về Việt Nam xạo que, có tên nào dám đem vợ con về sống luôn trong nước đâu? Chúng về hưởng thụ vài tuần rồi bỏ đi biền biệt. Thế là CSVN gọi tụi nầy là “góp phần tích cực xây dựng quê hương”, vì chúng về góp cho túi tham cho cán bộ đảng viện CSVN. Đúng thiệt là đúng.
Điều 3 của chị thị 45-CT/TW, quay qua “ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống”. Chỉ thị còn lên giọng kẻ cả: “Phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú.” Người Việt ra đi năm 1975 thì bị CSVN cản trở, bắt giam. Đến khi người Việt tự mình cố gắng vươn lên, thành công vang dội khắp thế giới trong mọi lãnh vực, chẳng những không cần CSVN hỗ trợ mà thấy bóng dáng CSVN đến đâu thì người Việt liền biểu tình phản đối ngay tức khắc, làm sao mà nói CSVN hợp tác với các nước có người Việt sinh sống nhằm hỗ trợ... 
Cuối cùng, điều 3 chỉ thị nầy hé lộ kế hoạch cài người của CSVN: "Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động, du học sinh, người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài.” Đưa du học sinh ra nước ngoài nhắm mục đích học tập, thu thập kiến thức về giúp nước, chứ sao lại khuyến khích du học sinh Việt Nam kết hôn với người nước ngoài để ở lại, phải chăng để cài người ở nước ngoài, hay cài người vào cộng đồng người Việt hải ngoại? Nếu biết được chủ trương “kết hôn với người nước ngoài” nầy, chắc chắn các nước trên thế giới sẽ ngưng cấp học bỗng cho học sinh Việt Nam đến du học.
Điều 4 của chỉ thị 45-CT/TW, CSVN chủ trương “Tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, phương hướng và nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết 36; đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài khi về Việt Nam sinh sống và làm ăn; sớm cấp lại quốc tịch cho những người có đủ điều kiện; tạo thuận lợi hơn nữa trong việc sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, đầu tư, chuyển, nhận và sử dụng kiều hối. Thường xuyên tổ chức cho người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp ý kiến và tham gia vào các sự kiện chính trị - xã hội lớn của đất nước.”
Nhà nước CSVN đã bao lần nói đến chuyện cải cách hành chánh, nhưng có bao giờ CSVN tháo gỡ được vướng mắc đâu, chỉ gây thêm nhiều vướng mắc khác, vì thực tế vũ như cẩn, quanh quẩn chung quanh chủ nghĩa CS, thì làm sao tháo gỡ vướng mắc. Tham nhũng vẫn tiếp tục vừa vi mô vừa vĩ mô. Còn chuyện xin vào quốc tịch Việt Nam là chuyện dư thừa, vì cách đây hai năm, CSVN đưa ra kế hoạch xét cấp quốc tịch cho người Việt hải ngoại, mà trong 3 triệu người Việt ở hải ngoại chỉ có 6,000 đơn (theo lời CSVN, không biết có đúng không?), tức chỉ có hai phần ngàn nạp đơn mà thôi. Nhà nước CSVN lúc đầu hoãn thời hạn ghi danh, rồi hủy bỏ hẳn kế hoạch về vấn đề quốc tịch vì chẳng có hiệu lực gì. Người Việt yêu tổ quốc Việt chứ chẳng thèm cái quốc tịch CHXHCNVN.
"Thường xuyên tổ chức cho người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp ý kiến và tham gia vào các sự kiện chính trị - xã hội lớn của đất nước." Đây là cái bánh vẽ to tổ bố vì từ xưa đến nay, có khi nào mấy tên con cháu “Tám keo” nghe theo những ý kiến đóng góp. Củ lừa ngoạn mục vừa qua là cú tu chính điều 4 hiến pháp. Mấy ông trí ngủ ra công đóng góp ý kiến đều bị quăng vào sọt rác. Trong số nầy có một số hải ngoại giả vờ hăng hái đóng góp ý kiến đề xin về Việt Nam du hí. Cũng khôn thiệt.
Chỉ thị 45-CT/TW gồm 10 điểm, ngoài 4 điểm trên dây, 6 điểm còn lại giành hướng dẫn cán bộ đảng viên, tức “chuyện nội bộ quốc gia” của CS, không cần bàn loạn ở đây. Nói chung, 6 điểm còn lại chỉ là hâm nóng, nhắc nhở cán bộ đảng viên CS tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26-3-2004. Điều nầy có nghĩa là nghị quyết 36 trước đó không thành công, mà BCT đã văn hoa gọi là “việc thực hiện nghị quyết 36 thời gian qua còn một số hạn chế bất cập”. (Trích phần dẫn nhập chỉ thị 45-CT/TW.) Cứ mỗi lần khuyến cáo, cải cách, thay đổi chẳng qua chỉ tạo cơ hội cho cán bộ chạy chức, bôi trơn thì lãnh đạo mới mở rộng túi tham, bổ nhiệm chức sắc, nhất là chức sắc ngoại giao rất béo bở.
Nói thiệt nghe qua rồi nhớ, bây giờ Bộ Chính trị có tung ra 10 cái nghị quyết, hay 100 cái chỉ thị đi nữa, thì cũng chừng đó mà thôi, chẳng đi đến đâu, cho đến khi nào BCT đảng CSVN bắt chước Yelsin, tuyên bố cho đảng CSVN cáo chung, về vườn thì mọi người vỗ tay, chứ CSVN còn thò lò cái đuôi cộng sản ra, thì mọi việc cứ một hai dậm chưn tại chỗ. Lý do đơn giản vì ngày nay, dân chúng Việt Nam đã chán ngấy đảng CSVN. Tụi đảng viên chỉ là một tụi tham nhũng, giá áo túi cơm. KHÔNG THAM NHŨNG KHÔNG THỂ SỐNG CÒN TRONG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN. Ngày nay, CSVN không còn nói láo tuyên truyền được như trước, dân biết hết trơn hết trọi, dân không còn tin CS và cũng không còn sợ CS. 
Dân chúng hải ngoại càng nhạy bén hơn, nhờ thông tin toàn cầu đủ thứ tin tức trên đời, truyền cho nhau nghe trên Internet, trên You tube, Facebook… Vì vậy, cái thứ chỉ thị 45 trung ương (TW) nầy mới ra lò, chưa kịp “công tác” với ai, thì thiên hạ biết hết dã tâm rồi. Lại chuyện nghị quyết 36, mà người Việt hải ngoại xếp vào loại nghị quyết XHCN, tức “xạo hết chỗ nói”. 
Tuy nhiên, thời kỳ CSVN nói xạo ăn tiền đã qua rồi, xưa quá rồi, nên dù có chỉ thị 45-CT/TW hà hơi tiếp sức, nghị quyết 36 chẳng những vẫn còn “một số hạn chế bất cập”, mà mãi mãi “hạn chế bất cập”.
(Toronto, Canada)
02/06/2015

Gioi tre tai VN ngay nay

Xin mời xem:

https://www.facebook.com/LyTrucViet/videos/1129662600394261/


BẢN SẮC NỀN CỘNG HÒA TẠI MIỀN NAM.

BẢN SẮC NỀN CỘNG HÒA TẠI MIỀN NAM.

Nguyễn Quang Duy

Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia với kinh tế tự do, y tế đại chúng, người cày có ruộng, báo chí tự do, tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật, giáo dục phát triển và đặc biệt có một nền dân chủ pháp trị với tam quyền phân lập rõ ràng.

Hệ tư tưởng nào đã giúp một quốc gia vừa giành được độc lập, phải đối đầu với chiến tranh và chỉ trong vòng 20 năm đã xây dựng được nền tảng nói trên?

Thiết nghĩ giáo dục nhằm truyền đạt tư tưởng, giáo dục tại miền Nam dựa trên ba căn bản triết lý và đạo đức: nhân bản, khai phóng và dân tộc, nên có thể xem 3 tinh thần vừa nêu góp phần xây dựng bản sắc Việt Nam Cộng Hòa. 



Tinh Thần Nhân Bản

Nhân bản là lấy con người làm gốc.

Đã nói đến con người là nói đến suy tư. Nói đến suy tư là nói đến sự khác biệt giữa người với người. Hai trẻ sinh đôi lớn lên trong các điều kiện tương tự cũng mang nhiều khác biệt.

Suy tư lại dẫn đến hành động, hành động ảnh hưởng lẫn nhau, ảnh hưởng đến xã hội.

Ở mỗi người thì suy tư và hành động mỗi lúc mỗi khác, lúc đúng lúc sai và ai cũng đều có thể sửa đổi khi có cơ hội được sửa đổi.

Xã hội nhân bản chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt để đánh giá con người, không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt tư tưởng chính trị, giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc.

Nhân bản là cội nguồn của đa nguyên. Con người trong xã hội nhân bản luôn tìm hiểu, chấp nhận và tôn trọng mọi sự khác biệt để cùng nhau xây dựng một cuộc sống hài hòa trong cộng đồng dân tộc.

Ở xã hội nhân bản không ai có quyền lấy người khác làm phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng hay tổ chức nào. Mọi người đều có giá trị như nhau, có quyền và có bổn phận như nhau.

Tinh thần nhân bản nhìn nhận giới lãnh đạo quốc gia cũng dễ mắc phải những sai lầm thậm chí có thể gây ra tội ác. Một thể chế nhân bản là một thể chế đa đảng đối lập, quyền lực của tầng lớp lãnh đạo bị giảm thiểu và được pháp luật chặt chẽ kiểm soát.

Nhằm xây dựng một xã hội nhân bản mọi chiến lược, chính sách, chủ trương, hành động quốc gia đều phải phù hợp với bản tính con người, nhằm phục vụ con người, quan tâm tới quyền lợi và hạnh phúc của con người.

Đồng thời với nền giáo dục nhân bản, các sinh hoạt tôn giáo, sắc tộc, hướng đạo, văn hóa, nghệ thuật đều được khuyến khích và hỗ trợ một cách công bình không thiên vị. Các sinh hoạt nói trên góp phần không ít trong việc thực hiện xã hội nhân bản tại miền Nam.

Mặc dù chưa phải là một thành viên trong Liên Hiệp Quốc, miền Nam đã nhìn nhận, áp dụng và cổ vũ quyền con người, quyền dân sự được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, gia đình của những người ở phía bên kia vẫn được đối xử một cách công bằng như mọi công dân khác. Họ được luật pháp bảo vệ, được quyền bầu cử, quyền tham gia chính trị, được làm ăn buôn bán, con em họ được đến trường như mọi trẻ em khác tại miền Nam.

Từ năm 1962, chương trình Hồi chánh giúp trên 200 ngàn người ở phía bên kia buông súng quay về tạo dựng cuộc sống mới trong cộng đồng dân tộc.



Tinh Thần Khai Phóng

Khai phóng là bằng khả năng và trí tuệ hướng đến sự thật, đến điều tốt, điều thiện, đến­­ cái mới cái hay cái đẹp (Chân, Thiện, Mỹ).

Người có tinh thần khai phóng là người có suy nghĩ độc lập không cần sự chỉ đạo của người khác hay dẫn dắt bởi tập thể. Họ dễ dàng thích ứng với mọi môi trường và nhanh chóng đạt được những mục tiêu mới làm giàu cho cuộc sống họ, gia đình và nhân quần xã hội. Họ là những con người tự do.

Người có tinh thần khai phóng không ngừng hướng tới sự tiến bộ, tôn trọng sự thật, có tinh thần khoa học, mở rộng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới.

Tinh thần khai phóng sản sinh cho xã hội những công dân biết sử dụng quyền tự do của họ một cách có trách nhiệm, biết tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, giúp cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc tế, tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại.

Tinh thần khai phóng trong thể chế cộng hòa tạo sự bình đẳng giữa người với người, sự công bằng cho mọi công dân, và mọi người có đồng đều cơ hội tích cực cạnh tranh trở thành lãnh đạo quốc gia như trở thành Tổng Thống hay dân biểu nghị sĩ.

Nhờ tinh thần khai phóng, miền Nam đã xây dựng một hiến pháp và một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng. Mô hình chính trị là mô hình lưỡng đảng đối lập tranh quyền. Nền Cộng Hòa tại miền Nam có thể được xem là một nền dân chủ hiến định pháp trị tiên tiến vào bậc nhất trong khu vực Á châu thời ấy.



Tinh thần dân tộc

Tinh thần dân tộc đề cao các giá trị dân tộc như: độc lập, tự chủ, thuần phong mỹ tục hay chuẩn mực xã hội. Tinh thần dân tộc hình thành và phát triển theo lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc.

Trong hoàn cảnh khác nhau tinh thần dân tộc được biểu hiện qua hành động một cách khác nhau. Thời bình, thúc đẩy chúng ta đóng góp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, nâng cao dân trí. Thời chiến giúp đoàn kết cùng nhau đánh đuổi ngoại xâm.

Tinh thần nhân bản và tinh thần khai phóng giúp cho chúng ta cởi mở, cầu tiến, học hỏi điều hay cái đẹp của các dân tộc khác thì tinh thần dân tộc giúp chúng ta giữ gìn bản sắc của người Việt Nam.

Nền Cộng Hòa tại miền Nam tôn trọng các giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, sắc tộc, địa phương và đất nước.

Đồng thời bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Mặt khác bảo đảm sự đoàn kết và trường tồn của dân tộc, sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc gia.



Kết

30-4-1975 nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã đi vào lịch sử, nhưng bản sắc Việt Nam Cộng Hòa - nhân bản, khai phóng và dân tộc - vẫn còn được bảo tồn và truyền đạt đến các thế hệ Việt Nam ngày nay.

Đa số những người miền Nam bất luận trong nước hay ngoài nước vẫn tiếp tục đấu tranh cho tự do của người Việt từ Bắc xuống Nam.

Bản sắc Việt Nam Cộng Hòa ngày nay được nhiều người miền Bắc biết đến đặc biệt là giới trẻ những người đang tìm kiếm một con đường thay cho con đường cộng sản đang bị nhân loại đào thải.

Một dân tộc thiếu triết lý dẫn dắt sẽ không biết đang làm gì, sẽ đi về đâu, đi cách nào và làm sao để đạt được mục tiêu tối thượng.

Tổng hợp triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc đã thích hợp và thành công ở miền Nam Việt Nam, thì cũng sẽ thích hợp với cả hai miền Nam Bắc khi Việt Nam đã có được tự do.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

1-6-2015



VIỄN ẢNH VỀ CHÍNH THỂ CỘNG HÒA CHO VIỆT NAM.

Nguyễn Quang Duy

Các bạn trẻ quan tâm đến tình trạng đất nước thường phân vân giữa chính thể cộng hòa và thể chế dân chủ. Có bạn còn chưa rõ các quốc gia Đông Âu và Liên Xô đều đã theo chính thể cộng hòa và tương tự Việt Nam sẽ thế.



Cộng hòa - Cộng sản

Cộng hòa nghĩa là mọi công dân đều bình đẳng về chính trị. Có như vậy quyền lực chính trị mới thực sự thuộc về tòan dân. Công dân có quyền và có bổn phận bầu ra người đại diện quốc gia.

Nhờ bình đẳng về chính trị, nền cộng hòa khuyến khích sự phát triển của đa nguyên, đa đảng tạo nền tảng xây dựng xã hội dân chủ.

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (1946-76) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1976-) là quốc gia theo thể chế cộng sản. Đảng trên cả Tổ Quốc. Ngay trong đảng Cộng sản các đảng viên đã bị đối xử bất bình đẳng về chính trị.

Ngòai xã hội người dân đã mất hẳn quyền tự do chính trị. Hiến Pháp chỉ là hình thức. Phương thức “Đảng cử dân bầu” chỉ là dân chủ hình thức nên không thể xem là nước cộng hòa.

Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia Cộng Hòa trong thời chiến và đã trải hai qua hai nền Cộng Hòa - Tổng Thống chế.

Đệ Nhất Cộng hòa (1956-63) do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo qua 2 nhiệm kỳ và đã chấm dứt sau cuộc đảo chánh 1-11-1963.

Đệ Nhị Cộng hòa (1967-75) trải qua 3 đời Tổng thống.

1.  Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đắc cử 2 nhiệm kỳ và ông Thiệu đã từ chức ngày 21-4-1975.

2.  Tổng thống Trần Văn Hương chỉ được 7 ngày (21-4 đến 28-4-1975).

3.  Tổng thống Dương Văn Minh chỉ được 3 ngày 30-4-1975 thì đầu hàng quân đội Bắc Việt, chấm dứt nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Hai nền Đệ Nhất Cộng Hòa (1956-63) và Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-75) đã đi vào lịch sử. Mỗi nền Cộng Hòa có nhiều điểm khác nhau, việc đánh giá và viết lại trang sử là việc làm của những nhà viết sử.

Trong giới hạn bài viết chỉ xin đưa ra một số ưu điểm chung của cả hai nền Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam.



Giá Trị Của Nền Cộng Hòa tại Miền Nam

Việt Nam Cộng Hòa là một nước cộng hòa non trẻ trong thời chiến nhưng đã xây dựng dựa trên một nền tảng dân chủ: (1) công dân bầu Quốc Hội Lập Hiến (2) Quốc Hội Lập Hiến sọan Hiếp Pháp (3) công dân bầu Quốc Hội Lập Pháp và bầu Tổng Thống.

Quốc Hội Lập Hiến và Lập Pháp đều có sự tham gia của đa đảng chính trị. Các đảng chính trị đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng nền dân chủ và pháp trị tại miền Nam.

Cả Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đều đã có đối lập chính trị họat động trong nghị trường. Đệ Nhị Cộng Hòa đã bước đầu xây dựng được mô hình chính trị lưỡng đảng đối lập tranh quyền. Một mô hình được nhiều quốc gia tiên tiến áp dụng.

So với các quốc gia trong vùng Đông Nam Châu Á cùng thời, Hiến pháp 1967 chỉ rõ sự tiến bộ vượt bực của Việt Nam. Hiến pháp vừa ngắn gọn, rõ ràng, vừa nêu rõ chính phủ phải bảo đảm những quyền tự do căn bản, kể cả quyền đối lập chính trị. Hệ thống tam quyền phân lập cũng đã được đưa vào Hiến Pháp 1967.

Cũng so sánh với các quốc gia trong vùng, Việt Nam Cộng Hòa có một số đặc điểm nổi bật:

1.  Các quyền tự do căn bản đã được chính phủ bảo đảm, đặt biệt là quyền tư hữu;

2.  Xây dựng được một nền dân chủ tam quyền phân lập;

3.  xây dựng thành công một nền giáo dục, lấy nhân bản, khai phóng và dân tộc làm căn bản;

4. tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật phát triển;

5. báo chí tự do

6. theo kinh tế thị trường tự do;

7. nhưng vẫn đảm bảo được công bằng xã hội và dân sinh như y tế đại chúng hay thực hiện luật Người Cày Có Ruộng.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy các yếu tố trên là căn bản trong việc phát triển quốc gia. Nghĩa là nếu miền Nam không rơi vào tay cộng sản thì Việt Nam Cộng Hòa sẽ không thể kém xa các quốc gia Đông Nam Châu Á như hiện nay. Nếu không nói là sẽ vượt trội hơn nước người.

Sau 40 năm, đảng Cộng sản đã hủy họai tất cả những gía trị nền cộng hoà đạt được. Tuy nhiên giá trị tinh thần vẫn còn đó và sẽ đựơc phục hồi.



Tinh Thần Cộng Hòa vẫn tồn tại

Mặc dù Việt Nam Cộng Hòa không còn tồn tại nhưng sinh họat và tinh thần cộng hòa - nhân bản, khai phóng và dân tộc - đã ăn sâu vào cách suy nghĩ của người miền Nam.

Tinh thần này đã được truyền cho thế hệ tiếp nối và lan tỏa khắp nơi. Trong nước tại miền Nam các thế hệ đi trước đã kể cho con em họ về lịch sử của họ và của Việt Nam Cộng Hòa.

Ở hải ngọai tinh thần được những người tị nạn mang theo và gìn giữ. Biểu hiện rõ ràng nhất là các sinh họat cộng đồng tại Hoa Kỳ, Tây Âu và Úc châu vẫn tiếp tục sử dụng Quốc Kỳ, Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa và luôn gắn bó với cuộc đấu tranh giành lại tự do tại Việt Nam.

Ngày nay nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại tinh thần cộng hòa đang từng bước hồi phục tại Việt Nam.

Nhiều người sống ở miền Bắc hay trước đây theo cộng sản dần dần cũng nhận ra những ưu điểm mà thể chế cộng hòa mang lại cho dân, cho nước.

Việc công nhận Việt Nam Cộng Hòa cũng được ghi nhận trên những cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam.

Ngày nay, ở hải ngọai có hằng triệu người thuộc thế hệ tiếp nối Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ học hỏi, sống và làm việc tại các cường quốc trên thế giới họ đã tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm sẽ là nền tảng xây dựng lại Việt Nam. Một yếu tố mà Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa không hề có.

Một khi Việt Nam có tự do, những công dân gốc Việt cũng sẽ dùng lá phiếu, sẽ nỗ lực vận động các cường quốc giúp đỡ xây dựng lại Việt Nam.



Viễn Tưởng Về Nền Đệ Tam Cộng Hòa.

Tình hình thế giới đang biến chuyển không ngừng, càng ngày càng nhiều quốc gia trở thành các quốc gia Cộng Hòa. Úc trong 10 năm tới có thể cũng sẽ trở thành một quốc gia cộng hòa.

Tình hình Việt Nam cũng thế: (1) bên trên Bộ Chính trị càng ngày càng phân hóa, (2) bên trong đảng Cộng sản diễn biến hòa bình càng ngày càng khốc liệt, (3) bên ngòai xã hội thì đòi hỏi thay đổi chính trị mỗi ngày một tăng thêm và (4) các biến động Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam.

Các tổ chức tôn giáo, tổ chức đấu tranh chính trị, tổ chức xã hội dân sự đã và đang liên kết tìm một hướng đi mới cho Việt Nam.

Khi chế độ sụp đổ, các quốc gia Đông Âu và Liên Xô đều đã theo chính thể cộng hòa và tương tự Việt Nam sẽ thế.

Muốn có một nền tảng vững chắc cho tương lai, cần hướng đến một Quốc hội Lập hiến sọan một hiến pháp mới cho Việt Nam. Tên nước, cờ, thủ đô, mô hình thể chế dân chủ sẽ được tòan dân quyết định.

Cho đến nay lá cờ vàng vẫn là biểu tượng của những người theo khuynh hướng cộng hòa. Vì thế họ luôn tìm mọi cách vinh danh và hợp thức hóa lá cờ.

Quan điểm cho rằng phải bỏ màu cờ để có thể bàn chuyện dân chủ là một quan niệm thiếu dân chủ. Trước đây ở miền Nam và sau này ở Hải Ngọai cũng đã từng tranh luận công khai về việc thay đổi màu cờ.

Quan điểm dân chủ sẵn sàng chấp nhận phương cách đấu tranh dân chủ qua một cuộc trưng cầu dân ý để có một màu cờ chung cho tòan dân tộc.



Kết Luận

Việt Nam đã từ bỏ chế độ Quân Chủ, đang từ bỏ chế độ độc tài cộng sản, chính chế cộng hòa sẽ là thể chế tương lai Việt Nam. Các quyền tự do cơ bản và giá trị cộng hòa sẽ được phục hồi.

Nền Đệ Tam Cộng Hòa sẽ tiếp tục sứ mệnh xây dựng, giữ gìn đất nước và đưa đất nước đi lên hội nhập vào thế giới văn minh.

Các bạn trẻ dấn thân đấu tranh cho dân chủ khi nắm được điều đơn giản bên trên sẽ định được hướng đấu tranh một cách rõ ràng hơn.

Xây dựng lại đất nước là một việc rất khó, cần biết rõ phải làm gì để có thể làm nhanh hơn với kết quả tốt hơn.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi


30-5-2015