3/6/15

Tất cả vì “đại cục” nặng mùi

 Tất cả vì “đại cục” nặng mùi


Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông phi pháp, không chỉ làm hai siêu cường Mỹ, Trung đang căng thẳng mà nó còn là chuyện thời sự rất “nóng” ở Đông Nam và châu Á, cụ thể tại Hội nghị thượng đỉnh An ninh châu Á (Đối thoại Shangri-La) lần thứ 14 khai mạc ở Singapore ngày 29/5 vừa qua hầu hết nội dung phát biểu tại diễn đàn này đều cập, có lúc rất cứng rắn chỉ trích đích danh Trung quốc là thủ phạm.
Như Malaysia một quốc gia trước nay vốn kín tiếng kiệm lời cũng phải lên tiếng: “Căng thẳng Biển Đông có thể thành xung đột chết chóc nhất thế giới” đó là lời cảnh báo của ông Hishammuddin Hussein, bộ trưởng Quốc phòng Malaysia, tại diễn đàn hội nghị ngày 30.5. Trước đó chính vị Bộ trưởng này cũng đã đề xuất thành lập một lực lượng Liên minh gìn giữ hòa bình của các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Malaysia một quốc gia có đảo biển tranh chấp nằm trong vùng ranh giới 9 đoạn (đường chữ U, đường lưỡi bò) Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.
Còn Philippines là một trong 2 quốc gia cùng với Việt Nam bị Trung Quốc lấn chiếm đảo biển gay gắt và nhiều nhất, mà nổi cộm với Philippines là sự kiện tháng 4 - 2012 ở Bãi cạn Scaborough, đây là một cụm đảo san hô và đá ngầm, nằm cách bờ biển phía bắc đảo Luzon của Philippines 220 km và cách đảo hải Nam Trung Quốc hơn 800 km. 
Bãi cạn Scaborough trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý Philippinen.
Philippines khẳng định bãi cạn nằm gọn trong vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý của nước này, theo Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS 1982) bao gồm 107 quốc gia trong đó có cả Trung Quốc và Philippines đã ký. Tuy nhiên, Trung Quốc lại cho rằng đây là một phần lãnh thổ của nước này. Tàu phi quân sự của Trung Quốc kéo đến và hai bên đối đầu nhau không bên nào chịu rút, thời tiết mưa bão ở biển Đông khiến tàu Philippines không thể duy trì tại khu vực bãi cạn Scarborough được nên rút về, Trung Quốc thừa thế đã kiểm soát thực sự bãi cạn này.
Sau đó, Philippines đệ đơn kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế nhưng Trung Quốc cho rằng đây là tranh chấp song phương. Trung Quốc từ chối tham gia vào thủ tục phán xét của Tòa án Trọng tài quốc tế và tạo áp lực thương mại kinh tế song phương với Philippines. Nhưng Tổng thống Benigno Aquino và Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario khẳng định nước này sẽ kiên quyết theo đuổi tới cùng vụ kiện Trung Quốc về tranh chấp ở Biển Đông, cho rằng việc này là cách duy nhất mang lại giải pháp lâu bền. 
Philippines đã nộp tài liệu bao gồm 4.000 trang giấy, bản đồ và băng từ hình ảnh lên Tòa án Luật biển quốc tế (ITLOS) phản bác các yêu sách phi lý của Trung Quốc đề nghị tòa trọng tài đưa ra phán quyết xác nhận đường ranh giới 9 đoạn (đường chữ U, đường lưỡi bò) của Trung Quốc là vi phạm UNCLOS 1982 ở Biển Đông.
Mục đích kiên định của Phillippines có lẽ không chỉ là hiệu lực của phán quyết (mà tiên liệu Trung Quốc sẽ bất tuân) nhưng mục tiêu của họ là “quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” công khai hóa mọi thứ với thế giới, thể hiện họ là người đúng, là người có lẽ phải, còn Trung Quốc, là nước lớn, một trong 5 thành viên thường trực HĐBA/LHQ (Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc) nhưng không tuân thủ luật pháp, không theo thông lệ, nguyên tắc của các vùng biển vùng vịnh trên thế giới như…. Vịnh Biển Caribbean…
Vịnh Biển Caribbean
Ngoài 13 nước khu vực còn có cả Hoa Kỳ, Pháp, Hà Lan và Anh Quốc có liên quan lãnh thổ và quyền lợi ở khu vực Caribe. Nhưng qua nhiều thế kỷ đến nay trên cơ sở Luật Biển toàn khu vực vẫn rất trật tự trong yên bình.
Vịnh Mexico và duyên hải Mỹ - Mexico - Cu ba.
Rất giống với biển Đông, Nhưng Vịnh Mexico nó là nội hải của châu Mỹ chứ không là của riêng nước nào, dù Mỹ là siêu cường quân sự, kinh tế số 1 thế giới với hơn 50% duyên hải trong vịnh này, trong khi khu vực chỉ có Mỹ - Mexico và CuBa. 
Vừa qua Cuba mới công bố dữ liệu mới nhất về việc đã xác định được có hàng tỷ thùng dầu ở dưới đáy Vịnh Mexico nhưng lại thừa nhận rằng phía Mỹ vì bảo vệ môi trường biển nên không mấy quan tâm đến việc hợp tác khai thác, mặc dù quan hệ giữa hai nước đang dần tan băng. Thông tin về trữ lượng dầu khí mới này được phía Cuba công bố tại cuộc họp báo bên lề hội nghị khoa học về trái đất lần thứ 6, tổ chức tại thủ đô La Habana hôm 6-5-2015 vừa qua, với sự tham dự của các khách mời Mỹ.
Người ta tự hỏi, nếu là Trung Quốc thay thế Mỹ trong khu vực này, không biết sự thể “địa chính trị biển” sẽ ra sao khi tại Biển Đông, Trung Quốc hành xử như một thảo khấu giang hồ tham lam bá quyền khu vực…
Biển Đông và “lưỡi bò 9 đoạn Trung Quốc” 
Philippines biết người biết ta, rất khôn ngoan, ngoài liên kết với Mỹ-Nhật tuần tra, còn dựa vào hậu thuẫn của quốc tế và luật Biển khởi kiện đặt Trung Quốc vào cái thế với chủ trương “trỗi dậy hòa bình”, tư tưởng nước lớn muốn lãnh đạo thế giới Trung Quốc sẽ phải cân nhắc rất kỹ nếu muốn tiếp tục thực hiện những hành vi sai trái phi pháp với Philipines. 
Vì vậy trước việc Bắc Kinh tuyên bố không tham gia vụ kiện, nhiều nước trên thế giới đang lên tiếng kêu gọi Trung Quốc phải hợp tác nhằm thể hiện trách nhiệm tuân thủ luật Biển Quốc Tế UNCLOS 1982.
Thắm thiết vì “đại cục” 6 sao Trung Quốc 
Quay về Việt Nam, hoàn cảnh y hệt như Philippines nhưng các chóp bu CSVN dứt khoát: Không kiện Trung Quốc, không đoái hoài đến lời kêu gọi phối hợp tuần tra của Philippines, Hoa Kỳ và Nhật Bản trên Biển Đông và không quan tâm đề xuất của Malaysia thành lập một lực lượng Liên minh gìn giữ hòa bình của các quốc gia Đông Nam Á. (Đó là vì đại cục quan hệ hai nước, Trung Quốc Việt Nam).(Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng)
Tại sao lại như vậy? Duy nhất, chỉ có quyền lợi nhóm, bầy đàn của CSVN và CSTQ mới vì cái “đại cục” rất nặng mùi này.
03/06/2015

Dân không được quyền im lặng nhưng đảng, nhà nước được quyền câm mồm!

 Dân không được quyền im lặng nhưng đảng, nhà nước được quyền câm mồm!


Le Nguyen (Danlambao) - Còn độc quyền đảng lãnh đạo, còn chế độ độc tài toàn trị CSVN là còn oan sai, là còn tội ác phát triển không có điểm dừng bởi một bộ phận không nhỏ lãnh đạo đảng, nhà nước không nghe được tiếng người, không động lòng trước tiếng kêu thống thiết bi thương của người dân thấp cổ bé miệng bị cướp đất cướp nhà, bị cướp đi phương tiện làm ăn sinh sống, bị cướp đi mạng sống với những lý do vớ vẩn của những con thú đội lốt người nhân danh thi hành công vụ!
Những tên lãnh đạo mắc chứng thiểu năng không nghe được tiếng người lại mắc bệnh tâm thần phân liệt nên chúng không hiểu được tấm lòng của những công dân yêu nước cất tiếng nói cảnh báo về thảm họa bắc triều, về nguy cơ của bọn phản động, thế lực thù địch leo cao, luồn sâu trong bộ máy đảng, nhà nước âm thầm thực hiện âm mưu xâm lược của bá quyền đại hán và cũng chính vì một bộ phận không nhỏ lãnh đạo mãi quốc cầu vinh không hiểu được tiếng người nên chúng không thể tiếp thu được nếp sống văn minh, nhân bản của loài người tiến bộ trong thời đại tin học.
Với một bộ phận không nhỏ lãnh đạo không nghe được tiếng người lại mắc bệnh tâm thần phân liệt mắc chứng thiểu năng di truyền nên đánh mất khả năng của một con người có đầu óc phán triển bình thường. Nghĩa là bình thường ai cũng có thể tiếp nhận được những điều tốt đẹp, những tiến bộ xã hội về hướng văn minh. Thế nhưng với quan chức cộng sản, điển hình là những quan chức cao cấp đảm trách ngành công an nằm trong bộ phận lập pháp, một cơ quan quyền lực cao nhất nước được quy định trong hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại có những câu lời phát ngôn theo kiểu “ông nói gà bà nói vịt” về quyền im lặng không bình thường, thiếu chất xám trí tuệ, cạn nghĩ như trẻ con, không thể che đậy như sau:
“... Luật cần đảm bảo quyền dân chủ cho dân nhưng cũng phải tạo điều kiện cho cơ quan tư pháp làm việc, nếu không sẽ xảy ra tình trạng chúng ta bó tay trong cuộc đấu tranh chống tội phạm” (thượng tướng Đặng Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Công an.)
“...Giết người, đánh người gây thương tích mà bảo là được quyền im lặng, không phải trình bày gì cả thì không đúng... Các cơ quan nêu ra quyền im lặng rất vô lý, không thể chấp nhận được. Trong trình độ dân trí và điều kiện của chúng ta như vậy thì hoàn toàn không phù hợp, gây khó khăn cho các cơ quan đấu tranh bảo vệ pháp luật, dẫn đến hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm sẽ thấp...” (thiếu tướng Trịnh Xuyên giám đốc công an Thanh Hóa.)
“...Bị can, bị cáo không bị ép nhận tội nhưng đừng quy định một cách bắt chước nước ngoài là anh không cần phải khai báo... Lời khai vẫn là một chứng cứ. Quy định bị can, bị cáo không cần khai là máy móc. Mình nên quy định bị can, bị cáo có quyền tự do trình bày lời khai, không bị ép buộc. Đừng nhìn vào một số vụ oan sai mà đảo lộn tất cả...” (thiếu tướng Lê Đông Phong, phó giám đốc công an thành phố Hô Chí Minh.)
“... Án chưa rõ gọi là án truy xét. Còn lại thành phần là các đối tượng sau khi bắt, truy xét mở rộng gọi là án truy xét mở rộng. Cho nên việc quy định quyền im lặng là không phù hợp với thực tiễn hiện nay...(thiếu tướng Nguyễn Đức Chung, giám đốc công an thành phố Hà Nội.)

“... Tội phạm không khai báo gì cả thì sao xử lý?... Cái này phải làm rõ là bị can, bị cáo được phép trình bày ý kiến và quan trọng nhất là chống lại bức cung nhục hình. Chứ không phải cứ khăng khăng im mồm như thế, nếu cứ nghĩ như thế là diễn biến hòa bình, chống lại nhân dân...” (đại biểu quốc hội, tiến sĩ luật Đỗ Văn Đương, ủy viên thường trực ủy ban tư pháp quốc hội.)(*)
Lẽ ra với đầu óc bình thường, có một chút chất xám trí tuệ, dù không đọc được ngoại ngữ, chỉ cần biết cách hoặc chịu học cách sử dụng công cụ tin học, truy cập thông tin trên các trang mạng điện tử tiếng việt là đã biết được lịch sử, ý nghĩa, lý do của thế giới loài người tiến bộ áp dụng luật im lặng. Không khó, chỉ cần chịu đọc, chịu tìm hiểu sẽ biết sau nhiều trăm năm áp dụng luật im lặng trong đời sống pháp quyền, loài người biết lợi ích, giá trị của luật im lặng rồi nâng lên thành quyền im lặng, là một quyền căn bản không thể thiếu trong chuổi quyền con người mà ai cũng phải được hưởng và nếu có đọc qua, có nghiên cứu chắc hẳn các ông “ tướng công an” của đảng, nhà nuớc ta không phát ngôn những câu lời ngớ ngẩn “mù quáng bất kể chết” đậm chất hài ở quốc hội, là nơi được quy định là cơ quan quyền lực cao nhất nước!
Trong kho tàng danh ngôn, là túi khôn của loài người có câu: “Chẳng thà câm miệng để người ta tưởng mình ngu hơn là mở mồm nói những điều ngớ ngẩn để người ta không còn nghi ngờ gì nữa.” Câu danh ngôn này rất đúng với trường hợp của các ông tướng lãnh đạo ngành công an mở mồm nói về quyền im lặng trong dự thảo luật tố tụng hình sự sửa đổi trong phiên họp quốc hội và nghe các ông “tướng” nói, dù không bất ngờ nhưng thật sự không biết nên cười hay nên khóc cho trình độ quan trí của lãnh đạo đảng, nhà nước cộng sản Việt nam? 
Trái với trình độ “i - tờ” của một bộ phận không nhỏ lãnh đạo đảng, nhà nước về quyền im lặng, là có một bộ phận không nhỏ người dân thể hiện kiến thức về quyền im lặng ở trình độ khá cao trong một chế độ chuyên nghề bưng bít thông tin, dư thừa công cụ khủng bố trấn áp, dày đặc khẩu hiệu tuyên truyền, với loa đài, loa miệng ra rả ngày đêm là điều đáng mừng. 
Để nhận biết kiến thức, trình độ hiểu biết của người dân về quyền im lặng so với các ông tướng công an như thế nào, chúng ta cùng nhau đọc trích dẫn lời góp ý của người dân trên các báo lề đảng kèm theo dưới đây: 
“Giữ im lặng không có nghĩa là không nói, điều cơ bản là quá trình điều tra phải có luật sư, có người chứng giám hoặc các phòng xét hỏi phải có thiết bị ghi âm, ghi hình mà công an không phải là người kiểm soát (bạn Tiến Lên)
“Quyền im lặng đâu phải là im lặng để chống đối hay không hợp tác với cơ quan điều tra đâu mà quyền im lặng là thể hiện sự công bằng khi xét hỏi. Quyền im lặng được thực hiện khi người bảo hộ cũng như luật sư của người bị xét hỏi chưa có mặt, như vậy thì quyền im lặng cũng có lợi cho cơ quan điều tra tránh được mớm cung, nhục hình cũng như án oan. Vậy thì cớ sao lại không đồng tình thông qua quyền im lặng mà phải tranh luận?” (bạn Nguyễn Văn Ren.)
“... Quyền im lặng sẽ được thực hiện từ khi nghi phạm bị bắt giữ đến cuộc thẩm vấn đầu tiên được tổ chức với sự tham gia của luật sư của nghi phạm, được ghi âm, camera quan sát... Từ đây, nếu anh cứ tiếp tục "im mồm" hoặc không thì đó chính là tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ khi nghị án. Áp dụng quyền im lặng chính là nâng cao sự phân lập của "Tam quyền". Bảo vệ quyền con người chứ không bảo vệ tội phạm - trường hợp này họ mới chỉ là "nghi phạm" chưa phải tội phạm. Kết luận vụ án chủ yếu dựa vào chứng cứ, lời khai chỉ là một phần. Nếu anh thực sự có tội thì cho dù ngoan cố không khai, cơ quan điều tra cũng sẽ thu thập đầy đủ chứng cứ để kết tội thích đáng...” (bạn Trần Ngọc Vinh.)
“...Không thể hiểu nổi, một cái quyền hiển nhiên phải có của một con người, cái quyền đã được cả thế giới tiến bộ thực hiện từ rất lâu rồi, đã nằm trong công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, cũng đã được hiến pháp Việt Nam công nhận, tại sao cứ phải tranh cãi nên hay không nên? Nhà nước ta, một nhà nước đi theo chủ nghĩa xã hội, luôn khẳng định là nhà nước do dân, vì dân, nhưng một thứ quyền mà công dân ở những nước khác đã được hưởng từ lâu, nhưng đến ta lại là vấn đề bàn ra tính vào mãi chưa hồi kết, buồn lắm thay...

...Anh là nhà điều tra, anh nói người ta có tội, muốn kết tội người ta, anh phải có trách nhiệm chứng minh người ta phạm tội, đấy là lẽ hiển nhiên. Anh là nhà điều tra, được ăn học, đào tạo, được nhà nước trả lương từ thuế của dân, anh phải có đủ trách nhiệm, đủ trình độ để chứng minh được việc đó. Nếu anh không đủ trình độ, anh có thể xin ra khỏi ngành để làm công việc khác chứ đừng vì quyền lợi và sự ngu dốt của bản thân mà tước bỏ đi cái quyền rất đơn giản của con người. Quyền của nghi can được im lặng cho đến khi có luật sư của mình sẽ khiến điều tra viên buộc phải vận dụng trí tuệ và các biện pháp hợp pháp để phá án chứ không phải là dùi cui và quyền lực để ép cung.

Khi áp dụng quyền im lặng, cơ quan điều tra sẽ phải nâng cao nghiệp vụ của mình bằng cách tăng cường kỹ thuật khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai từ nhân chứng, tìm kiếm các thông tin khác về nghi phạm, động não suy luận để làm sao cáo buộc của cơ quan tố tụng chắc chắn hơn. Đây là điều sẽ làm cho hoạt động của cơ quan tố tụng tích cực hơn.” (bạn Phạm kiên.)(**)
Đọc qua một số ý kiến, phản biện của người dân về quyền con người và sự hiểu biết về quyền con người của người dân, không phải là khoa bảng, chuyên gia ngành luật nhưng đã vượt trội hơn các ông tướng công an. Hiện tượng hiển nhiên đó tuy có bất ngờ nhưng không làm cho chúng ta ngạc nhiên với một bộ phận không nhỏ lãnh đạo các cấp không nghe được tiếng người lại thiểu năng trí tuệ, thậm chí là có biểu hiện tâm thần bởi nó là hậu quả của quy trình, quy định theo quy hoạch, cơ cấu nhân sự “ truyền thừa”của đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam.
Qua phát ngôn linh tinh, lang tang của ông tiến sĩ luật, ủy viên thường trực ủy ban tư pháp quốc hội và các ông tướng lãnh đạo ngành công an lãnh lương từ tiền thuế của dân thực thi luật pháp với nhiệm vụ trị an, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ cuộc sống an bình cho dân, giúp chúng ta có cơ sở đánh giá là các ông này không hiểu, thậm chí là không biết nguyên nhân, ý nghĩa về quyền im lặng là gì, nên mới ăn nói, suy luận ngu ngơ tưởng rằng thì là như sau: “...Các cơ quan đưa ra quyền im lặng là rất vô lý, không thể chấp nhận được... Việc quy định quyền im lặng là không phù hợp với thực tiễn hiện nay... Trình độ dân trí và điều kiện của chúng ta hiện nay thì hoàn toàn không phù hợp... Đừng bắt trước nước ngoài không cần khai báo là máy móc...Không khai báo gì cả thì sao xử lý... cứ khăng khăng im mồm như thế, cứ nghĩ như thế là diễn biến hòa bình, chống lại nhân dân...”
So sánh phát ngôn của một bộ phận không nhỏ lãnh đạo “đại biểu quốc biểu” với ý kiến phản biện trên các báo lề đảng của một bộ phận không nhỏ người dân bình thường về quyền im lặng đã thấy độ chênh kiến thức, trình độ hiểu biết và lý luận thuyết phục lẫn không thuyết phục của người dân với các quan chức lãnh đạo đảng, nhà nước. Tuy nhiên đó chỉ là ý kiến, nhận thức của người dân bình thường đọ với đội ngũ lãnh đạo được rèn luyện, đào tạo bài bản nghiệp vụ, hiểu biết luật pháp để thi hành công vụ giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ người dân đã thấy độ lệch kiến thức có một khoảng cách khá xa và nếu đem một bộ phận không nhỏ lãnh đạo công an trong cái cơ quan quyền lực cao nhất nước này đọ với các trí thức khoa bảng, chuyên gia ngành luật có thực tài nằm ngoài hệ thống đảng, nhà nước, chắc chắn khoảng cách kiến thức còn “khủng” hơn nữa.
Như thế quan trí thấp hay dân trí thấp? Vậy mà người dân cứ phải nghe những luận điệu tuyên truyền dóc láo của các quan chức lãnh đạo “tâm thần” của đảng, nhà nước viện cớ rằng, thì, là: “...dân trí thấp, dân chủ đa đảng là sinh loạn... trình độ dân trí thấp, thực hiện quyền im lặng là không phù hợp với thực tiễn...’’ để từ chối những quyền chính đáng của người dân được đảng, nhà nước hứa hẹn cũng như quy định trong luật pháp, hiến pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày xưa và nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay.
Đã 70 năm qua kể từ ngày đảng cộng sản cướp chính quyền năm 1945 quyền biểu tình, quyền được biết... quyền dân làm chủ đất nước được đảng, chế độ cộng sản long trọng tuyên bố “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...” vẫn nằm yên trên giấy, trên cửa miệng của một bộ phận không nhỏ lãnh đạo thiểu năng, bệnh hoạn không nghe được tiếng người, không tiếp thu được lối sống của loài người văn minh, lại mạnh miệng chống đối quyền im lặng trên diễn đàn quốc hội như kẻ điên và tự cho mình cái quyền câm mồm không trả lời mọi đòi hỏi, bức xúc của người dân nằm trong khuôn khổ quyền dân chủ, quyền được biết về minh bạch ngân sách, về hiện tình đất nước... phù hợp với khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” của nhà nước dân chủ pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam!
03.06.2015
_______________________________
Chú thích:

Quê hương giữa đôi bờ nước mắt

 Quê hương giữa đôi bờ nước mắt


Lời người dịch: Tsering Woeser là nhà văn và là nhà hoạt động người Tây Tạng. Câu chuyện có thực dưới đây là một chương trong tác phẩm tựa đề Tây Tạng Bút ký của bà được xuất bản vào năm 2003 ở Trung Quốc. Tác phẩm này sau đó đã bị cấm và bà bị mất việc, mất nhà, bị “cải tạo” và bị cấm xuất cảnh. Bà hiện sống ở Bắc Kinh.

Hôm ấy vào một ngày hè nóng nực năm 1999. Như thường lệ, chùa Tsuglakhang rất đông khách thập phương và người hành hương đến viếng. Và như thường lệ, Nyima Tsering đứng ở lối vào để bán vé và sẵn sàng làm hướng dẫn viên du lịch thuyết minh bằng tiếng Anh và tiếng Trung Quốc cho khách từ xa đến vãng cảnh chùa. Không giống với những lạt ma khác, trên báo chí và đài truyền hình họ gọi ông là “lạt ma hướng dẫn viên du lịch.” Tuy nhiên ông không chỉ là hướng dẫn viên du lịch, mà còn là người giữ nhiều chức vụ, đặc biệt nhất là Ủy viên Thường trực Hội đồng Nhân dân ở Lhasa. Cho nên, chúng ta thường thấy trên các bản tin của đài truyền hình Tây Tạng và đài truyền hình Lhasa một nhà sư trẻ mặc áo dài choàng màu đỏ nâu sậm ngồi giữa các viên chức trông nghiêm nghị mặc áo quần của người thế tục. Ông lúc nào trông cũng điềm đạm, chín chắn, và tự tin.
Vào ngày ấy, ai đấy bảo Nyima Tsering nộp hai tấm hình cho bộ liên quan để làm hộ chiếu. Họ cho ông biết vài ngày sau ông sẽ bay đến Bắc Kinh để gia nhập với các viên chức khác thuộc nhiều bộ của chính phủ. Tất cả họ đều sẽ tham dự hội nghị nhân quyền quốc tế ở Na Uy. Na Uy? Chẳng phải là quốc gia nơi đức Đạt lai Lạt ma nhận giải thưởng Nobel Hòa bình vào năm 1989 sao? Nyima Tsering cảm thấy sung sướng tuy hơi lo lắng. Khi ông đi nộp hình, một người ở đấy thấy vẻ mặt lạ lùng của ông liền nói, “Ông đừng lo lắng, những người đi cùng với ông đều là cấp cao cả đấy. Họ chẳng giống như các viên chức Lhasa chẳng biết gì.”
Chẳng bao lâu Nyima Tsering đáp máy bay một mình đến Bắc Kinh. Tất nhiên ở cuối mỗi chuyến bay đều có người lo cho ông. Ông không thể nhớ rõ ràng ông đã gặp ai hay đã nói gì. Hai ngày sau ông lại đáp máy bay, lần này với mười đến hai mươi đại biểu đến Na Uy, tuy nhiên, ông hầu như chẳng nhớ bất kỳ điều gì trên đường đi. Lẽ ra ông nên nhớ rất rõ ràng những trải nghiệm của mình. Tuy nhiên, so với những từ “nhân quyền”, những vấn đề khác đối với ông chẳng quan trọng bằng. Ngoài hội nghị ra còn có điều gì khác có thể khiến ông rất quan tâm đến? Dù sao, ông là người Tây Tạng duy nhất đến từ Tây Tạng và là lạt ma duy nhất trong chiếc áo tu sĩ.
Nhưng những người đi trong đoàn này quả thực khác hẳn. Họ lớn tuổi hơn ông, và khác với các viên chức Lhasa, họ có vẻ học cao hiểu rộng, cư xử lịch sự, và không ồn ào hay ra vẻ kẻ cả. Đến ngày hôm nay, Nyima Tsering vẫn còn nhớ lúc ông cảm thấy ngượng ngùng khi ông không thể cầm được nước mắt, và viên chức từ Ban Dân tộc Thiểu số và Tôn giáo được phái đi theo ông hỏi thầm, “Chắc ông không được khỏe?” Rồi im lặng. Khi Nyima Tsering cuối cùng bật khóc, không ai yêu cầu ông phải giải thích; ông rất biết ơn sự im lặng gần như thông cảm ấy.
Những ngày nay khi nhắc đến cuộc hội nghị, Nyima Tsering thường tránh nói về những chi tiết như diễn biến, người tham dự, nội dung, hoàn cảnh, địa điểm, không khí hay gặp gỡ, thảo luận, tham quan, vân vân của sự kiện. Thật sự hai chuyện ông kể lại tưởng như xảy đến thình lình. Và hoàn toàn bất ngờ - như thể chúng bị kìm nén trong lòng ông quá lâu đến nỗi ông giờ không thể nào đè nén được nữa. Ông đột ngột cắt ngang cuộc trò chuyện, để từ miệng ông bật ra lời kể về những chuyện này.
Chuyện đầu tiên xảy ra khi phiên họp vào buổi sáng ngày đầu tiên kết thúc. Ông và những đại biểu khác đang trên đường đến dự bữa tiệc trưa ở tòa đại sứ - tất nhiên tòa đại sứ Trung Quốc. Bao mối lo lắng suốt thời gian qua đã tan biến dần vì chẳng ai làm phiền ông hay hỏi ông những câu hỏi khó trả lời. Ông thích thú ngắm nhìn cảnh phố xá Bắc Âu thanh lịch khi xe họ chạy chậm qua các đường phố, và ông bắt đầu trò chuyện với những người nước ngoài ngồi kế bên. Dần dần, ông dường như đã trở lại con người tự tin ngày trước khi ông thường đưa những người nước ngoài đi tham quan chùa Tsuglakhang. Vì vậy, khi xe bất ngờ dừng lại và cửa xe mở ra, tiếng người - ôi chao, tiếng người ấy, tiếng của rất nhiều người ấy - tưởng như sấm sét nổ vang trên đầu ông. Ông cảm thấy như ông đã bị trúng thương và đang chịu dư chấn của một vụ nổ lớn. Ông gần như bất tỉnh và hầu như không bước đi nổi.
Tàu khựa... Lạt ma Tàu khựa... Lạt ma cộng sản.
Bên ngoài tòa đại sứ, hàng chục khuôn mặt tức giận có nét mặt không thể nào thân thuộc hơn đối với Nyima Tsering; hàng chục cái miệng đang thét lên bằng tiếng nói không kém phần thân thuộc hơn. Những người nam nữ này cũng trạc tuổi ông và cũng cùng chung dòng máu. Khác biệt duy nhất là họ là những người Tây Tạng lưu vong; còn ông và chỉ một mình ông là “người Tây Tạng được giải phóng” từ Tây Tạng đến. Họ mang những biểu ngữ họ đã viết trên đấy NGƯỜI TRUNG QUỐC, HÃY TRẢ QUÊ HƯƠNG LẠI CHO CHÚNG TÔI bằng tiếng Anh, tiếng Tây Tạng, và tiếng Trung Quốc. Vào lúc ấy, trong thành phố nơi Đạt lai Lạt ma đã nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, đồng bào của Nyima Tsering hoàn toàn bị ngăn cách với ông.
Mọi người khác đều ra khỏi xe và bước đi thẳng mà chẳng để ý đến cảnh tượng trước mắt ấy. Nhưng ông không thể như thế được. Làm sao ông có thể làm như thế được? Sau này, cho dù cố gắng cách mấy chăng nữa, ông cũng không thể nào nhớ lại làm sao ông đã vượt qua được khoảng cách ngắn từ chiếc xe đến tòa nhà. Lúc đó khoảng cách ấy tưởng như là con đường dài nhất và gian khổ nhất ông đã đi qua trong suốt ba mươi hai năm cuộc đời. Chiếc áo tu sĩ Tây Tạng giống như ngọn lửa cháy rực, và những cái nhìn ghê tởm của những người biểu tình tựa như những giọt dầu nóng hay bơ sôi văng tung tóe. Những giọt này bắn lên đầu cúi gục xuống, lưng còng, và đôi chân lê bước nặng nề của ông và càng làm cho ngọn lửa cháy mạnh hơn.
Nhớ lại trải nghiệm này, Nyima Tsering nói giọng chát chúa hơn bình thường, “Tôi biết làm gì, tôi biết làm gì? Tôi đang mặc cái này...” Kéo mạnh chiếc áo dài choàng màu đỏ đậm, ông khẽ lặp lại lời ấy như thể tự nói với mình.
“Từ đó trở đi,” ông nói, “Tôi không bao giờ còn có thể cảm thấy vui vẻ và vô tư lự ở hội nghị. Suốt trong bốn ngày tôi bắt đầu thấm hiểu nghĩa của câu nói con kiến trong cái chảo nóng.”
Đến lúc cuối cùng ông đi qua được con đường ngắn nhưng đầy gian nan ấy, lòng ông đã bị tổn thương nặng nề. Ông cảm thấy như thể ông đã bị sắt nung đóng dấu vào người. Ông muốn khóc, nhưng không có nước mắt để khóc. Những người ở tòa đại sứ giả vờ như chẳng có gì xảy ra, hay ta có thể nói, họ thường nhìn mà không thấy. Không ai nhắc đến sự cố bất ngờ này. Họ đều nói về những chuyện khác. Trong lúc mọi người khác ăn uống và trò chuyện lịch sự, Nyima Tsering chẳng nuốt nổi được miếng nào, cảm giác như bị mắc xương trong cổ. Đây là lần đầu tiên ông thấy rất nhiều người Tây Tạng ở nước ngoài - hay nói chính xác, rất nhiều người Tây Tạng lưu vong. Mặc dù họ chỉ cách có mấy bước, nhưng bao dãy núi đã ngăn cách họ với ông.
Nhiều người chắc hẳn đã nói với ông về nhiều chuyện. Nhưng chẳng chuyện nào quan trọng hay quan hệ gì. Ông lắng nghe nhưng không thật sự chú ý, lắng nghe, quên. Vì lòng ông đã bị tổn thương, ông đã mất tinh thần. Song ông vẫn nhớ - ngoài những cái liếc mắt thông cảm từ những người nước ngoài đã đi cùng xe với ông - viên chức từ Bắc Kinh được phái theo ông hỏi thầm, “Chắc ông không được khỏe?” Nyima Tsering gần như gật đầu. Ông ta trông hiền lành và lịch sự; và dù sao, với tư cách là người phát ngôn cho vụ Dân tộc thiểu số và Tôn giáo của Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa, dù muốn hay không, ông cũng là tâm điểm của sự chú ý của mọi người.
Bao mối lo lắng đã theo Nyima Tsering suốt mấy ngày qua vừa mới tan biến đi thì chúng lại xuất hiện. Những mối âu lo mà càng trĩu nặng thêm trong lòng kể từ khi ông rời Lhasa thật khó mà vơi đi, thế mà bây giờ lại thêm bao nỗi lo lắng mới. “Nếu mình bước ra ngoài cửa và gặp lại họ thì sao? Chắc họ sẽ khinh bỉ mình, chế giễu mình, hay cảm thấy thương hại mình? Chắc không, bây giờ trong đầu họ mình là lạt ma Tàu khựa, lạt ma cộng sản.” Ông mĩm cười cay đắng.
Dù trong lòng vẫn còn hơi lo lắng, ông đánh bạo bước ra ngoài tòa đại sứ. Ông thở dài nhẹ nhỏm, rồi bất ngờ cảm thấy lạc lõng. Những người Tây Tạng hô hào hồi nãy đã biến mất, và chỗ ấy giờ trống vắng. Họ đã đi về đâu?
Ngày thứ hai trôi qua êm ả.
Vào ngày thứ ba, Nyima Tsering phát biểu, đây chính là lý do thật sự mà chính quyền đưa ông đi dự hội nghị. Vì trong các cuộc hội nghị trước không có tiếng nói của người Tây Tạng nên những tuyên bố của Trung Quốc về tình trạng nhân quyền ở Tây Tạng luôn luôn yếu ớt và không thuyết phục. Họ hy vọng sự hiện diện và chứng thực của Nyima Tsering sẽ chứng minh điều khẳng định người Tây Tạng có quyền và những quyền này được bảo vệ. Tuy nhiên ai biết chăng lòng Nyima Tsering ngổn ngang bao mối lo khó xử? Nói như thế nào? Nói gì đây? Nên nói gì... và không nên nói gì? Ông thật khổ tâm. Mặc dù ông biết, dưới chiếc áo dài choàng đỏ đậm này, ông chẳng hơn gì con rối, nhưng ông không muốn có vẻ quá lạc điệu hay đi quá sự đúng mực. Một cách kín đáo, ông hỏi ý kiến của một người nước ngoài mà ông đã bắt đầu tin tưởng. Người nước ngoài khuyên thầm ông nên nói chung chung và tránh đề cập đến bất kỳ điều gì cụ thể.
Nyima Tsering vì vậy đọc thuộc lòng bài phát biểu ông đã chuẩn bị theo “văn bản” hay chính xác hơn, theo “văn bản” gởi cho báo, đài và truyền hình. Bài phát biểu hoàn toàn phù hợp với những ý tưởng thường xuất hiện trên truyền thông trong nước: văn hóa của dân tộc Tây Tạng hoàn toàn được bảo vệ và phát huy, người Tây Tạng có tự do tôn giáo, và quần chúng tu hành đều yêu nước. Mọi người trong hội nghị im lặng lắng nghe ông. Chỉ một người từ thính giả, một người Mỹ, hỏi bằng tiếng Anh, “Nếu vậy, ông có tự do gặp gỡ Đạt lai Lạt ma?” Mặc dù ông đã chuẩn bị trước cho những câu hỏi thuộc loại này, nhưng khi nghe tên của người lãnh đạo - như vào ngày đầu tiên, khi ai đấy chỉ cho ông thấy nơi Đạt lai Lạt ma nhận giải thưởng Nobel Hòa bình - ông ngẩn người ra. Nhưng ông lấy lại bình tĩnh ngay và trả lời một cách khôn khéo, “Đây là câu hỏi chính trị, tôi từ chối trả lời.” “Câu hỏi chính trị gì ở đây chứ? Câu hỏi về một người Tây Tạng, một lạt ma, muốn gặp Đạt lai Lạt ma của mình sao lại có thể là câu hỏi chính trị?” Tất cả những người khác đều không hỏi bất kỳ câu hỏi nào như thể mọi người ở hội nghị thấu hiểu được hoàn cảnh và nỗi lòng của Nyima Tsering. Ông nghĩ như thế.
Ngày thứ tư cuối cùng đến. Ông tưởng những ngày đau khổ sắp qua đi. Nhưng, bất ngờ thay, cú đánh lớn nhất giáng xuống vào ngày cuối cùng.
Sau khi kết thúc hội nghị, họ tổ chức cho đoàn đại biểu đi xem một công viên quốc gia nổi tiếng. Các công viên ở Na Uy đều rất đẹp và đầy bao nét quyến rũ về sự cùng tồn tại hài hòa với thiên nhiên. Cảnh đẹp khiến vị lạt ma trẻ, người lớn lên trên mái nhà thế giới, thấy lòng vơi bao sầu muộn. Khi ông nhìn quanh, một phụ nữ trẻ đến gần ông. Cho dù chị mặc áo thun và quần jeans - trông chẳng khác gì áo quần của những người nước ngoài quanh ông - Niyama Tsering nhận ra ngay tức thì chị là người Tây Tạng. Chị có khuôn mặt Tây Tạng, vẻ Tây Tạng, đặc trưng Tây Tạng.
Người phụ nữ bước đến Nyima Tsering và hai tay dang ra tưởng như chị tình cờ gặp lại người bạn bặt tin từ lâu. Đột nhiên, ông như chìm đắm vào giấc mộng, nghĩ đã gặp chị trước đây. Ông không thể nào cưỡng lại việc nắm tay chị lúc chị nắm chặt tay ông. Bất ngờ thay, người phụ nữ không chịu buông tay ông ra và bắt đầu khóc to lên. Chị vừa khóc ràn rụa vừa nói với ông bằng tiếng Tây Tạng, “Thầy ơi, thầy làm gì ở đây vậy? Thầy làm gì với bọn Tàu này? Thầy là người Tây Tạng, hãy nhớ thầy là người Tây Tạng, đừng giao du với họ...”
Nyima Tsering xiết bao bối rối và buồn bã, nhưng ông chẳng thể rút tay lại cũng chẳng thể nói nên lời. Đám đông bắt đầu xúm lại. Tất cả những người nước ngoài, họ đều rất tò mò trước cảnh một nhà sư mặc áo dài choàng đỏ đang bị người phụ nữ khóc lóc giữ chặt. Không một ai trong đoàn can thiệp, ngược lại họ còn bỏ đi thật nhanh và làm ra vẻ cảnh tượng ấy chẳng liên quan gì đến họ, mà có thể được hiểu là cử chỉ cảm thông và thấu hiểu. Đến lúc này, viên chức do tòa đại sứ phái đi theo Nyima Tsering suốt trong bốn ngày qua mới mở miệng. “Nyima Tsering, chúng ta đi thôi. Kệ bà ta.”
Người phụ nữ Tây Tạng không hiểu tiếng Trung Quốc, nhưng chị cũng có thể đoán được ông ta nói gì. Chị nổi giận và ra sức la lại ông ta bằng tiếng Anh. Nyima Tsering liền cản chị và nói lặp đi lặp lại, “Tôi biết, tôi biết, tôi biết...” Người phụ nữ vẫn khóc tiếp và nói, “Nếu thật sự thầy biết, thì thầy đừng trở lại nữa.” Khó nhọc lắm, Nyima Tsering mới nói buột ra điều ông nghĩ trong lòng: “Làm sao tôi có thể không trở về chứ? Quê hương chúng ta ở đấy. Nếu chúng ta ai cũng bỏ đi hết thì còn ai ở lại Tây Tạng?” Khi ông nói những lời này, ông không thể nào cầm được nước mắt. Mắt ông đẫm lệ.
Rốt cuộc nhiều người đến giúp ông thoát ra tình trạng khó xử này. Họ là những người Tây Tạng được các đơn vị công tác của họ ở Lhasa - như Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội TAR, Đại học Tây Tạng, và thư viện - cử đi học những khóa học cao cấp ngắn hạn ở Na Uy. Nyima Tsering chẳng quen họ, nhưng ông biết họ giống như ông: Những người Tây Tạng ở Tây Tạng. Đến ngày hôm nay ông cũng chẳng hiểu tại sao rất nhiều người Tây Tạng thuộc nhiều thành phần khác nhau lại tập trung ở công viên ấy. Tất nhiên, lúc ấy ông không nghĩ về điều ấy. Ông vội vàng giật nhanh tay mình ra khỏi tay nắm chặt của người phụ nữ vẫn đang khóc, xong ông vội lấy áo lau khô nước mắt, và chạy trở lại với đoàn.
“Thưa thầy, “một trong những người đã đến giúp ông khuyên ông một cách ân cần”, nếu ai hỏi chuyện gì đã xảy ra, thầy chỉ nói với họ người trong gia đình bà ta qua đời cho nên bà ta nhờ thầy thắp những ngọn đèn bơ và tụng kinh cầu siêu cho người đã khuất ở chùa Jokhang khi thầy trở lại Lhasa.” Nyima Tsering gật đầu liền, nhưng cảm thấy đau nhói trong lòng. Tưởng như mọi chuyện đã xảy ra đã được chấp nhận, chẳng một ai liếc nhìn ông hay nói lời nào khi ông đến gần. Tựa như chẳng có chuyện gì xảy ra - chẳng có gì đáng bàn tán.
Cuối cùng đã đến lúc rời Na Uy - nhưng không rời ngay. Phái đoàn phải chờ thật lâu ở phi trường: hơn hai giờ. Những người đứng đầu và cán bộ từ tòa đại sứ, kể cả người không bao giờ tách rời Nyima Tsering suốt bốn ngày qua, đã đi về sau khi đưa phái đoàn ra phi trường. Trong những giờ chờ đợi dằng dặc này mọi người ngồi, đứng, đi qua đi lại trong phòng chờ phi trường sáng sủa, rộng rãi và ấm cúng. Bất luận họ là công dân nước nào chăng nữa, họ đều có vẻ tự do và thanh thản. Nyima Tsering cũng đi thơ thẩn qua lại tự do. Dường như chẳng ai theo dõi ông, điều này khiến ông cảm thấy ông có thể đi đâu tùy ý. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu ông: Nếu mình không đi với họ thì sao? Dù sao, hộ chiếu ở trong người mình, và mình có đủ tiền. Nếu mình mua vé khác đi đến nơi nào đấy...
Tất nhiên, đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua. Như tôi đề cập vào lúc đầu, Nyima Tsering lúc nào cũng điềm đạm, chín chắn, và tự tin. Cho nên cuối cùng, ông - con kiến trong chảo nóng - trở lại với đoàn. Trở về quê hương dường như là cách tốt nhất cho ông. Tuy nhiên, khi máy bay chầm chậm rời phi trường Oslo, khi Na Uy-biểu tượng của thế giới tự do - dần dần bỏ lại phía sau, hai dòng nước mắt lặng lẽ chảy dài xuống đôi má gầy guộc của Tsering.
Nguồn:
Dịch từ tạp chí Mānoa, chủ đề “Beyond Words-Asian writers on their work”, University of Hawai’s Press, 2006. Trang 97-103. Bản dịch tiếng Anh của Jampa, Bhuchung D. Sonam, Tenzin Tsundue, và Jane Perkins. Tựa đề của người dịch, tựa đề tiếng Anh “Nyima Tsering’s Tears”.
Bản tiếng Việt:

Con tôi đã ra đi

 Con tôi đã ra đi


Nguyễn Xuân Nghĩa (Danlambao) - Đã có và sẽ có nhiều nữa con cháu của các cán bộ, đảng viên đảng cộng sản lớn nhỏ đương quyền bỏ nước đến làm công dân của các nước tư bản. Mâu thuẫn là ở Việt Nam giới lãnh đạo CS cưỡng bức dân chúng sống với chủ nghĩa cộng sản của họ, trong khi họ đưa con cháu sang kia sống với thế giới tư bản, cái thế giới mà họ đã từng nói đang giãy chết. Họ đã không và chẳng bao giờ dám lên tiếng giải thích cho trường hợp này.
Con cái họ bị đàn áp chính trị? Không! Chính họ đang đàn áp người dân kia mà. Họ yêu chủ nghĩa tư bản, thích xã hội dân chủ? Vậy sao họ không làm điều này ngay tại Việt Nam, nơi họ có quyền làm, vừa hợp với xu thế của thời đại và đòi hỏi của phần lớn người dân? Thiết nghĩ câu hỏi không khó trả lời. Những người cộng sản đang nắm quyền sống với xã hội cộng sản để kiếm nhiều tiền. Con cháu không thể kiếm nhiều tiền trong xã hội cộng sản, thì di cư sang xã hội tư bản để kiếm nhiều tiền hơn. Lớp trước và lớp sau đều có mục tiêu kiếm tiền. Lý tưởng cộng sản chỉ nói để lừa bịp dân chúng. Họ chính là những kẻ đầu cơ chính trị mặt thớt nhất.
Không giống những người cộng sản cho con cháu ra đi để kiếm nhiều tiền hơn, ở phần còn lại trên cả hai miền Nam-Bắc, sau năm 1975, hàng triệu người dân đã bỏ nước ra đi. Họ mới là những người có lý tưởng thực sự. Cho đến nay còn có nhiều người tiếp tục ra đi, (dù có người bị mang tiếng dùng hoạt động dân chủ nhân quyền làm cơ hội). Họ không chịu nổi chính quyền cộng sản độc tài và ăn tàn phá hại. Đối với họ, không phải tổ quốc trên hết mà tự do mới là trên hết. 
Ba giờ đêm qua, (2/6) con trai út của tôi, cháu Nguyễn Thanh Thủy cũng đã ra đi. Cháu đi mà không bị mang tiếng là kẻ cơ hội. Có chăng là những ân hận vì phận làm con... 
Chính xác mà nói cháu ra đi một cách bất đắc dĩ. Ba lô trên vai, phút cuối cùng cầm tay mẹ, đuôi mắt của cháu đỏ tía lên, nước mắt ướt nhòe. Tôi phải vội quay đi giả làm người vô cảm. Lên Hà Nội, về nhà trọ thu dọn ít đồ đạc gửi về nhà, cháu còn viết cho chúng tôi mấy dòng sau:
Sinh vào đầu năm 1988, tuổi âm vẫn còn trong năm 1987, cháu hiền lành, ngoan ngoãn, tư chất thông minh, hướng nội. Khi bố bước vào con đường phản biện xã hội, cháu tiếp thu tư tưởng của bố. Tuy nhiên cháu vẫn còn đặt niềm tin vào sự thay đổi ở cấp vĩ mô. Các năm đầu đời sinh viên (2007-2008), trong nhiều cuộc biểu tình chống sự xâm lược của Trung cộng tại Hà Nội, biểu ngữ cháu giương lên vẫn cái nội dung tin tưởng, khuyến khích đảng, nhà nước “CHÍNH PHỦ HÃY CỨNG RẮN LÊN. SINH VIÊN ĐỨNG BÊN CẠNH CHÍNH PHỦ” Yêu nước và ôn hòa đến thế là cùng! 
Khi bố bị bắt và kết án tù, cháu vỡ mộng và đã tham gia vào một khóa học “đấu tranh cho dân chủ bằng phương pháp bất bạo động”. Tụi công an cộng sản phát hiện ra và chúng không để cháu học và sống yên ổn. Cháu đi đâu cũng có người của chúng bám theo. Đi một bước chúng theo sát một bước. Ở Hà Nội có công an Hà Nội, về Hải Phòng thăm mẹ có công an Hải Phòng. Có lần một gã còn vượt lên và chửi: “Mẹ cái thằng này, mày có muốn đi tù như cái thằng bố mày không!”
Cháu phải nhẫn nhục chịu đựng hầu mong yên ổn để học xong đại học. 
Nguyện vọng của đời cháu là kiến thức. Cháu từng nói: “Lao lực nuôi thiên hạ, lao tâm thiên hạ nuôi”. Câu nói có phần ích kỷ, nhưng diễn đạt được ham mê của cháu. Tốt nghiệp, cháu làm thủ tục du học tại New Zealand. Cháu chọn quốc gia này bởi nghĩ ở đó không có nhiều người Việt Hải Ngoại như Mỹ - một nơi nhạy cảm không bao giờ chính quyền cộng sản chấp thuận cho cháu đến. Nhưng chính quyền cộng sản không buông tha cháu, vì cháu có một người bố “phản động” và cháu đã có một thời mang tư tưởng của bố. Phải từ bỏ ước mơ học lên cao, cháu tìm việc làm. Cháu không thể tìm được việc gì để nuôi sống bản thân. Ngay đến nghề bán hàng thuê cho một hiệu giày, công an Hà Nội cũng can thiệp bắt chủ cửa hàng đuổi cháu. Không những vậy, có một lần bà chủ nhà trọ còn bị công an phường mời lên gặp yêu cầu đuổi cháu ra đường. Năm 2014 cháu bị thu hộ chiếu tại sân bay khi đã có viza nhập cảnh vào Mỹ. 
Những ai quan hệ với cháu đều bị phiền lụy. Cháu đã từng có hai bạn gái. Năm cuối cùng đại học, bạn gái đầu tiên của cháu phải đến gặp cháu, nước mắt giàn dụa nói lời chia tay. Cháu gái này chỉ còn mẹ và rất yêu mẹ. Hai mẹ con cùng nhận giấy mời. Người mẹ nhận giấy của đơn vị đang công tác, người con nhận giấy của công an quận. Yêu cầu họ đưa ra cho hai mẹ con là con phải chấm dứt quan hệ với con, mẹ phải chấm dứt quan hệ với mẹ. Cái giá phải trả là con bị đuổi khỏi trường cao đẳng, mẹ bị đuổi khỏi cơ quan nếu không vâng lời.
Giống như lần đầu tiên, năm 2014 cháu quen bạn gái thứ hai, là một kiến trúc sư, đã có việc làm đúng nghề tại Hà Nội. Dưới áp lực của công an, cháu gái thứ 2 cũng phải nói lời xin lỗi. 
Thực ra cháu Thủy chưa nghĩ đến hôn nhân, Cháu đặt ra mục tiêu là phải học lên nữa. Các cuộc chia tay không làm cháu bận tâm nhiều, nhưng thương cho hai cháu gái kia đã lỡ đặt vào cháu tất cả hy vọng...
Người cộng sản thù đến ba đời. Công an, cán bộ quân đội khi quyết định hôn nhân phải truy ra lý lịch ba đời của đối tượng...
Một chế độ tàn độc đến mức khi công dân nào đã bị khoanh tròn thì bị tiêu diệt cả hôn nhân và cuộc sống, cả sự nghiệp và tương lai nếu là người có chút học hành... 
Trong hoàn cảnh tuyệt vọng như vậy, giống như hàng triệu người khác, cháu quyết tâm ra đi.
Cuộc chạy trốn khỏi chế độ độc tài lần thứ nhất của cháu vào năm 2014 (khi tôi còn ở trong tù) không thành. Chúng thu hộ chiếu của cháu ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng hí hửng vô cùng khi chúng kịp đưa ra hành vi trả thù hèn hạ đúng với bản chất cộng sản của chúng (để cho mà biết). Điều này càng thôi thúc cháu phải quyết tâm hơn. Cháu thấy cần phải đi, bằng mọi cách, để cho chúng biết, không phải việc gì, lúc nào chúng cũng làm được. Không phải cứ xây nhà tù kiên cố là giam cầm được khát vọng tự do...
May thay, cuộc trốn chạy lần này của cháu thành công
Khi tôi viết những dòng này cháu đang bay đến Hoa Kỳ, một vùng đất tự do trong các quốc gia tự do mà chúng ta đang lấy làm hình mẫu cho tương lai của tổ quốc ta. Đáng tiếc là cháu không còn cơ hội đối đầu trực tiếp với chế độ toàn trị như bố. Nhưng cháu ra đi không phải vì tiền như con cái lũ cộng sản đã nói ở phần trên. Ở đó cháu sẽ tiếp tục học lên nữa, vừa làm vừa học nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt hải ngoại, nhờ sự cưu mang của một đất nước nhân đạo và đang đấu tranh cho nhân phẩm toàn cầu. 
Cám ơn nước Mỹ, cám ơn những người đã và đang giúp cho cuộc đời cháu không bị phí hoài.
ĐỪNG NGHĨ NHIỀU CON TRAI. BỐ MẸ SẼ SỐNG ĐẾN NGÀY CON TRỞ VỀ TRẢ HIẾU. CON HÃY TRỞ VỀ HÃNH DIỆN TRONG HÀNG TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM HẢI NGOẠI TRỞ VỀ. 
1 h đêm ngày 3/6/2015.

2/6/15

Thế kẹt của CSVN hiện nay

 Thế kẹt của CSVN hiện nay


Cánh Dù lộng gió (Danlambao) - Chưa bao giờ CSVN lại nhiều vua, lắm chúa như thời nay, BCT có 16 ông bà vua, bên ngoài nhìn vào coi có vẻ đồng lòng với nhau, nhưng thực ra trong đó có 3 phe chính, phe thân Trung Cộng, phe ngả về Mỹ, phe dung hòa, gió chiều nào che chiều nấy.
Các phe phái này luôn âm thầm gầm gừ đấu đá nhau trong các cuộc họp kín, chỉ cần một chút sơ hở là đem nhau ra trước cuộc học, phê bình, mổ xẻ. đã có lúc phe Nguyễn Phú Trọng tưởng chừng như đã lật ngược được thế cờ, khi nắm những yếu điểm tham nhũng của Nguyễn Tấn Dũng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng đã đảo lộn thế cờ lại 180o, cuối cùng NPT phải tuyên bố không kỷ luật một Đ/C "X". 
Cay cú đến độ chảy nước mắt ra, nhưng NPT đã kịp nuốt cục tức vào bụng, để gầy sòng Bạc lại, khi đã chắc ăn NPT tổ chức cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm, rốt cuộc một lần nữa NPT lại bị bẽ mặt trước đại hội khi kiểm phiếu bầu. Người mà NPT chắc mẫm kỳ họp này sẽ hạ bệ qua màn bỏ phiếu tín nhiệm lại được nhiều phiếu tín nhiệm nhất, kể từ đó NPT chỉ

Hội đồng Liên tôn Việt Nam tuyên bố về việc nhà cầm quyền CSVN cố tình triệt hạ Chùa Liên Trì-Thủ Thiêm

  Hội đồng Liên tôn Việt Nam tuyên bố về việc nhà cầm quyền CSVN cố tình triệt hạ Chùa Liên Trì-Thủ Thiêm


Hội đồng Liên tôn Việt Nam - Chúng tôi cũng kính mong các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền, các cơ quan báo chí, các cộng đồng người Việt khắp nơi, nhất là vị Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự tôn giáo, hãy lên tiếng phản đối, tìm cách ngăn chặn việc làm phi tôn giáo, phi nhân quyền của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam giữa lúc VN đang mong muốn gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Sự tồn tại của Chùa Liên Trì tại Thủ Thiêm cũng là sự tồn tại của tự do tôn giáo, sự tồn tại của những giá trị tâm linh, sức mạnh tinh thần vốn rất cần thiết cho một Việt Nam đang từng ngày bị băng hoại bởi chủ nghĩa và chế độ duy vật vô thần, độc tài toàn trị.
Kính gởi:
- Quý Chức sắc và tín đồ các Tôn giáo tại Việt Nam.
- Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
Đồng kính gởi:
- Tiến sĩ Heiner Bielefeldt, Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo.
- Các Chính phủ dân chủ năm châu, các Tổ chức nhân quyền quốc tế, các Cơ quan báo chí hoàn vũ.
Ngày 13-05-2015, một tổ chức thuộc Ủy ban Nhân dân quận 2, thành phố Sài Gòn, gọi là “Hội đồng bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định khu đô thị mới Thủ Thiêm” đã gởi đến Hòa thượng Thích Không Tánh, Phó Viện trưởng kiêm Tổng ủy viên Từ thiện Xã hội thuộc Tăng đoàn Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (nhưng gọi xách mé theo thế danh là “ông Phan Ngọc Ấn”) một “Thông báo về việc gửi tiền vào ngân hàng để áp dụng biện pháp hành chính thực hiện thu hồi đất đối với cơ sở thờ tự chùa Liên Trì trong khu đô thị mới Thủ Thiêm”.
Trong thông báo này, nhà cầm quyền CS quận 2 cho biết đã gởi vào Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam số tiền trên 784 triệu đồng VN, cùng với lời hứa hẹn tái bố trí chùa Liên Trì trên nền đất số 17 và một phần nền đất số 16, 18 lô C2-05 tại khu dân cư 50ha phường Cát Lái, quận 2 với diện tích là 609,75 m2. Đây là thái độ cường quyền lần thứ hai sau thái độ cường quyền thứ nhất vốn đã biểu lộ ngày 18-08-2014, khi nhà cầm quyền phường An Khánh, quận 2, gởi đến Hòa thượng một “Thư mời” mang tính triệu tập cùng bản “Phụ lục” với lời lẽ đe doạ sẽ “thực hiện biện pháp hành chính để thu hồi chùa” bằng số tiền giải tỏa đền bù là 5.418.076.120 đồng (xin xem Tuyên bố của HĐLTVN ngày 30-08-2014).
Tiếp tục lập trường của mình là bảo vệ tự do tôn giáo cũng như cơ sở tài sản của Giáo hội do các vị tiền bối để lại, Hòa thượng Thích Không Tánh quyết không di dời chùa Liên Trì và không nhận số tiền bồi thường mà nhà cầm quyền-qua việc tự ý chuyển vào ngân hàng như biện pháp hành chánh- đã áp lực Hòa thượng phải nhận để cướp lấy rồi phá hủy chùa.
Trước sự kiện này, trong tinh thần hiệp thông các giáo hội và ý thức bảo vệ lẽ phải cũng như tự do tôn giáo, Hội đồng Liên tôn Việt Nam tuyên bố:
1- Vì đã hiện diện tại Thủ Thiêm hơn 70 năm nay, như một nơi chiếu rọi ánh đạo vàng và đức từ bi của Phật giáo cho nhân dân trong vùng, Chùa Liên Trì phải có quyền tồn tại ở khu đô thị mới này, mà theo quy hoạch là một khu dân sinh. Mà người dân thì dù ít dù nhiều vẫn có niềm tin tôn giáo và cũng cần cơ sở tôn giáo để phục vụ cho các nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng, phượng thờ của họ (như truyền thống ngàn đời của Dân tộc).
Việc xóa bỏ sự hiện diện của chùa Liên Trì (cũng như mọi cơ sở tôn giáo khác) tại Thủ Thiêm trước hết là bất biết nhu cầu tôn giáo chính đáng của nhân dân! Thứ đến là tạo điều kiện để những kẻ vô thần có thể ung dung làm chuyện tội lỗi, thậm chí tội ác, vì thiếu sự hiện diện mang tính nhắc nhở lẫn quấy rầy của tôn giáo, và như thế là tiếp tục việc phá hủy truyền thống đạo đức văn hóa dân tộc mà chế độ CS đã và đang làm hơn 70 năm nay trên đất Việt.
2- Ngoài mục đích tạo lợi nhuận cho các nhóm lợi ích thân cận với đảng viên và quan chức địa phương tại vùng đất vàng này (dẫn tới việc di dời cách bất công hơn 15 ngàn hộ dân), việc xóa sổ Chùa Liên Trì còn nhằm chấm dứt vĩnh viễn những hoạt động tại đây mà nhà cầm quyền CS đã luôn coi là một nguy cơ cho chế độ.
Đó là việc cho các dân oan mất đất được đến tá túc trên hành trình khiếu kiện của họ, một hành trình vừa đầy ắp những đau khổ tuyệt vọng của dân lành vừa ngập tràn những tố cáo lên án đối với chế độ bất công và tàn nhẫn. Đó là việc quy tụ để săn sóc, an ủi, cứu trợ các Thương binh Việt Nam Cộng Hòa, một thành phần bất hạnh mà đến tận hôm nay, đảng CS vẫn tiếp tục căm thù và coi như bằng chứng tố cáo cuộc xâm lăng trắng trợn của họ. Đó là việc mở rộng cửa cho sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức xã hội dân sự độc lập mới bắt đầu hình thành nhưng đã bị nhà cầm quyền cho là bất hợp pháp, gây nguy hiểm cho chính sách độc tài toàn trị. Đó cũng là việc tổ chức những hoạt động từ thiện như giúp đỡ kẻ nghèo, cứu trợ bệnh nhi trong một tinh thần nhân đạo làm cảm động lòng người nhưng lại gây khó chịu cho những kẻ thực thi việc cứu tế cách máy móc, vô cảm.
3- Chúng tôi tự hỏi luật lệ chính đáng nào cho phép nhà cầm quyền độc đoán nhét vào tay người dân (ở đây là qua ngân hàng) một số tiền để cưỡng bức họ phải ra đi để lại tài sản (đất đai, nhà cửa) với lý do là để nhà nước thực hiện kế hoạch phát triển dân sinh, trong khi thực chất chỉ là kinh doanh trên mồ hôi xương máu của họ và tổ tiên họ kể kiếm lợi nhuận kếch sù. Điều này có vô vàn bằng chứng kể từ khi đảng Cộng sản tự cho mình là sở hữu chủ mọi tài nguyên đất đai của nước Việt và kể từ khi đảng tống cổ hàng vạn tập thể và hàng triệu cá nhân (nông dân lẫn thị dân) ra khỏi nơi sinh sống và sinh hoạt lâu đời của họ.
4- Cùng với Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất quốc nội lẫn hải ngoại, cùng với bao tiếng nói của cá nhân và tập thể trong nước lẫn ngoài nước, người Việt lẫn người ngoại quốc, Hội đồng Liên tôn cực lực phản đối kế hoạch cưỡng chiếm Chùa Liên Trì của nhà cầm quyền Cộng sản, cũng như hoàn toàn ủng hộ lập trường của Hòa thượng Viện chủ. Đây lại thêm một bằng chứng nữa về chính sách đàn áp tôn giáo của Nhà cầm quyền độc tài vô thần cộng sản, một chính sách sắp được hợp pháp hóa qua Luật Tín ngưỡng Tôn giáo mà Quốc hội –dưới sự chỉ đạo của đảng- đã biên soạn bất chấp ý kiến, nguyện vọng và quyền lợi của các tôn giáo.
5- Chúng tôi cũng kính mong các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền, các cơ quan báo chí, các cộng đồng người Việt khắp nơi, nhất là vị Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự tôn giáo, hãy lên tiếng phản đối, tìm cách ngăn chặn việc làm phi tôn giáo, phi nhân quyền của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam giữa lúc VN đang mong muốn gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Sự tồn tại của Chùa Liên Trì tại Thủ Thiêm cũng là sự tồn tại của tự do tôn giáo, sự tồn tại của những giá trị tâm linh, sức mạnh tinh thần vốn rất cần thiết cho một Việt Nam đang từng ngày bị băng hoại bởi chủ nghĩa và chế độ duy vật vô thần, độc tài toàn trị.
Làm tại Việt Nam ngày 31 tháng 5 năm 2015, nhân Đại lễ Phật đản.

Các chức sắc trong Hội đồng Liên tôn VN đồng ký tên.
Công Giáo:
- Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371)
- Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205)
- Linh mục An-tôn Lê Ngọc Thanh (điện thoại: 0993.598.820) 
- Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335)
Phật Giáo:
- Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881)
- Thượng tọa Thích Viên Hỷ (điện thoại: 0937.777.312)
Tin Lành:
- Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045)
- Mục sư Đinh Uỷ (điện thoại: 0163.5847.464)
- Mục sư Đinh Thanh Trường (điện thoại: 0120.2352.348)
- Mục sư Nguyễn Trung Tôn (điện thoại: 0162.838.7716)
- Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908)
- Mục sư Lê Quang Du (điện thoại: 0121.2002.001)
- Mục sư Đinh Diêm (điện thoại: 0169.237.4741)
Cao Đài:
- Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240)
- Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117)
- Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719)
Phật Giáo Hoà Hảo:
- Cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng (điện thoại: 0199.2432.593)
- Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039)
- Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082)
- Ông Tống Văn Chính (điện thoại: 0163.574.5430)

Quê hương tôi cứ mãi điêu linh (Kỳ 2)

 Quê hương tôi cứ mãi điêu linh (Kỳ 2)


Huỳnh Tâm (Danlambao) - Cải cách ruộng đất, một bi kịch lịch sử.
Hồ Chí Minh sao chép nguyên mô hình đấu tố cải cách ruộng đất của Trung Cộng, sau đó đặt xuống Việt Nam, mục tiêu tác động đầu tiên chọn biểu tượng đấu tố, phải một địa chủ phú nông, đặc biệt đánh mạnh làm sôi động tình hình chính trị, cái chết đó đem đến ý nghĩa cho cách mạng. Cải cách ruộng đất miền Bắc Việt Nam từ cuối năm 1953, điểm cao nhất 1954 đến 1956. Hầu hết cán bộ Việt Minh, quân nhân và gia đình cách mạng đã từng chống Nhật và chống Pháp, tham gia vào cuộc cải cách ruộng đất, đấu tố "Trí phú, địa hào-đào tận gốc trốc tận rễ".
Miền Bắc trải qua cuộc bão tố long trời lở đất, tàn khốc nhất của dân tộc Việt Nam, hàng trăm ngàn "địa chủ và nông dân" đã bị bắn, giết, thủ tiêu, chôn sống và cầm tù. Cuối cùng Việt Cộng hô khẩu hiệu thật to "Đảng sáng suốt, vĩ đại, văn minh nhất thế giới". 
Cuối năm 1953, Hồ Chí Minh hiện đại hóa "hệ thống huy động quần chúng", mục tiêu xới đất giết người thay đổi xã hội, đảng "Bác" đã đề ra giết người theo tỷ lệ đấu tố. Riêng tại tỉnh Thái Nguyên miền Bắc Việt Nam có một người phụ nữ tên Nguyễn Thị Năm gia đình địa chủ yêu nước đã từng tài trợ, đóng góp tiền muôn bạc vạn nuôi "Bác", xây dựng "đảng", để rồi đảng quay đầu hồn ma báo oán, chiếu cố bà Nguyễn Thị Năm đưa đi diễu hành trước công chúng làm thí điểm thực hiện cải cách ruộng đất. Sau đó ĐCSVN thừa nhận rằng cuộc đấu tố cải cách ruộng đất đối với nông dân, địa chủ quá nghiệt ngã và mở rộng thanh lý nội bộ đảng.
Địa chủ Nguyễn Thị Năm chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi phong trào yêu nước, trong cuộc chiến chống Pháp, Việt Minh xem bà thành phần cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam, thường gọi (Chính Phủ Việt Minh) tổ chức bí mật đấu tranh vũ trang, được bà Năm hỗ trợ mạnh mẽ, giúp đỡ nhiều vật dụng, thóc gạo, y tế, nhà cửa, tiền, quần áo và thực phẩm. Việt Minh kêu gọi mọi người quyên góp vàng để hỗ trợ cuộc chiến chống Pháp, vào thời đó riêng bà Nguyễn Thị Năm dâng hiến cho "Bác" một trăm hai mươi lạng vàng (120).
Nhà của bà Năm trở thành bộ máy Việt Minh, nơi sinh hoạt an toàn nhất của các cơ quan đảng trong những năm 1942-1956. Bà từng nuôi những thành viên của Bộ Chính trị và Trung ương Việt Minh, Chính phủ Việt Cộng Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh (Ruan Zhiqing), Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang-Huang Yue), Lý Văn Lương (Li Wenliang) Hoàng Hữu Nhân, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị v.v...
Trước Cách mạng tháng Tám, gia đình bà Năm từng ủng hộ Việt Minh 20.000 đồng bạc Đông Dương (tương đương bảy trăm lạng vàng lúc bấy giờ). Khi chính phủ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam tổ chức "Tuần lễ vàng", bà đóng góp hơn 120 lạng vàng. Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc, trong đó có 3 năm làm Chủ tịch hội Phụ nữ. Khi thực hiện lệnh "tiêu thổ kháng chiến", bà đã cho san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm. Hai người con trai Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát đều tham gia chống Pháp. Nguyễn Hanh quân hàm Đại tá Trung đoàn trưởng 351, Sư đoàn 380, một trong những quân nhân cao cấp nổi tiếng chống Pháp. Người con thứ là ông Nguyễn Cát học "Trường thiếu niên Việt Nam Lư Sơn" tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Năm 1953 Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát bị bắt giam đưa đi cải tạo đến cuối năm 1956 mới được thả về nhà.
Bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) và các con của bà. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu.
Việt Cộng Bắc Việt quyết định cải cách ruộng đất, bà Nguyễn Thị Năm được chọn "địa chủ" ác ôn số một, bà đã có công đóng góp quá nhiều cho cách mạng, tuy nhiên Việt Minh cho rằng bà có âm mưu phản cách mạng, đảng giải thích "bà Năm trà trộn vào hàng ngũ cách mạng, phá hoại cuộc cách mạng từ bên trong". Và cho rằng "Trường hợp khai tử bà Nguyễn Thị Năm là chính xác để bảo vệ chất lượng đảng, bởi đảng cần cải thiện toàn nội bộ đảng". Trải qua quá trình thanh lọc vì bảo vệ đảng, âm thầm đố kỵ địa chủ trong cơ sở lãnh đạo đảng, những tiết lộ CCRĐ rất hạn chế, mập mờ đối với thuộc cấp. Mọi hoạt động thông qua Đại sứ quán Trung Quốc La Quý Ba (Luo Guibo) và nhà lãnh đạo lâu năm Kiều Hiểu Quang (Qiao Xiaoguang), trách nhiệm đẩy mạnh CCRĐ, do cơ quan cố vấn điều hành chính trị Trung Quốc và Hồ Chí Minh, họ đứng đầu chính sách cải cách ruộng đất tại Việt Nam.
La Quý Ba (Luo Guibo) cho biết ngắn gọn, "Hướng dẫn Việt Nam tham gia cải cách ruộng đất, đòi hỏi nhóm cố vấn Trung Quốc tiến hành trên mọi khía cạnh, tuyên truyền và đánh vào bao tử nhân dân. Trước đó ban cô vấn Trung Cộng mời Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam tham dự bữa khoản đãi, có mặt Kiều Hiểu Quang (Qiao Xiaoguang) từ Quảng Tây đến Hà Nội, tạo ra thanh thế mới cho nhóm cố vấn. Ngay sau đó, chuyên gia Trung-Việt kết hợp, nó được đặt tên là kế hoạch Kiều Hiểu Quang chịu trách nhiệm Phó trưởng nhóm cố vấn chính trị. Những gì đã xảy sau chuyến công du bí mật của Lưu Thiếu Kỳ vào năm 1952, và chuyên gia cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam hành động theo chỉ thị Trung Cộng". 
Người ta biết nhiều về cải cách ruộng đất tại Việt Nam, qua cuốn sách "Hồi ký cách mạng" của La Quý Ba (Luo Guibo), nhưng cuốn sách này không bao giờ được xuất bản tại Việt Nam. Đáng chú ý nhất về nội dung nói đến Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông, trao đổi quân sự, kinh tế, quan hệ ngoại giao và kết quả CCRĐ, ảnh hưởng Trung Quốc về hệ tư tưởng, xây dựng đảng, đào tạo trí thức, chính sách văn hóa, cơ bản trồng người. Theo sự hiểu biết chung, Hồ Chí Minh nhạy cảm cải cách ruộng đất, ông ta mở ra chiến dịch vào mùa xuân năm 1954. La Quý Ba nhớ lại các cố vấn cải cách ruộng đất của Trung Cộng đã đến miền Bắc Việt Nam vào năm 1952, bắt đầu những công việc hướng dẫn cán bộ, chuẩn bị huy động quần chúng. Chủ yếu lãnh đạo ĐCSVN ủng hộ Trung Cộng cải tạo nông nghiệp, Ủy ban cải cách thành lập do chủ trì Bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), ông ta ảnh hưởng Trung Cộng sâu sắc, ông ta hoàn toàn tuân theo sự hướng dẫn của nhóm cố vấn Trung Cộng. Toàn bộ quan điểm CCRĐ do ĐCSVN lãnh đạo, tạo ra áp lực mạnh mẽ đối với nhân dân Việt Nam. [1]
Nhóm chuyên gia cố vấn Trung Quốc trả lời với Trường Chinh rằng "con hổ cái và hổ đực chúng sống nhờ ăn thịt". Ý nói: Địa chủ nam hay nữ đều kẻ ác không phân biệt. Vì vậy, khi thực hiện giết bà Nguyễn Thị Năm là con đường đúng đắn của "Đảng-Bác". Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Thái độ vụ án Nguyễn Thị Năm do Hồ Chí Minh tuyên án tử hình đã được tiết lộ: "Điều đó có phép chúng ta bắn một người phụ nữ để khởi động chiến dịch của đảng, tuy trong quá khứ bà Năm đã giúp chúng ta, dù con trai của bà ấy chỉ huy trung đoàn cách mạng". Đảng đã có quyết định thực hiện giết bà Nguyễn Thị Năm. Hồ cho biết quan điểm của mình, "Tôi tuân theo đa số, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng cô ấy sai đáng giết." [2] 
Sau khi thực hiện giết bà Nguyễn Thị Năm, Hồ Chí Minh trở giọng can thiệp: "Tại sao chúng ta không thể bắn một người đàn ông địa chủ để bắt đầu cải cách ruộng đất. Tại sao giết một phụ nữ phi địa chủ của chúng ta?" Hồ Chí Minh nói rằng "giết một người phụ nữ không đáp ứng được các đạo đức truyền thống Việt Nam". Một cách khác Hồ Chí Minh muốn bao che nhóm chuyên gia cố vấn Trung Quốc, ông phát biểu nhái lại lời của La Quý Ba "Con hổ cái và hổ đực chúng sống nhờ thịt, vì vậy, bắn bà Nguyễn Thị Năm được đảng chiếu cố thực hiện quá tốt". [3] 
Theo hồi ức của Hoàng Quốc Việt (黄国越) một trong những thành viên phụ trách cải cách ruộng đất nói rằng "khi tôi được biết bà Nguyễn Thị Năm, cách mạng thực thi làm vật tế thần, tôi đã về Hà Nội tham khảo ý kiến Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh đã hứa sẽ can thiệp trong trường hợp bà Nguyễn Thị Năm, nhưng Hồ đã không làm bất cứ điều gì sau đó. Tôi cảm thấy rằng người Trung Quốc và Hồ rất thận trọng, phải chịu trách nhiệm cái chết của Nguyễn Thị Năm". [4]
Hồ Chí Minh (CB) đấu tố bà Nguyễn Thị Năm quá mạnh tay. Địa Chủ Ác Ghê: "…Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la…". Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
ĐCSVN từ chối không công khai minh oan cho bà Nguyễn Thị Năm.
Mùa hè năm 1956, bắt đầu ảnh hưởng Đại hội toàn quốc của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xem xét lại lỗi lầm "cải cách ruộng đất". Đến tháng Chín, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Hội nghị lần thứ mười, kể từ khi có các cuộc tranh luận nóng, cuộc họp đã khai mạc. Việt Cộng đã công nhận rằng làm sai sót nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất, Bí thư Trường Chinh chủ trì CCRĐ nay từ chức, riêng Ủy ban Trung ương cải cách ruộng đất Hoàng Quốc Việt (Huang Yue) và Lê Văn Lương bị sa thải khỏi BCT. Trên thực tế những họ nhận lỗi thay mặt Trung Cộng và Hồ Chí Minh, sau đó tất cả những người từ chức quay trở lại đấu trường chính trị. Trường Chinh luôn là một trong những nhà lãnh đạo chính của Việt Cộng. Biện pháp "sửa" cụ thể là sự xác minh cho một số lượng lớn người thiệt mạng.
Trái lại một cách khác Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản đã được Trường Chinh thay mặt che khuất bóng "cải cách ruộng đất", biện luận của các nhà lãnh đạo đồng ý rằng Nguyễn Thị Năm có quá nhiều tội ác, tội của bà nêu ra chưa hết vẫn còn thấp đối với dự định ban đầu. Đến năm 1987, đảng tuyên bố minh oan cho bà Nguyễn Thị Năm, nhưng không được công bố trên báo chí và truyền thông.
Đảng mở rộng khắp mọi nơi ở miền Bắc đồng loạt CCRĐ. Nông dân nhận ruộng đất làm chủ, không bao lâu xung công vào hợp tác xã, tiếp tục cuộc đời làm công cho "Bác" đảng, còn khổ hơn địa chủ. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Năm 2001, cựu chiến binh Võ Nguyên Giáp đã viết một tài liệu báo cáo nội bộ đảng: "Nguyễn Thị Năm là một địa chủ yêu nước trong thời chiến tranh, cô ấy đã giúp cho các nhà lãnh đạo đảng và quân đội ở lại trong nhà bà và đôi khi "Bác Hồ" bí mật cũng ở đây... nay đưa bà Nguyễn Thị Năm diễu hành và giết là một sai lầm", ông Giáp cho rằng "đầu năm 1956 mức độ cao nhất của sự đồng thuận nội bộ Việt Cộng cho rằng bà Nguyễn Thị Năm vô tội, như vậy đảng đối xử quá nhẫn tâm, nhưng sự đồng thuận này không bao giờ tiết lộ. 
Theo lời cố vấn Trung Quốc La Quý Ba, cho rằng bà Năm là một "trượng nghĩa sơ tài cấp công hảo nghĩa", không chỉ tài trợ cho cuộc đấu tranh giành độc lập, bà ấy cũng chăm sóc người dân trong làng. Tuy nhiên trước đó chính ông ta lên án "con hổ cái và hổ đực chúng sống nhờ thịt", ý ông nói rằng đã là hổ không thể bỏ qua.
Nhà sản xuất phim tài liệu độc lập "...Thanh" nói với chúng tôi rằng sau khi phục hồi chức năng cho Nguyễn Thị Năm, ngôi mộ của bà được đào lên, hài cốt được cải táng. Đã được tìm thấy trong ngôi mộ ngoài xương ra còn có hai điều lưu ý: "một viên đạn còn nguyên vẹn trong đầu chưa rỉ sét và một chiếc vòng tay bằng ngọc bích".
Tỷ lệ giết một phần nghìn địa chủ.
Nguyễn Thị Năm sinh 1906, chết ngày 9 tháng 7 năm 1953 hưởng dương 47 tuổi, do hậu quả trực tiếp Bộ Chính trị, theo nghị quyết (ngày 04 tháng 5 năm 1946) của đảng bởi chính sách đất đai trải rộng quá trình chuyển đổi vô sản, từ việc giảm tô đến quan tâm cải cách ruộng đất cũng là một tài liệu quan trọng đầu tiên được gọi là "Năm bốn hướng dẫn". Theo tài liệu chính thức của "Bộ Chính trị ngày 04 tháng 5 năm 1953, đặc biệt hướng dẫn huy động quần chúng" và "Chỉ thị ngày 04 tháng 5" viết câu đầu tiên "trừng phạt địa chủ và phản động", đảng "Bác" đã quy định phải hành động giết tất cả "Trí phú, địa hào-đào tận gốc trốc tận rễ". Dự kiến trong vùng giải phóng tính theo tỷ lệ giết một phần nghìn địa chủ".
Theo một số tác phẩm lịch sử kinh tế của Việt Nam, miền Bắc Việt Nam dân số khoảng mười lăm triệu (15triệu) vào những năm 1953, vùng giải phóng dân số khoảng một triệu. Nhìn trung bình, theo "Chỉ thị ngày 04 tháng 5" (ngũ tứ chỉ kì), miền Bắc Việt Nam có khoảng 12.000-30.000 địa chủ bị thủ tiêu, 172.008 nông dân bị giết, thực thi theo tỷ lệ của chính sách cải cách ruộng đất.
"Hồ Chí Minh tự khóc dối, lấy nước mắt giả mạo phê bình loan tải trên báo Cứu Quốc" Hồ sáng tạo một vở kịch quá tuyệt vời. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Văn bản chính sách của Đảng về các quy định cải cách ruộng đất có ba đối tượng được hành xử khác biệt: 
1 - Bản thân và gia đình đã tham gia vào cuộc chiến tranh giành độc lập.
2 - Tham gia vào ngành công nghiệp và thương mại của nhà nước.
3 - Hiến đất và tài sản. 
Cải cách ruộng đất này tương tự như chính sách Trung Quốc, vấn đề ở đây thực hiện chính sách tùy tiện không đúng quy định của nó. Nguyễn Thị Năm chắc chắn đáp ứng cả ba điều kiện trên, bà người đầu tiên đã bị giết theo tỷ lệ "một phần ngàn" của toàn bộ cải cách ruộng đất, cùng lúc bổ sung quy định chính sách "chiếu cố ba loại địa chủ", và trong đảng thanh trừng lẫn nhau. Nếu ba quy định đối tượng địa chủ không thể thực hiện theo tỷ lệ "nghìn", lúc ấy cán bộ, đảng viên sẽ đấu tố, cùng nhau ăn thịt lẫn nhau. Do đó, đích thân Hồ Chí Minh hướng dẫn đảng xác định sức mạnh cải cách ruộng đất của Trung Cộng.
Chế độ đỏ, "chiếu cố ba đối tượng địa chủ".
Việt Cộng "Chỉ thị 4" (tứ chỉ kì), thành lập trung tâm "vận động quần chúng". Theo cách nói sự thật: Vận động quần chúng giết địa chủ. Trong nội dung này có ba cụm từ quan trọng: 
1 - Cải cách ruộng đất. 
2 - Giết chết địa chủ;
3 - Vận động quần chúng.
CCRĐ xem địa chủ là kẻ thù không dung thứ, quan trọng nhất nếu đất đai cho những người trồng trọt thuê sẽ đem ra đấu tố, phân chia lại đất, thậm chí sử dụng cưỡng chế, bạo lực giết địa chủ, nhu cầu giết mở rộng quy mô, quan trọng nhất "Bác" kích động quần chúng sôi máu đấu tố địa chủ dù không có tội cũng bới đào tận gốc trốc tận rễ, sau đó "Bác" có lý do tiêu diệt địa chủ, đặc biệt là mở rộng phạm vi giết người, tạo ra hận thù cho phép tất cả mọi người tham gia. Theo lý luận của đảng "Bác" cải cách ruộng đất, muốn đạt được phải xới đất chôn người sống, đảng sẽ vinh danh tinh thần hiện đại, trong khi ấy nhiều nước trên thế giới đã trải qua sự thay đổi, hiện đại hóa xã hội không cần thiết phải đổ máu, nhiều quốc gia không cần giết người để hoàn thành cải cách ruộng đất. Cũng không cần cán bộ "huy động quần chúng" như miền Bắc Việt Nam để rồi bước đến "cải cách ruộng đất" giết người bừa bãi. Tổ chức đảng tiến hành cải cách giết người cướp đất, người nông dân không muốn sớm mất đất, bằng cách phải tham gia vào các vụ giết người, hoặc ít nhất là đến xem đấu tố. Vào năm 1959 miền Bắc Việt Nam thực hiện các phong trào hợp tác xã nông nghiệp, nông dân phải giao đất cho hợp tác xã, trong năm 1971 Việt Cộng đưa ra hướng thay đổi xã hội. Vì vậy, nhiều người nghiên cứu cải cách ruộng đất đề nghị hãy để người cày, chính chiến dịch này hoàn toàn sai đối tượng.
Nguyễn Thị Nam chết trong khúc dạo đầu của phong trào cải cách ruộng đất. Từ năm 1954 đến năm 1956, toàn bộ nông thôn trải qua "phong vũ long trời lở đất", những ủy ban cải cách ruộng đất tại địa phương đã trở thành một cửa quyền đáng sợ. Đại hội đảng triệu tập đấu tranh cải cách ruộng đất, "Bác" khuyến khích cán bộ đảng có công lớn nhất trong cuộc "vận động quần chúng", và hướng dẫn phương thức cáo buộc nông dân xét xử công khai và bí mật. Phiên họp toàn thể nhân dân năm 1956, "Bác" đưa ra chỉ tiêu "cải cách ruộng đất", toàn đảng phải khủng bố địa chủ để thu 18 triệu USD, sau đó phân loại địa chủ 12 triệu người có tội với "Bác" đảng.
Sức mạnh của "Bác" đẩy nhân dân vào cải cách ruộng đất để rồi đấu tố lẫn nhau xây dựng một thế giới vô sản. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Tình hình bên Tàu đấu tố địa chủ gần như quen thuộc với đảng "Bác".
Tình hình thực tế của đất nước vẫn tụt lại phía sau của thế giới, nhưng đảng Cộng sản Việt Nam tự hào cho mình tiến bộ nhất thiên hạ, thậm chí sau 1956 nhân dân nghèo khó và con số chết vì đói rất cao, ngoài ra có bao nhiêu địa chủ chết vì tra tấn, cũng khó để tính toán, nhưng chắc chắn hơn một ngàn (1000) địa chủ chết theo một phần nghìn tổng số. Vấn đề khủng bố, tra tấn không dừng hành động bởi Cộng sản đã có chủ đích, nó luôn luôn tiếp tục và âm thầm phổ biến trong ba đối tượng "địa chủ" và khủng bố đến gia đình của họ, đảng rất tài tình tra tấn và làm nhục nhân dân. Một số gia đình "địa chủ" bị chết đói hoặc bị bỏ tù sau khi gia trưởng chết. Cảnh bi thảm đó, khiến Hồ Chí Minh phát biểu trước đại hội đảng và ông phải đóng kịch rơi nước mắt, trên thực tế ông ta có thái độ bàng quan.
Tại sao đảng khuếch đại chống Pháp? vào lúc "cải cách ruộng đất" đề làm phương tiện quét sạch tất cả tầng lớp xã hội miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là các tầng lớp xã hội địa chủ, họ luôn có những khát vọng độc lập. Nông thôn tương đối giàu có, nhiều người tham gia hoặc hỗ trợ phương tiện cho đảng đấu tranh, thực sự đảng muốn thanh toán ba thành phần địa chủ như trên, theo quy định của Việt Cộng cho rằng chính sách cải cách ruộng đất đúng đắn. Do đó, "mở rộng" nhưng trở tay không kịp bởi đầy dẫy sai lầm, kết quả không thể tránh khỏi "cải cách ruộng đất" biến tướng thành chế độ Cộng sản khủng bố.
Cải cách ruộng đất, tiến trình đấu tố chôn sống địa chủ bên Trung Quốc đang hoành hành tại đất miền Bắc Việt Nam (1953-1956). Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Để thực hiện cải cách ruộng đất, Việt Cộng đã chuẩn bị trước 3 năm (1951-1953), sao chép lại "Diên An chỉnh phong" (延安整风) củng cố chế độ, đào tạo cán bộ, đảng viên hoàn thiện thế lực thống nhất tư tưởng, công bố đầy đủ quan hệ xã hội, đảng viên tuân thủ hành động. Nó được thực hiện trong đảng một "kỷ luật" trước khi hành động "cải cách ruộng đất", hy vọng có thể hoàn thành, tuy nhiên trái hẳn ý đảng bởi bi kịch quan trọng Nguyễn Thị Năm. Những thành viên đảng thi hành CCRĐ lợi dụng quyền lợi tung hoành tham ô, "Bác" truyền mật lệnh cho phép đảng mạnh tay khủng bố, chế ngự nhân dân bạo loạn. 
Tháng 11 năm 1956, tại tỉnh Nghệ An nông dân đã vạch trần đảng và chính phủ "sai lầm", đưa đến cơ hội bắt đầu nông dân bạo loạn như những năm 1930 đã diễn ra tại tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, khi ấy quần chúng đã tạo ra một phong trào chống Pháp. Đảng "Bác" cướp công của quần chúng tự đặt tên phong tráo "Xô Viết" của đảng, trong khi ấy tại Việt Nam chưa có Hồ Chí Minh. Ngày nay, Việt Cộng thực hiện "cải cách ruộng đất", một chính sách làm cho nông dân ác cảm nổi dậy chống đảng, ĐCSVN buộc phải huy động các bộ phận ưu tú nhất 325, và đảng dành nhiều tuần đàn áp cuộc nổi dậy của nông dân. Sau khi đàn áp thành công đảng "Bác" đẩy một số lớn nông dân Nghệ An-Hà Tĩnh vào bước đường cùng, đảng "Bác" buộc nông dân hai tỉnh phải rời khỏi nơi cư ngụ đi đến tỉnh khác.
Nông dân Nghệ An-Hà Tĩnh để lại dấu ấn tháng 11 năm 1956, lưu truyền một bài thơ trào phúng:
"Bác Hồ nói để sửa sai
Sai về việc thay đổi, thay đổi và sai
Xuất sắc bên mới nổi
Các sai lầm, để thay đổi để thay đổi tất cả các sai"
(Lưu ý: Bài thơ được dịch từ các mạng truyền khẩu trong dân gian tại tỉnh Nghệ An đến Hà Tĩnh.
Tháng 9 năm 1956, Hoàng Văn Hoan Đại sứ Việt Cộng tại Trung Quốc, hối hả trở về nước, đến tháng Mười tham dự "Hội nghị lần thứ X", báo cáo thừa nhận sai lầm. Hoàng Văn Hoan trở lại Bắc Kinh, Chu Ân Lai triệu tập Hoan hỏi về nội tình Hội nghị lần thứ X "chỉnh" và "cải cách ruộng đất". Hoan cho biết "Hồ đã đạt được trình độ cải cách ruộng đất, chôn nhân dân Việt Nam xuống đất an toàn, không bao lâu Hồ thay đổi được xã hội Việt Nam, từ nông thôn tiến lên vô sản chủ nghĩa.
Chu Ân Lai hỏi: - Vấn đề cố vấn Trung Quốc giúp Việt Cộng thực hiện cải cách ruộng đất như thế nào?
Hoàng Văn Hoan đáp: - Cố vấn Trung Quốc có liên quan đến cải cách ruộng đất, nhưng kết quả bằng cách sử lý riêng của chúng tôi.
Chu Ân Lai được La Quý Ba báo cáo mọi chi tiết về cải cách ruộng đất của Việt Cộng. "Hồ Chí Minh mù quáng sao chép các kinh nghiệm của Trung Quốc, mặc dù chính xác có mức độ nào đó không thể rõ ràng bởi tình hình hai nước khác biệt. Có thể Hồ bị cám dỗ sau khi Việt Cộng tự thừa nhận cải cách ruộng đất và tịch thu vàng thành công, sự thật nhân dân bất mãn".
"Bác" đảng chưa quán triệt kỹ thuật cải cách ruộng đất của Trung Cộng, mới cảm nhận vội triển khai thực hiện Nghị quyết Trung Diên An.
Năm 1983 Bắc Kinh xuất bản cuốn sách "Trung Quốc và Bắc Việt Nam cải cách ruộng đất cùng hợp nhất cách mạng quốc gia", và tài liệu "Land reform in China and north Vietnam" củng cố cách mạng tại thôn ấp. [5]
Articles. Land Reform in China and North Vietnam: Consolidating the Revolution at the Village Level. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Trong chương thứ mười một đề cập tác động cải cách ruộng đất tại Việt Nam không theo mô hình Trung Quốc, sau khi Hồ du nhập vào Việt Nam nhưng nhóm cố vấn Trung Cộng thực hiện có tính lạm dụng buổi ban đầu do đó đã sai trong lý luận cơ sở cải cách ruộng đất. "Bác" không phải lý thuyết gia và càng không phải người hành động theo chỉ bảo của Mao bởi "Bác" lệ thuộc vào nhóm cố vấn La Quý Ba.
Đầu năm 1948, Mao đã phát hiện cải cách ruộng đất trong đó có chứa những sai lầm, nếu thực hiện không thể chính xác, cải cách ruộng đất sai lầm lớn mỗi lúc xì hơi bong bóng, đẩy đến mục tiêu thanh lọc nội bộ. Cho nên nhóm cố vấn Trung Quốc hoạt động như thế nào? Điều này có thể lặp lại tại Việt Nam không thể thành công trên căn bản nó đã sai lầm dù có chuẩn bị cảnh giác.
Sau đó, Mao Trạch Đông thấy được vấn đề "cải cách ruộng đất" rất nguy hiểm cho đảng, ông ta vội tiết lộ tài liệu bổ sung, trong nhiều năm sau, Mao cho biết: Cải cách ruộng đất có logic và hợp lý, kết luận là sai - có nghĩa mọi người sẽ học hỏi từ sai lầm, nó mới hợp lý, nhưng thực tế không nhất thiết phải "cải cách ruộng đất". Mao nói rằng thực sự tại Việt Nam do chuyên gia cố vấn hướng dẫn "cải cách ruộng đất", [6] trong khi đó Hồ Chí Minh hiểu rằng cần phải tránh những sai lầm, tại sao, Hồ nói rằng "tôi vẫn không biết". Để suy đoán nhiều lý do, ví dụ, có thể là tài liệu cải cách ruộng đất của Trung Quốc do phức tạp nhưng trong quá trình dịch thuật làm nó đơn giản, và như thế khi thực hiện sai lầm không thể tránh được.
Minh họa cho sự nhầm lẫn giữa logic và thực tế không thể đem ra hành động, nghiên cứu về lịch sử của cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam. Nếu "cải cách ruộng đất", xảy ra ở miền Nam Việt Nam sẽ không có bà Nguyễn Thị Năm bi đát, chỉ đơn giản chia đất cho nông dân như trước đấy Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện "Người cày có ruộng", giống nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện, chứ không phải lấy tỷ lệ xác người ra chia đất cho đầu người.
80 năm Cộng sản độc đảng cai trị Việt Nam, trong khi ấy nhân loại đề cao tự do dân chủ đa nguyên và quyến sống làm người. Thực chất đảng Cộng sản là phong kiến kiểu mới, người Việt đô hộ nước Việt. 
Đau đớn hơn "Cải cách ruộng đất" người đương thời không hề ý thức chính trị cho nên họ không dấn thân đấu tranh cho tự do, và ngay cả hôm nay vẫn thế. Người ta đã nói "nhìn vào chế độ biết người dân đó muốn những gì". Đã đến lúc lựa chọn vì đất nước "tự do dân chủ da nguyên" hay Việt Nam muôn năm bị Tàu đô hộ (10.000). (Hồ Chí Minh ủy thác Việt Nam vạn niên cho Trung Quốc). Thân phận dân tộc Việt Nam hết tương lai nếu cứ mãi thế này!

Quê hương tôi cứ mãi điêu linh (Kỳ 1)
02/06/2015
_____________________________________
Chú thích:
[1] Tha hoàn toàn phục tòng trung quốc cố vấn đoàn đích chỉ đạo. giá lưỡng phương diện đích ý kiến đối chỉnh cá việt cộng lĩnh đạo tằng hình thành cường đại đích áp lực.
[2] "Đương đảng nội cao tằng tối chung quyết định xử quyết nguyễn thì, hồ chí minh thuyết, " ngã phục tòng đa sổ, đãn ngã nhưng nhiên nhận vi sát tha thị bất đối đích".
[3] "Mẫu lão hổ hòa công lão hổ nhất dạng, đô yếu cật nhân".
[4] "Căn cư nguyên việt cộng đảng báo phó chủ biên tịnh tham gia quá thổ cải đích bùi tín đích hồi ức (Following Ho Chi Minh), đa niên hậu tha tựu nguyễn đích vấn đề vấn quá đương thì tại thái nguyên tỉnh phụ trách thổ cải đích Hoàng Quốc Việt. hoàng thuyết đương đắc tri Nguyễn Thị Nam yếu bị xử quyết thì, tha khứ hà nội thỉnh kì Hồ chí Minh, Hồ chí Minh xác thật thuyết quá thượng thuật đích thoại, tịnh đáp ứng yếu giới nhập giá cá án kiện, đãn hồ hậu lai thập yêu đô một hữu tố. Hoàng Quốc Việt nhận vi Hồ chí Minh đối trung quốc nhân phi thường cẩn thận tiểu tâm, tha ứng cai vi nguyễn thị nam đích tử phụ trách nhậm". 
[5] "Trung quốc dữ bắc việt đích thổ địa cải cách: hương thôn cách mệnh đích củng cố" và (Land Reform in China and North Vietnam: Consolidating the Revolution at the Village Level).