4/12/15

Đánh tư sản” ở miền nam sau 1975

hinh-4
Vùng Kinh Tế Mới
I. ĐÁNH TƯ SẢN
ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội thực hiện đối với người dân miền Nam Việt Nam theo Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam
Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN đối với người dân miền Nam được Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.


Đợt  X1 được bắt đầu vào sáng ngày 1 tháng Chín năm 1975:
 Xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. 

Đợt X1 này tập trung vào những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh, sanh sống thanh công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm.

Đợt X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978
 Được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do do chính phủ Việt Nam miền nam khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ sài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẫm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẫm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa.

Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận là đã có trên 10000 tiệm bán bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản và cần phải tịch thu. 

Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị  vào tháng Năm năm 1978 :
Đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất” dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.
Tình trạng ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn dù không ồn ào bằng.

Tổng số lúa mà nông dân miền Nam bị chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978 trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.


Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân miền Nam trước những đợt thu lúa từ năm 1977 trở đi.
Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3 đặc biệt tập trung tại Sài Gòn. 

Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989,
ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.

Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo TW Vào ngày 16 tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp đợt thực hiện này.
Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.
Cuối đợt X3 , ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!
Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đổ Mười trực tiếp chỉ huy.
Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.

Riêng về tổng số vàng, nữ trang tịch tư từ tư bản ở miền Nam được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng- nhưng đây chỉ là con số tượng trưng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm năm 1977 qua tháng Hai năm 1978 mà thôi. C

​C​
ả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương thu trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN ở miền Nam.
Trung bình , mổi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị , đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975 nhưng đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.

II. KINH TẾ MỚI:
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Sản Hà Nội tịch thu nhà , tài sản điều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá.
HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.

ktmoi-450x291
Chỉ tiêu đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại cho Hà Nội quản lý. Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ- ĐÁNH TƯ SẢN như sau:
THỜI KỲ
CHỈ TIÊU
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
GHI CHÚ
1976- 1979
4 triệu người
1,5 triệu người
95% là từ Sài Gòn
1979-1984
1 triệu người
1,3 triệu người
50% là từ Sài Gòn


Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:
– 30% trả thuế
– 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;
– 15% trả lương cho cán bộ quản lý ;
– 30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động
Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị
Đảng tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân
bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới.

tusan_03

 Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng .
Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh.

hinh-3
Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.

III. Quyết Định 111/CP của Hà Nội về việc “Đánh tư sản ” ở miền Nam Việt Nam
Quyết định 111/CP của Hà Nội là một tài liệu chứng quan trọng. Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.
Trích : 
(IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG
1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.
2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:
– Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên.
– Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên.
– Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên.
– Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.
Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của quân lực miền nam Việt Nam phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm.
Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.


Dòng chữ cuối cùng của khoản 2 điều IV của QĐ 111/CP có ghi rõ là nhà cửa đất đai của các thành phần sau đây bị tịch thu:
“Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.”
Bởi không có định nghĩa rõ ràng thế nào là thành phần ác ôn nên các viên chức cán bộ Cộng Sản tha hồ kết tội thuờng dân vô tôi vạ là thành phần ác ôn của “Ngụy quyền” để tư lợi cướp bóc nhà cửa cho riêng mình, không cần tòa án nào xét xử cả.
Ai ai cũng có thể là điệp viên CIA, hay là có lý lịch ba đời liên quan đến Ngụy quân, và điều có tư tưởng phản động và cần phải tịch thu nhà cửa dựa trên điều khoản này của Q Đ 111/CP.

IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Hà Nội:
 Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế,
Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Chính quyền Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.
Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU mà chỉ có quyền SỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Hà Nội.
Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.
Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam.
Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.

 Sang đến năm 1989, báo SGGP từ Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực VNCH được bán nhà vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)

Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.
Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi.
VietTuSaiGon
Dân Việt Nam từ Bắc đến Nam Không còn là Đồng Bào Ruột Thịt, mà trở thành Đồng Chí và Phản Động

Dân Chủ, Đấu Tranh Mới Có

04/12/201500:00:00(

Dân chủ không chờ mà được, không xin mà có. Dân chủ phải đấu tranh mới có. Có nhiều khi phải hy sinh như nhà đấu tranh Tom Paine nói “tự do hay là chết và Mục sư Luther King Jr chết cho tự do, bình đẳng của người dân ở Mỹ.

Nhiều dấu chỉ cho thấy một số người Việt trong nước quá mong muốn, quá nóng lòng chờ đợi dân chủ nên bị một số cán bộ tuyên huấn CS, cò mồi của CS, đám tuyên truyền viên bằng miệng dùng báo đài của Nhà Nước CSVN hay lợi dụng các hội luận, các phỏng vấn trên các chương trình tiếng Việt của các đài phát thanh ngoại quốc, trong đó có của Anh, Pháp, Mỹ nữa, cho ăn bánh vẽ như Tào Tháo nói láo với binh lính đói khát đằng trước có rừng mơ.

Tiêu biểu như tuần qua rất ồn ào với tin tung ra từ Quốc Hội Đảng cử dân bầu của CSVN. Rằng lãnh đạo Việt Nam [CS] phải tuyên thệ trung thành với dân. Thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội và chánh án tòa án nhân dân tối cao Việt Nam phải “tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và hiến pháp” khi nhậm chức. Rằng đó là Quốc Hội sửa đổi nội qui; điều lệ mới được thông qua sáng 24/11 và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2016. Theo đó, người tuyên thệ “quyết định nội dung tuyên thệ phù hợp với trách nhiệm được giao và phải đứng trước quốc kỳ tuyên thệ với thời gian không quá 3 phút”. Ông Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, nói với đài VOA tiếng Việt, “Khi mà quốc hội mới bầu ra các chức danh như chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội và chánh án tòa án nhân dân tối cao, thì sẽ có tuyên thệ nhậm chức. Trong hiến pháp thì quy định như thế còn trong nội quy kỳ họp của quốc hội, quy định như thế để thực hiện việc tuyên thệ theo tinh thần của hiến pháp. Các nước họ làm nhiều rồi, như là tổng thống nhậm chức họ làm rồi, còn Việt Nam từ xưa tới nay thì chưa”.

Còn một số nhà quan sát dấu tên thêm mắm dặm muối, nói thêm với VOA, rằng điều đáng chú ý là “không có đảng trong phần phải tuyên thệ trung thành”. Và suy diễn thêm nội quy sửa đổi trên được thông qua trong bối cảnh chỉ còn vài tháng nữa là diễn ra đại hội đảng lần thứ 12, và tại kỳ họp này, các vị trí chủ chốt của Đảng Nhà Nước CSVN sẽ được công bố. Hồi đầu năm nay, một tờ báo thuộc cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc đăng bài bình luận cho rằng 2015 sẽ là năm căng thẳng chính trị ở Việt Nam trong khi chuẩn bị cho Đại hội thứ 12 với việc bầu ban lãnh đạo chóp bu mới, đồng thời nhận định rằng Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới chiếc ghế Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cán bộ, đảng viên và cò mồi của CSVN nói vậy, chớ không phải vậy, mà còn khác hơn, dối hơn vậy nhiều. Khẩu hiệu trung với đảng, hiếu với dân là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bộ đội CS. Khi hạ trào cách mạng, CS có đổi chút đỉnh khi nói nhưng bản chất là hằng cữu trung với đảng. Hồi tháng Bảy vừa qua, phát biểu tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói quân đội Việt Nam "phải tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với dân tộc, với hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam..", khác với các tuyên bố trước đó của các nhà lãnh đạo khác, đặt đảng lên đầu trên phương diện hình thức. Nhưng nội dung chẳng có gì khác, vì vẫn trung thành với hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam” tức trung thành với chế độ CS trên danh nghĩa là Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Nhưng trên thực tế và thực chất, Điều 4 qui định Đảng CS là Đảng lãnh đạo Nhà Nước, quản lý Nhân dân, làm chủ Đất nước, Đảng chỉ dời cái phết qua vài chữ trên khẩu hiệu, thì quyền của CS trở thành độc tài đảng trị toàn diện.

Và thực tế và thực sự là vậy, tin VOA cho biết, trong lễ bế mạc Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hôm 12/1/2015, Ông Nguyễn Phú Trọng tuyên bố “đổi mới chính trị [ở Việt Nam] không phải là làm thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất của Đảng, nhà nước mà là đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia”.

Trở lại cái gọi là Quốc Hội CSVN. Tổ chức này không có bầu chọn nhưng chức danh lãnh đạo Đảng Nhà Nước, theo đúng nghĩa chữ bầu chọn. Chính Bộ Chánh Trị chọn trước, Đại Hôi Đảng thông qua theo thủ tuc của CS gọi là cộng đồng tuyển trạch. Quốc Hôi chỉ hợp thức hoá cho có lệ, mặc chiếc áo nhân dân trên người CS thôi.

Và thêm một hành động lập lờ đánh lận con đen dân chúng VN mà CS và cò mồi đang làm. Đó là Quốc Hội CSVN đảng cử dân bầu thảo luận Dự thảo Luật về Hội. Nhưng sớm nhất cũng phải đến tháng 10/2016 mới được Quốc hội khóa tới thông qua. Quyền lập hội, cũng như quyền tự do di chuyển, ngôn luận được qui định trong tất cả các bản Hiến pháp của nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ 1946 tới 1992 và 2013, nhưng tại sao gần đại hội đảng CSVN lần thứ 12, Quốc Hội thứ 13 mới thảo luận nhưng phải để Quốc hội khóa 14, mãi vào năm 2016 mới bầu, rồi một thời gian sau mới chung quyết luật lập hội. Dễ hiểu, Đảng CSVN hé nắp vung để xì bớt áp suất bất mãn của dân chúng trước đại hội Đảng lần thứ 12 bầu lãnh đạo Đảng Nhà Nước và kế hoạch cho 5 năm tới.

Quốc Hội còn đề nghị thảo luận Luật Thăm dò Dân ý để làm chánh sách quốc gia. Đặt vấn đề trong những tháng cùng ngày tận của Quốc Hội khoá 13 mà không chung quyết là để tạo hy vọng Đảng Nhà Nước sẽ đổi mới chánh trị, cải tiến tự do, dân chủ, tạo bầu không khí lạc quan hầu chuyển hướng công luận đang bất lợi cho CS. Kinh nghiệm sống trong chế độ CS không phải ở VN, mà ở TC, Liên xô, các nước Đông Âu khi trước ở đâu cũng vậy. CS thường nói vậy mà không phải vậy. Người dân phải đấu tranh, lắm khi phải chết sống với mong muốn thì mới thành công. Một là đấu tranh trực diện với nhà cầm quyền địa phương biểu tình đông người, dẻo dai, kiên trì bám trụ, lấy quần chúng bao vây lãnh tụ. Hai là đấu tranh gián tiếp với nhà cầm quyền trung ương bằng cách chiếm quốc lộ, tạo bế tắc con đường huyết mạch từ Bắc vào Nam. Ba là dùng tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học phổ biến tin tức, tạo thành một cuộc đấu tranh chấn động, khiến nhà cầm quyền trung ương áp lực địa phương phải giải quyết. Bốn là nổi dậy để lật đổ CS như ở Ba Lan và các nước Đông Âu CS. Tóm lại, tự do, dân chủ không ngồi chờ mà có, không xin mà được, phải đấu tranh hay chiến đấu mới có./

Vi Anh
 nguồn: https://vietbao.com/a246319/dan-chu-dau-tranh-moi-co

Bàn về chữ nhục thời bây giờ


Chữ “nhục” hay chữ “vinh” không phải mới có bây giờ. Nếu không nhầm, cặp phạm trù đối lập này có từ thời con người bắt đầu ý thức được mối tương quan giữa bản thân với xã hội chung quanh họ. Đương nhiên tùy vào từng bối cảnh, hoàn cảnh mà cặp phạm trù này mang những cái tên khác nhau. Nhưng xét về mặt ý niệm, khái niệm, có lẽ không có gì khác.
Hai chữ “nhục” và “vinh” cũng tùy thời mà người ta định nghĩa, tùy vào kiến văn, tùy vào tri thức và lòng tự trọng cũng như tư tưởng của mỗi người mà có cách định nghĩa về nó. Đây là chuyện vừa nhạy cảm vừa khôi hài, đôi khi cười ra nước mắt. Tuy bên ngoài tưởng như không có gì quan trọng nhưng nó lại liên quan đến những khái niệm khác như “sang” và hèn”. Thậm chí, trên một chừng mực nào đó, có sự tương hỗ, bổ sung giữa hai cặp phạm trù này.
Sở dĩ phải nói chữ “nhục” hay chữ “vinh” là tùy thuộc vào sở tri và định nghĩa của mỗi cá nhân là vì bản chất của “vinh” và “nhục” vẫn chưa bao giờ thay đổi, “nhục” là “nhục” mà “vinh” là “vinh” nhưng do cách định nghĩa, sở tri của mỗi cá nhân lại nên hai chữ này bị đánh tráo, xáo trộn thường xuyên, thời đại nào cũng có kẻ đánh tráo, xáo trộn. Thời đại tốt thì số kẻ đánh tráo, xáo trộn này ít, thời đại tồi tệ thì người ta đua nhau đánh tráo, xáo trộn, tự lừa mị bản thân để được thỏa mãn.
Thời đại Cộng sản xã hội chủ nghĩa, hai chữ nhục và vinh bị đánh tráo thê thảm. Sở dĩ hai chữ này bị đánh tráo bởi khái niệm sang và hèn đã bị đánh tráo trước đó. Hay nói cách khác là hệ qui chiếu về chữ nghĩa, về vị thế xã hội thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa hầu như bị sao chép 100% hệ qui chiếu thời phong kiến. Trong khi đó, thời đại toàn cầu hóa, cách nhìn, cách tiếp cận cũng như phương vị của mỗi cá nhân không còn bị giới hạn trọng một hệ tư tưởng độc tài, toàn trị như trước. Chính vì khả năng mở rộng này mà hệ qui chiếu thời Cộng sản trở nên lỗi thời, khủng hoảng.
Với kiểu quan niệm về sang và hèn của thời phong kiến, cứ sang dành chỉ những kẻ làm quan, sống bên trên xã hội, hèn là những thứ dân, không có chức quyền trong xã hội. Cái quan niệm này đem chụp y như vậy lên thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Người dân vẫn cứ quan niệm người sang là phải ngồi trên xã hội, phải được làm quan, phải có chức này chức nọ. Chính vì kiểu quan niệm đầy chất võ đoán như vậy mà hầu hết người dân luôn tỏ ra nễ phục những kẻ làm quan. Và đây là cơ hội để bọn làm quan thả sức làm càn. Vì có làm càn cỡ nào thì họ vẫn cứ là hạng sang. Họ vẫn cứ là những kẻ “vinh dự” bởi họ là quan, họ được sang.
Trong khi đó, bản chất của chữ sang không phải nằm ở chỗ anh ngồi đâu mà là anh làm gì. Chính hành động cao thượng, đẹp đẽ và nhân văn của con người mang lại cho ncon người sự sang trọng. Một người ăn xin chẳng hạn, ông ta xin được một ổ bánh mỳ nhưng thấy người ăn xin khác đói giống mình nhưng chưa có bánh mỳ, ông bẻ nửa ổ để chia sẻ với người ăn xin kia. Hành động này sang trọng và cao quí gấp triệu lần một kẻ giàu có, làm quan cao chức trọng rút ra vài trăm USD tặng cho em chân dài nào đó trong bàn nhậu để đi ăn phở hoặc đi mua thỏi son.
Nhưng trong thời lộng giả thành chân, ít ai thấy được sự sang trọng của người ăn mày nếu không muốn nói trong con mắt thiên hạ, người ăn mày vẫn mãi là người ăn mày cho dù họ có bỏ hết túi tiền ra để cho người khác nghèo khó hơn họ. Nhưng kẻ làm quan ăn trên ngồi trốc chỉ cần cho ai một thứ gì để diễn kịch thì không riêng gì dư luận xã hội mà ngay cả báo chí nhà nước cũng xông vào ca ngợi họ như một điển hình cao quí. Trong khi đó, ít ai suy tư về giá trị thật của hai món quà, một của người ăn mày phải dầm mưa dãi nắng, phải đánh đổi cả sức khỏe, cuộc đời và số phận để có được nó và cho một cách không cần suy nghĩ khi thấy đồng loại khốn khó hơn mình. Còn cái gọi là sang trọng kia, có thể là nguồn tiền tham nhũng, hối lộ, đục khoét tài sản nhân dân, trộm cắp tài nguyên quốc gia… Nhưng khi mang cho ai đó thì cố gắng đánh tiếng cho to tát. Nhưng người đời vẫn nhầm lẫn đó là sang trọng, là lòng tốt. Người ta đã hoàn toàn nhầm lẫn khái niệm giữa sang và hèn.
Bởi chính sự nhầm lẫn khái niệm giữa sang và hèn nên người ta cũng nhầm lẫn dây chuyền giữa nhục và vinh. Một gia tộc có nhiều con cháu làm quan, không cần biết con cháu của họ đã làm gì để được làm quan, trình độ cỡ nào, liêm khiết hay tham ô… Cứ nghe làm quan là thấy vinh cả dòng, càng nhiều người làm quan và chức quan càng lớn thì càng vinh dự, càng tự hào. Thậm chí mới hôm qua con hoạn lợn, bữa nay lên làm bộ trưởng, làm nghị gật hay hôm qua làm anh y tá quèn, bữa nay lên làm bộ trưởng, thủ tướng, không biết gì ngoài thủ đoạn và chui luồn, cố chấp, tài phiệt… Nhưng vẫn thấy rằng đây là niềm vinh dự của tổ tiên.
Những trường hợp như Nguyễn Lân Thắng hay Anh Chí, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Tần, Điếu Cày, Trương Duy Nhất… và rất nhiều trí thức yêu nước khác, hễ cứ nghe những người này bị hành hung, bị bắt nhốt, gán tội để bỏ tù thì ngoại trừ một nhóm nhỏ trí thức trong xã hội thấy bất bình nhà cầm quyền, đồng cảm với người bị hại… Đa phần còn lại đều cho rằng điều này là nhục nhã, tù tội là nhục nhã. Họ không cần biết trắng đen, tốt xấu… Và họ cũng chưa bao giờ định nghĩa được chữ vinh và chữ nhục cho chính xác.
Chính cái nền giáo dục thối nát của chế độ cụng như những chủ trương lớn của đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại suốt mấy mươi năm nay đã làm cho đa số nhân dân trở nên mù quáng và u muội, không thể phân biệt được đâu là nhục, đâu là vinh.
Và cũng chính cái chế độ này mới tạo ra được những con người ngồi ghế bí thư, ghế chủ tịch, thậm chí ghế bộ trưởng, tiền bạc rủng rỉnh, xe cộ láng cóng, nhà năm bảy cái vẫn cứ khai man mình là hộ nghèo để được hưởng trợ cấp. Làm quan hách dịch, tham lam, vô cảm, bị dân lên facebook nhận xét có gương mặt kênh kiệu thì thay vì tự sữa, tự thấy nhục, người ta lại tìm để trả thù bằng cách phạt người nhận xét và những ai đồng cảm, sau đó ra bộ tha thứ. Đến nước này, chỉ có những kẻ bị liệt dây thần kinh mắc cỡ và không thể hiểu được thế nào là nhục mới có thể trơ tráo và hợm hĩnh đến độ như vậy.
Quan lớn ăn lớn, quan nhỏ ăn nhỏ, quan bé tí ăn theo kiểu bé tí, tất cả đang tùng xẻo, xâu xé quốc gia, ăn trên mồ hôi nước mắt của trí thức, của lao động nghèo và cả của những người tứ cố vô thân, quanh năm mặc quần thủng đít phải vá đi vá lại trăm bề… Ăn thông qua thuế, đâu có ai hiểu chuyện này, mà có hiểu thì cũng vậy thôi!
Khi cả một hệ thống quan lại từ trung ương xuống địa phương xem sự nhục là bình thường, đánh tráo nỗi nhục thành cái vinh thì thử hỏi đất nước này sẽ ra gì? Và cách tốt nhất để trả đất nước về trạng thái bình thường là những người không biết nhục cần phải lùi về sống tầng đáy xã hội, để từ đó họ lớn khôn, trưởng thành mà hiểu được thế nào là làm người, thế nào là nhục là vinh. Chỉ có như vậy mới hy vọng đất nước này tiến bộ! Mặc dù chỉ là hy vọng!


Từ “nhạy cảm” đến mất nước xa bao nhiêu?

Phạm Trần (Danlambao) - Trong chế độ nhà nước Cộng sản ở Việt Nam, đến cuối năm 2015 và sau 40 năm thống nhất đất nước, không có Lịch sử Dân tộc mà chỉ có Lịch sử Đảng nên không ai dám nói khoảng cách giữa tránh “nhạy cảm” với Trung cộng đến chỗ mất nước là bao xa. Lý do của sợ hãi vì nói ra sẽ bị trù dập, có khi đến mục xương trong tù và họa còn lây đến tận 3 đời dòng họ. Nhưng sự thiếu khí phách của một bộ phận gọi là "trí thức" đảng, trong đó có trách nhiệm rất lớn của 6,000 hội viên Hội Khoa học Lịch sử với bề dày 49 năm hoạt động cũng phải minh bạch.
Nhiều người trong số họ đã bị lôi vào thói quen vô cảm vì “mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo” nên tự hạ thấp nhân cách để viết sử theo ý đảng, dù biết làm như thế là trái với lòng dân.
Vì vậy mà mọi người đã thắc mắc: Tại sao cho đến bây giờ mà Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam vẫn còn phải kiến nghị: “Trong lúc chưa biên soạn sách giáo khoa mới, cần bổ sung nội dung về lịch sử xác lập và đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”?
Đáng lý ra Hội Khoa học Lịch sử đã phải làm hơn việc chỉ biết “kiến nghị” bằng các bài viết phản bác công khai cho dân biết để giáo dục con em, chứ nỡ lòng nào lại để kéo dài tình trạng nói dối với học sinh và lịch sử như thế?
Hãy tính từ khi Hoàng Sa rơi vào tay quân Tàu tháng 1/1974 đã là 41 năm mà tên Hoàng Sa không có trong sách sử thì lấy lý do nào để trách Trung cộng không muốn nhắc đến chuyện Hoàng Sa mỗi khi phía Việt Nam nói đến?
Ngay phía đảng / nhà nước CSVN cũng không nhìn nhận 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa thì Hoàng Sa của ai?
Đến Trường Sa thì cũng đã qua 27 năm kể từ trận chiến để mất 7 đảo và bãi đá vào tay quân Tầu tháng 3/1988 và 64 người lính Quân đội Nhân dân bỏ mình ở đó, nhưng học sinh Việt Nam lại không được học về Trường Sa thì ai là chủ của quần đảo này?
BIỂN ĐẢO Ở ĐÂU 30 NĂM?
Nhưng khi thắc mắc như thế thì phải hỏi kẻ nào đã ra lệnh không ghi hai quần đảo của Tổ tiên để lại vào sách sử? Và những bài viết và kiến nghị của Hội Khoa học Lịch sử có đến tai các Tổng Bí thư và Bộ Chính trị từ thời Khóa đảng VI (Nguyễn Văn Linh), sang Đỗ Mười (Khóa VII), qua Lê Khả Phiêu (Khóa VIII), rồi đến Nông Đức Mạnh Khoá IX và X) để cuối cùng đến khóa XI (Nguyễn Phú Trọng) và sắp đến khóa đảng XII?
Chẳng lẽ những người đứng đầu có trách nhiệm này đều tai điếc từ bẩm sinh nên đã không nghe thấy, mắt họ đều mờ nên không đọc được nên không phản ứng gì?
Cùng đồng lõa với đảng còn có cả Quốc hội từ khoá đảng VI với thời gian 30 năm dài đến khóa đảng XI năm 2011 cũng đã làm thinh trước sự việc sách sử không ghi Hoàng Sa và Trường Sa thì nhân dân biết nói sao?
Cũng nên biết trong số các Đại biểu Quốc hội còn có cả ông Dương Trung Quốc, Nhà sử học, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử mà cũng phải nhắm mắt theo chân số đông để mò mẫm đi tìm sự thật thì lấy đèn đâu để soi cho dân nhờ?
Thắc mắc này cũng đã được nêu lên tại cuộc “Hội thảo khoa học Quốc gia về dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam” tổ chức tại Đà Nẵng hồi tháng 08/2014 tập trung vào chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Báo Giáo dục Việt Nam tường thuật ngày 24/08/2014: “GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc - Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đã khẳng định trong bài tham luận của mình: “Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là trang sử bi hùng được viết bằng máu xương của lớp các thế hệ người Việt Nam từ thời Vương quốc Chăm Pa cho đến Chúa Nguyễn, Vương triều Nguyễn và tiếp diễn cho đến ngày nay... Thế mà có cả một thời gian dài vấn đề hiển nhiên và trọng đại này lại bị coi là “nhạy cảm” để rồi lịch sử của một đất nước không có lấy một dòng nào về chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Ai là người phải chịu trách nhiệm trước cả tiền nhân và hậu thế về sự lệch lạc này của lịch sử đất nước?”.
Nhưng ai đã ra lệnh coi việc xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên Hòang Sa và Trường Da là “nhạy cảm”, và “nhạy cảm với ai”?
Nếu ai đó trong lãnh đạo CSVN xem việc đụng đến hai quần đảo này là chạm đến Trung cộng nên phải tránh thì có khác nào đã tự ý dâng đất Tổ tiên cho ngoại bang? Và cũng đã thừa nhận Công hàm năm 1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung cộng ở Hoàng Sà và Trướng Sa của Thủ tướng cộng sản miền Bắc Phạm Văn Đồng là chính xác?
Báo GDVN viết tiếp: “Một trong những vấn đề nóng hổi thu hút sự quan tâm và thảo luận của các đại biểu Về yếu tố lịch sử và pháp lý quốc tế, Hiến pháp và nhiều bộ luật của Việt Nam đều khẳng định chủ quyền về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sách giáo khoa Địa Lý Việt Nam bậc học phổ thông cũng đã đề cập vấn đề chủ quyền của 2 quần đảo này là của Việt Nam. Nhưng SGK môn Lịch sử phổ thông lại không có một dòng nào với tên gọi là “chủ quyền” khi viết về Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong thời gian gần đây, “vấn đề Biển Đông” lại được đề cập nhiều hơn trên các phương tiện truyền thông thì những kiến thức về “chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” càng trở nên cần thiết đối với thế hệ trẻ nói chung và học sinh phổ thông nói riêng, càng nên khẩn trương được bổ sung vào nội dung chương trình môn Lịch sử.”
Cũng tại cuộc Hội thảo này, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch Sử Việt Nam cho hay: “Hội KHLS đã có công văn kiến nghị với Ban Tuyên giáo TW và Bộ GD&ĐT phải nhanh chóng đưa nội dung về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào giảng dạy cho học sinh phổ thông. Nếu lớp trẻ lớn lên không hiểu biết hoặc hiểu biết rất lơ mơ về vấn đề này thì rất nguy hiểm... Không trang bị những kiến thức cơ bản ấy là có tội với thế hệ trẻ, có tội với lịch sử”.
SỬ ĐẢNG HƠN SỬ DÂN TỘC?
Vì lý do đảng không muốn cho dân biết sự thật về lịch sử dân tộc nhưng lại tìm mọi cách để khoe sử không thật của đảng nên môn sử không được học trò muốn học là vì thế.
Thạc sĩ Đào Tiến Thi, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam viết: “ Trong bộ Lịch sử Việt Nam (2012), giai đoạn từ thành lập Đảng (1930) – 2005 chiếm 1134 trang, tức hơn 1/ 3 dung lượng bộ sách, trong khi về thời gian nó chỉ có 75 năm (75 năm/ 2700 năm kể từ khi vua Hùng lập nước).
Chính sử được viết mất cân đối như vậy nên môn Sử trong nhà trường cũng mất cân đối theo và còn mất cân đối hơn: Học sinh chủ yếu học lịch sử hiện đại (từ thành lập Đảng). Và nhất là, thi tốt nghiệp, thi đại học cũng chỉ ra trong phạm vi này, chưa bao giờ ra các giai đoạn trước đó. Thói thường với nền giáo dục “thiết thực” của ta, chỉ cái gì thi thì mới học, thành ra học sinh chỉ biết lịch sử đất nước “từ khi có Đảng”, còn lại mấy nghìn năm của dân tộc thì mơ mơ màng màng. Bây giờ cứ thử hỏi sinh viên kể tên các triều đại phong kiến Việt Nam thôi, tôi tin không mấy sinh viên kể đủ và kể đúng thứ tự.” (Theo blog Nguyễn Xuân Diện,30/11/2015)
Khi nói vế tính phô trương, chủ trương cả vú lập miệng em, đồng hóa sử đảng vào sử dân, Thạc sỹ Thi viết: “Lịch sử dân tộc từ bao năm đã bị đồng nhất vào lịch sử Đảng. Học lịch sử dân tộc chẳng khác gì học lịch sử Đảng. Về Đảng lại chỉ toàn nói mặt hay, lờ đi những sai lầm hoặc bào chữa cho những sai lầm hoàn toàn có thật. Trang sách lịch sử vì thế trở nên một thứ tụng ca phiến diện và khô khan.

Có một vấn đề nhức nhối trong các bộ chính sử cũng như SGK Lịch sử kể từ Hội nghị Thành Đô (1990) đến nay là cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (do Khmer Đỏ gây ra trong sự xúi giục và hậu thuẫn trực tiếp của Đảng Cộng sản Trung cộng) và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 (do Đặng Tiểu Bình - người đứng đầu Đảng Cộng sản Trung cộng lúc đó - phát động) vẫn cố tình bị “quên” đi. Ấy là chưa kể các cuộc xâm lược và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (1974), 7 bãi đá ở Trường Sa (1988) của Trung Cộng.
Việc này không chỉ làm mất đi một mảng lịch sử chống ngoại xâm oai hùng và bi thương mà nguy hiểm hơn: thế hệ trẻ không tin vào những gì chúng học trong lịch sử nữa. Chỉ từ việc này mà lớp trẻ có quyền nghi ngờ, rằng lịch sử mà chúng được người ta dạy thực ra đã bị cắt xén, bị “sáng tác lại”.
Như thế thì học sử làm gì để bị đồng hoá với gian dối? Thà đừng có lịch sử còn hơn.
Do đó, thật buồn với “mệnh nước nổi trôi” khi chúng ta có thể hình dung được những dòng nước mắt của ông Thi đang tuôn ra giữa những con chữ nhạt nhòa: “Tôi rất đau xót khi dân mình ngày càng vô cảm với lịch sử dân tộc. Nhưng một khi người dân thấy mình không có quyền gì với đất nước, tức là thấy đất nước không phải là của mình, một đất nước “đã có Đảng và Nhà nước lo”, thì tất nhiên họ thơ ơ, không sao trách được. Và vì tất cả bạn bè, đồng nghiệp, anh em, cấp trên, các cán bộ an ninh,… hầu như bao giờ cũng khuyên tôi nên biết sống cho mình và cho gia đình mình. Và vì thế, chuyện quốc gia, xã hội trở thành chuyện viển vông, chỉ dành cho những kẻ “phản động” hay “điên điên” mà thôi!”
Vậy thì có ý nghĩa gì khi Quốc hội khóa XIII ngày 27-11-2015 đã có Nghị quyết xác định “tiếp tục giữ môn lịch sử trong chương trình và sách giáo khoa mới”.
Nhưng giữ nó ở chỗ nào, có bắt buộc không trong nền giáo dục vẫn còn là chuyện nan giải. Phía Hội Khoa học Lịch sử và nhiều giáo viên dạy sử đòi phải đặt môn sử vào vị trí quan trọng hàng đầu và thay đổi cách dạy làm sao hấp dẫn được học trò.
Nhưng muốn học sinh ham mê lịch sử thì trước tiên Lịch sử phải hết sức trung thực, công bằng và trong sáng. Lịch sử Dân tộc không phải cũng là lịch sử đảng chỉ biết nói hay, nói tốt cho đảng Cộng sản và Chủ nghĩa Mác-Lênin và cái gọi là Tư tưởng “cách mạng dân tộc” của Hồ Chí Minh. Còn những gì của đối phương Việt Nam Cộng hòa thì cũng xấu, trận nào cũng thua to mà “quân ta thì toàn thắng”, không tổn thất gì ráo như sách sử hiện đang lưu hành!
Ông Hồ Chí Minh là người Cộng sản và ông chỉ muốn lấy Chủ nghĩa Cộng sản làm nền tảng xây dựng đất nước. Nhưng đó là chuyện của những năm 1930-1954. Từ 1954 đến 1975, con người Việt Nam không thuần nhất là Cộng sản mà còn có cả khối trên 20 triệu dân chống Chủ nghĩa Cộng sản và chống cả ông Hồ ở miền Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau.
Và sau đó, từ 1975 đến 2015, Thế giới Cộng sản do Nga Sô lãnh đạo đã tan rã, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thoái trào và lạc hậu. Cả thế giới chỉ còn lại 4 Quốc gia theo Chủ nghĩa Cộng sản gồm Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba.
Nhưng Bắc Kinh lại bày ra “Chủ nghĩa Xã hội đặc sắc Trung cộng”, theo cách xào nấu của người Hoa. Việt Nam lại còn đang mò mẫm “bỏ qua chủ nghĩa Tư bản” để “quá độ lên Xã hội chủ nghĩa” mà, nói theo lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (báo Thanh Niên, 24/10/2013).
Trong khi Bắc Hàn thì tiếp tục nghèo nàn và lạc hậu và Cuba thì đã biết chuyển hướng đề bình thường quan hệ ngoại giao với Mỹ sau 50 năm sống lầm than với cái đầu già nua và ương ngạnh Fidel Castro!
Bây giờ, sau 30 năm gọi là “đổi mới”, Việt Nam chưa làm nổi con ốc vít. Từ sợi chỉ, cây kim cho đến máy móc, hàng tiêu dùng và nhiều thứ khác đều phải nhập vào từ Trung cộng để lệ thuộc sâu thêm mỗi năm.
Từ lệ thuộc kinh tế, sách sử Việt Nam lại không dám xác quyết Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam mà lãnh đạo đảng lại không dám động viên nhân dân có quyết tâm bảo vệ lãnh thổ thì Việt Nam là của ai trong nay mai?
Cũng ngạc nhiên khi không thấy các nhà Khoa học và lý luận hàng đầu của đảng, bấy lâu nay vẫn oang oang ra sức bảo vệ đảng có lý do chính đáng để cầm quyền mãi mãi, đã không dám hé răng đòi điều tra cho ra kẻ cấm không cho Hoàng Sa-Trường Sa vào cách giáo khoa.
Những người này cũng im lìm để nghe lời tuyên bố của Tập Cận Bình: “Các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, từ thời cổ đại, là lãnh thổ của Trung cộng. Chúng tôi có toàn quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của chúng tôi, cũng như các quyền lợi chính đáng về hàng hải”.
Nhưng tại sao những nhà thông thái của đảng lại lạnh cảm đến thế nên không có gì khó hiểu tại sao giới cầm quyền ở Việt Nam vẫn chưa biết đo xem từ chỗ tránh nói đến Hoàng-Trường Sa để khỏi “nhạy cảm” với Trung cộng đến ngày nước mất là bao xa?
Hay là những thỏa hiệp bí mật ở Thành Đô (Tứ Xuyên) Trung cộng năm 1990 giữa Nguyễn Văn Linh-Đỗ Mười-Phạm Văn Đồng và phiá Trung cộng gồm Giang Trạch Dân và Lý Bằng đã khóa miệng lãnh đạo CSVN và xóa luôn cả sách sử của Dân tộc? 
03.12.2015

Cái gì của Xê-da hãy trả lại cho Xê-da, cái gì của môn sử hãy trả lại cho môn sử

Nguyễn Thượng Long (Danlambao) - …Khi những tiếng đì đùng của loạt đại bác đón chào ông Tập Cận Bình Tổng bí thư đảng - Chủ tịch nước CHND Trung Hoa chưa kịp lắng xuống, kế là hình ảnh ông này cùng bà vợ xinh đẹp hiên ngang bước trên thảm đỏ được 2 hàng thiếu nữ Việt Nam rải hoa dẫn vào phòng Diên Hồng của Quốc Hội CHXHCN Việt Nam, để ông lớn tiếng rao giảng cho Ban lãnh đạo Việt Nam cùng 500 ông bà Nghị đang nhóm họp về những “Đại Cục” và "Tiểu Cục" trong quan hệ giữa 2 nước… tất cả chưa kịp phai mờ thì chỉ ngày hôm sau thôi trên quốc đảo Singapore xinh đẹp, ông Tập đã làm BLĐ Việt Nam ngơ ngác trước những tái khẳng định chủ quyền là “không thể chối cãi” của Trung Quốc đối với Biển Đông và các nhóm đảo trong vùng biển này.
Hàng thần lơ láo
Tình thế Địa - Chính Trị của Việt Nam lúc này là rất xấu. Nhiều vị trí quan trọng trên đất liền, Biển Đông bị Trung Quốc phong tỏa, Hoàng Sa và một phần Trường Sa đã rơi vào tay Trung Quốc, Việt Nam ngày càng lún sâu vào sự phụ thuộc Trung Quốc…, Sự chào đón Thái Thú họ Tập nồng hậu quá mức bình thường mang thông điệp “Đánh đổi liêm sỉ và lòng tự trọng lấy yên ổn và tiền bạc…” đang còn là niềm cay đắng của cả dân tộc… thì ban lãnh đạo Bộ GD-ĐT lại chọn đúng thời điểm đó để đưa ra phương án sẽ tích hợp môn Lịch Sử vào môn Giáo Dục Công Dân và môn Giáo Dục Quốc Phòng thành bộ môn mới là “Công Dân với Tổ Quốc”. Nếu phương án này trở thành hiện thực thì hiển nhiên bộ môn Lịch Sử bị mất đi tính độc lập vốn có của một bộ môn liên quan nhiều nhất đến ý thức công dân, đến lòng yêu nước, đến thái độ cộng đồng…
Một “Việc Lớn” như thế, được mưu sự vào thời điểm quá nhậy cảm này, BLĐ Bộ giáo dục đã tự đưa mình vào thế “Trăm dâu đổ một đầu tằm” và phải một mình gánh chịu sự căm phẫn của công luận trước những dự định mà tôi dám chắc không phải chỉ một mình BLĐ Bộ GD nghĩ ra. Và uy tín của ngành GD - ĐT những ngày này, hầu như đã hoàn toàn tan hoang trước sự nổi giận của dư luận trong và ngoài nước và thế là…
- “Bỏ môn Sử - Một âm mưu đốt gia phả dân tộc” (KM), 
- “Môn Sử cần được “Phục Sinh” vì bao nhiêu năm qua, cũng như môn Văn… môn Sử đã bị chính trị hóa đến mức tê liệt” (Bauxite. VN).
- “Hãy trả môn Sử cho chính Lịch Sử” (Hữu Nguyên)
- “Hình như BGD thích chọc tức dư luận” (Mạc Văn Trang) 
- “Một kiểu tẩy xóa ký ức dân tộc” (Nguyễn Văn Tuấn)
- “Tích hợp hay phân rã” (Tương Lai)
- “Dậy môn Công Dân với Tổ Quốc nhưng Tổ Quốc tên gì?” (HSP)
- “Xóa môn Sử là triệt tiêu tinh thần dân tộc” (Văn Chu)
…….
Cuộc “Ném Đá” chỉ tạm lắng xuống khi Quốc Hội 13 đang nhóm họp phải vội vàng đưa ra Nghị Quyết đặt môn Lịch Sử vào vị trí của một bộ môn độc lập. Tôi nghĩ rằng sự nổi giận nào cũng không tránh khỏi sự “Hưng Phấn” có phần thái quá do không kiểm soát được. Tôi không tin là BLĐ Giáo Dục có thể một mình mà dám mưu sự những việc tầy đình như thế. Dù dân tộc có bị liệt kháng đến đâu sau 70 năm bị ĐCS dắt đi như dắt Trâu Bò thì vẫn không dễ gì dân tộc này cho phép họ có thể làm được việc đó. Trong sự kiện này BLĐ Giáo Dục Việt Nam cũng chỉ những “Thợ dậy tầm thường”, là con tốt đen trên bàn cờ thời cuộc, một thứ “Con Ngựa thành T- roa” của những thế lực nào đây? Câu hỏi này xin dành cho những ai vẫn còn tự thấy lưu chuyển trong cơ thể mình là dòng máu Lạc Hồng bất tử.
“Tiên trách kỷ - Hậu trách nhân”, khi BLĐ Giáo dục đưa ra phương án “Tích hợp” cũng chính là lúc họ bầy tỏ sự coi thường môn Lịch Sử là không thể chối cãi. Bị Quốc Hội dồn đến chân tường, ngài Bộ Trưởng Phạm Vũ Luận đã tự thể hiện mình là một BT rất yếu kém, không đủ tâm và tầm khi đưa ra một lời chống chế quá ư lỏng lẻo, khôi hài và kém thuyết phục rằng “Tích hợp bộ môn Lịch Sử vào 2 bộ môn kia là đề cao môn Sử!”
Đem môn Sử hòa tan vào các môn GDCD và GDQP chứ không phải tích hợp 2 môn đó vào môn Sử. Chưa hết trong các nhà trường ở Việt Nam hiện nay 2 môn này còn phụ hơn là bản thân môn Sử và ở nhiều nơi, giờ học GDCD và GD QP chỉ là giờ “Giữ Trẻ Lớn”, là giờ để cả thầy và trò xả căng thẳng mà thôi. Tôn trọng và đề cao môn Sử theo kiểu đó sao?
Ngày 20 - 11 - 2015 vừa qua, tôi mang những tâm sự này trao đổi với một giáo viên dậy Sử năm nào cũng soán ngôi là giáo viên giỏi. Bằng một thứ ngôn ngữ của người đã hết sinh khí khi đã giã từ bục giảng, anh nói với tôi:
“Cuộc “Ném Đá” vừa rồi phần nào mang tính “Hội Chứng Đám Đông”. Người ta chỉ hốt hoảng lo sợ “Gia phả - Căn cước của giống nòi bị đốt phá, sợ tinh thần dân tộc bị triệt tiêu, sợ con cháu sau này ngoảnh mặt đi trước ông cha. Họ không nghĩ thứ “Lịch Sử” mang đi tích hợp là thứ “Lịch Sử” chỉ chứa đựng 30 % là sự thật 70 % là dối trá, là thứ lịch sử đã bị chính trị hóa đến mức tê liệt và bị người học chối bỏ. Thứ Lịch Sử đó chỉ có mỗi một chức năng kể lể công lao của đảng của Bác suốt mấy chục năm nay.

Thử hỏi có thuyết phục được nhau không khi cái đọng lại trong đầu học sinh sau những giờ Lịch Sử chỉ là “Ta luôn luôn thắng, Địch luôn luôn thua” là “Ta là chính nghĩa – Địch là phi nghĩa” là “Ta là tốt đẹp – Địch là xấu xa”, “Ta là phơi phới đi lên – Địch là ngụy, là lụi tàn và đi xuống”.

Thử hỏi, giáo dục lòng yêu nước cái gì khi cả thầy cả trò cùng nhau phải tung hứng những anh hùng dởm, không có thật trên cõi đời này như kiểu anh hùng chống Pháp Lê Văn Tám, anh hùng chống Mỹ Nguyễn Văn Bé…Tôi nghĩ rằng tích hợp thứ “Lịch Sử” đó với 2 bộ môn quá phụ GDCD – GDQP…còn báo hại thêm cho 2 bộ môn vốn đã quá là bị coi thường này. 
Phòng thi môn Lịch Sử
Một cơn mưa giấy lộn là sách vở tài liệu môn Sử…
Giáo dục lòng yêu nước cái gì mà Hai Bà Trưng chống lại ai cũng không dám nói! Yêu nước thương nòi cái gì mà trận chiến Hoàng Sa 1974, Gạc Ma 1988, cuộc chiến biên giới Tây Nam và cuộc chiến biên giới phía Bắc 1979 không được nhắc đến. Học sinh Việt Nam nghĩ gì về bộ môn Lịch Sử mà phòng thi chỉ có mỗi 1 thí sinh nhận thi môn môn này! 

Thử hỏi Lịch Sử là Lịch Sử nào mà học trò vui mừng xé sách vở tạo nên những cơn mưa giấy lộn trắng sân trường, khi biết không phải thi môn Sử. Như thế thì môn Sử có xứng là Quốc Sử trong đời sống học đường ngày nay hay không? Tôi nghĩ rằng thứ Lịch Sử đó không chỉ tạo ra những thế hệ tật nguyền về nhân cách đối với người học mà nó cũng làm băng hoại cả danh dự cùng uy tín của người thầy trong sứ mạng rao giảng.

Môn Lịch Sử đó… đã nhiều lần mang lại danh hiệu dậy giỏi cho tôi, mang lại lương tháng cho tôi, nhưng chưa bao giờ mang lại sự yên ổn trong tâm hồn tôi. Tôi lấy làm khó hiểu là những đồng nghiệp đang ngày ngày đứng trên bục giảng bộ môn này ít người bộc lộ chính kiến riêng của mình trong cuộc tranh luận này quá. Chỉ thấy những tiếng la ó của các vị mũ cao áo dài trong giới Sử học ở tầng chóp bu, còn giáo viên Sử cùng lớp lớp học trò ở mọi cấp học… hình như họ đã an phận là những con chuột bạch cho những thí nghiệm vớ vẩn mà thôi”.
Tôi không ngờ BLĐ Bộ Giáo Dục lại dễ dàng đưa ra chủ trương “Tích Hợp” một cách hấp tấp đến thế. Theo tôi vấn đề quan trọng không phải là coi “Tích Hợp” là tốt hay “Tích Hợp” là xấu. Vấn đề quan trọng và cần làm ngay lúc này là: Hãy trả lại những giá trị trung thực cho bộ môn Lịch Sử, bộ môn quan trọng hàng đầu trong việc hình thành ý thức cộng đồng như câu nói nổi tiếng:
“CÁI GÌ CỦA XÊ - DA HÃY TRẢ LẠI CHO XÊ – DA.
CÁI GÌ CỦA THIÊN CHÚA HÃY TRẢ LẠI CHO THIÊN CHÚA”.
Chỉ có con đường đó… mới chấm dứt được cảnh phòng thi Sử chỉ có 1 thí sinh, thầy giáo dậy Sử mới thực sự được là những người nuôi dưỡng lòng yêu nước cho thế hệ trẻ và họ mới thoát được cái sứ mạng bất đắc dĩ phải vào vai những cán bộ tuyên giáo xoàng xĩnh của Đảng, với những giờ dậy tẻ nhạt, lạc lõng cùng những sân trường trắng xóa là giấy lộn có nguồn gốc là sách vở và tài liệu ôn thi dành cho môn Sử./.
Hà Đông 12 – 2015.
Nguyễn Thượng Long
- Nguyên giáo viên dậy Địa Lý Hà Tây. Thanh tra Giáo Dục Hà Tây.
Nơi ở: Số nhà 4 - Ngõ 102 – Ngách 12 – Đường Văn La – Hà Đông – Hà Nội.
ĐT 0433521066 & 01652323836
Email: nguyenthuonglong571@gmail.com

Hành động sinh tồn

Emna Fitouri * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Dưới mắt sinh viên Emna Fitouri, cuộc nổi dậy của tuổi trẻ Tunisia vào tháng Một 2011 còn hơn cả cuộc cách mạng - cuộc nổi dậy ấy là vấn đề sống chết cho cả thế hệ.
Vào ngày 10 tháng Một 2011, tôi thấy trên Facebook người ta đang chuẩn bị biểu tình ở Tunis. Các bạn học và tôi hẹn gặp nhau bên ngoài Bộ Nội vụ vào ngày 14 tháng Một. Chúng tôi biểu tình suốt ba ngày liền, trên đường Habib Bourguiba và ở quảng trường Place de la Kasbah, ở trung tâm thành phố. Giống như đa số thanh niên Tunisia, chúng tôi đều sắp xếp mọi thứ trên Facebook. Cho nên nhiều nhà bình luận gọi cuộc cách mạng của chúng tôi là “cách mạng Facebook”. Nhưng hiện thực phức tạp hơn rất nhiều. Thật ra những mạng xã hội này chỉ là công cụ tuổi trẻ dùng để khởi sự, để kích hoạt thay đổi trong xã hội, để chống thất nghiệp và những hình thức tủi nhục khác, để bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm.
Tuy nói thế, nhưng thật là sai lầm khi coi thường hoàn toàn vai trò của internet, vì nó đã chứng tỏ là công cụ tuyệt vời trong công cuộc dân chủ hóa các nước Ả Rập, đồng thời phản ánh sự đa dạng về chính trị và văn hóa của họ. Và là vũ khí mạnh mẽ chống lại kiểm duyệt. Bây giờ, không ai có thể nói "Chính tôi. Tôi là người chỉ huy." Internet sẽ cản họ lại bằng cách tạo ra những cơ hội cho sự thảo luận mang tính xây dựng. Nó cũng dạy chúng ta “thảo luận” thật sự nghĩa là gì.
Cuộc cách mạng trước kia ở Tunisia kết thúc bằng “chuyên chính cách mạng”, bằng những hậu quả mà ai cũng biết. Hôm nay chúng tôi thuộc về “cách mạng văn minh”, bất bạo động, mà đang tiến bước đến dân chủ.
Nhưng cách mạng không hoàn toàn văn minh lắm - truyền thông và các nhà phân tích đã nói nhiều về tính chất “ôn hòa” của cuộc cách mạng này, vì tuổi trẻ tay không xuống đường. Chúng ta cần chọn từ cẩn thận. Ôn hòa, cho ai? Cho những người hết ngày này đến ngày khác co rúm người lại vì sợ hãi khi đạn bay trên đầu? Cho những người lính và cảnh sát bị dằn xé giữa bổn phận nghề nghiệp và lòng xác tín riêng? Cho những người biểu tình trẻ tuổi chưa bao giờ thấy máu đổ quá nhiều như thế? Địa ngục chúng tôi đã trải qua có thể không thảm khốc bằng địa ngục của anh em chúng tôi ở Libya, Yemen và Syria, nhưng chúng tôi vẫn trải qua nhiều lúc khủng khiếp.
Tôi thấy nhiều xác chết; tôi rất sợ hãi; tôi xỉu đi vì hơi cay…
Hàng trăm người từ Sidi Bouzid -thành phố nơi Mohamed Bouazizi tự thiêu vào ngày 4 tháng Một, và từ đấy châm ngòi cho cuộc cách mạng- đến Kasbah ở Tunis, để tham gia các cuộc biểu tình ở thủ đô. Nhiều người mang cả vợ con theo. Họ đói, lạnh và khốn khổ. Tôi giúp các hướng đạo sinh mang thực phẩm, chăn đến cho họ và giúp đỡ bác sĩ phụ trách y tế của hướng đạo.
Nhưng điều quan trọng nhất, tôi la to. Suốt nhiều ngày liên tiếp. Tôi gắng hết sức la to "CÚT ĐI!" cho tới khi Ben Ali ra đi. Tôi muốn kết liễu chế độ mà đã biến tuổi trẻ trở thành nạn nhân dễ bị tổn thương nhất của họ.
Thay vì là lực đẩy đằng sau nền kinh tế, chúng tôi đã trở thành con dê tế thần của chế độ. Điều đấy giải thích tại sao tuổi trẻ chúng tôi là những người đầu tiên nổi dậy. Thực vậy, chúng tôi đã lâm vào bước đường cùng. Một mặt chúng tôi nhận được nền giáo dục được coi là tốt nhất ở Châu Phi, nhưng, thực tế, nền giáo dục ấy không thích nghi với những nhu cầu của thị trường luôn luôn thay đổi. Trong khi ấy, chế độ không cho phép chúng tôi có việc làm và giữ việc làm. Nền giáo dục thường xuyên nhằm giúp nhân viên cập nhật các kỹ năng của họ không tồn tại ở Tunisia. Chẳng hạn, trong lĩnh vực IT, khi kỹ thuật thay đổi, các công ty chỉ cần thuê các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật phần mềm mới! Việc làm không ổn định đã trở thành căn bệnh, trầm trọng như việc các sinh viên trẻ ra trường ngay từ đầu đã không thể nào tìm được việc làm. Tôi tự hỏi liệu có một gia đình nào trong cả nước mà lại không có ít nhất một sinh viên ra trường thất nghiệp ở nhà.
Hệ thống giáo dục bấp bênh và chính sách kinh tế cực kỳ bất chấp đạo lý đã làm cho thế hệ trẻ hơn cảm thấy bị lợi dụng, bị bóc lột và nghẹt thở. Những cuộc nổi dậy đầu tiên của chúng tôi là những hành động sinh tồn. Những hành động tương lai của chúng tôi sẽ góp phần vào quá trình xây dựng quốc gia mới.
Emna Fitouri, sinh viên người Tunisia 21 tuổi, đang học tiếng Pháp năm thứ hai ở Trường Dự bị Văn khoa và Nhân văn ở Tunis.
Nguồn: Tạp chí UNESCO COURIER, số tháng Bảy-tháng Chín 2011, trang 9-10
04/12/2015

Nguyễn Bá Chổi sẽ kiện Báo lề Dân

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Tôi là Nguyễn Bá Chổi sẽ nhờ luật sư kiện các báo Lề Dân về tội đã không trả tiền “bồi bút”mà báo Lề Đảng đã khẳng định là tôi “viết có thưởng” trong nhiều năm qua, nếu...
Trước hết là tôi tạ ơn các nhà báo chân chính của báo Lề Đảng- đương nhiên chỉ có nhà báo lề này mới viết được chân chính, phản ảnh trung thực, đúng với chủ trương đường lối của Tuyên Giáo Trung Ương, với phương châm “Còn Tuyên giáo, Báo còn.. Phải”. Nhờ quý vị bỏ công lấy của nghiên cứu, tìm tòi, mới lòi ra tiền nhuận bút bấy lâu nay tôi được hưởng mà “chính chủ” lại không biết một đồng xu bác Hồ, chớ đừng nói là “Oăn xen” (One Cent) bác Ô-ba-ma.
Tôi xin trích dẫn ra đây một số ân nhân đã có công với Cách Mạng, à quên, có công với Phản Động Nguyễn Bá Chổi trong sự nghiệp làm chứng “siêu án” Báo Lề Dân quỵt tiền “bôì bút” của tôi (Thứ thứ tự tên ân nhân kèm với trích dẫn liệt kê dưới đây hoàn toàn “vô tư”, ai nhớ trước, viết trước, nhớ sau viết sau, chứ không hề ngụ ý, trước trọng sau khinh):
1/ Ân nhân dấu tên của bài “Thằng Nguyễn Bá Chổi ngu ghê”:
“Nguyễn Bá Chổi ngu ghê, 5 năm làm bồi bốt cho dân làm báo, kiếm chác chắc cũng được bộn tiền nhuận bút...”(1)
2/ Ân nhân Trần Ái Quốc, trong bài “Sự tởm lợm về nhân cách của Nguyễn Bá Chổi”:
“Con chó điên, một tên buồi bút hạng ruồi Nguyên Bá Chổi thường xuất hiện kiếm cơm trên Dân làm báo”(2)
Trong bài “Súc sinh Nguyễn Bá Chổi...”:
“...luồn cúi làm thân phận chó săn cắn càn, sủa bậy chỉ vì mấy đồng tiền tài trợ rẻ mạt từ đám chống cộng hải ngoại.”(3)
Và trong bài “Nguyễn Bá Chổi và sự cố chấp của một kẻ viết văn thuê”:
“Thật đáng buồn cho Nguyễn Bá Chổi cùng vài chục rận đang hành nghề viết văn thuê cho Việt Tân để kiếm sống”(4)
3/ Ân nhân JUNXIAN, (tên như người “nước lạ”) trong bài “Xuyên tạc Lịch sử Dân tộc- Nguyễn Bá Chổi tự biến mình thành khủng bố”:
“Cái tên Nguyễn Bá Chổi chẳng còn lạ gì với cộng đồng mạng. Vì chuyện “cơm áo gạo tiền”, tay “Chổi” này đã có nhiều bài... Chỉ vì ít đô la, chúng sẽ sẵn sàng đánh đổi lương tâm, ngoan ngoãn nghe theo..”(5)
4/ Ân nhân Gà Tre, trong bài “Nguyễn Bá Chổi, kẻ đáng thương: hơn đáng giận”:
“...nói bẩn chỉ vì được “dí cho Đôla Mỹ”.
5/ Ân nhân Mực Tàu, trong bài “Này anh Nguyễn Bá Chổi”:
“Và tôi cũng nghĩ chắc anh cũng vì vài đồng bạc lẻ của mấy kẻ “bợ đít thầy Mỹ”(6)
6/ Ân nhân Quê Mẹ, trong bài "Nguyễn Bá Chổi, một kẻ hèn hạ”:
“Nguyễn Bá Chổi và hàng chục kẻ viết văn thuê khác suốt ngày ăn tiền ngoại tệ bẩn thỉu của bọn bán nước” (7)
Trên đây là một số trong vô số nhà báo chân chính của 700 tờ báo vì Tuyên giáo mà quên mình, vì Tuyên giáo mà hy sinh vì tiền bồi bút của Nguyễn Bá Chổi, ưa chọc phá tổ Bìm Bịp; đó là chưa thèm kể ra hàng nghìn Dư Luận Viên – qua các lời còm về những bài viết của NBC, cũng đã lên tiếng bên vực tôi, làm sáng tỏ “sự cố” Nguyễn Bá Chổi “Suốt ngày ăn tiền ngoại tệ bẩn thỉu” nhưng bị bọn chủ báo bóc lột không cho tiền mua “ ba tấc vải để che cụ Hồ”, khiến tôi đành mang tội bất hiếu với cha già DT, để “ông cụ” lạnh lẽo rét mướt âu sầu thảm hại như mèo cụt tai bị bỏ đói lâu ngày.
Kế đến là, thưa các ân nhân được tôi "chiếu cố" trên đây, đã thương Nguyễn Bá Chổi thì thương cho trót, là hãy làm nhân chứng cho tôi có tiền bồi bút, nhưng bọn chủ báo Lề Dân quỵt sạch, (trái với quý ân nhân tiền trao cháo múc, có khi chưa viết đã lãnh phong bì, hoặc có khi bài chưa có đã ló chân dài các em) để tôi kiện sặc gạch bọn ăn gian nói dối.
Viết ra điều này, không phải để dụ khị quý ân nhân ra tòa làm chứng cho tôi bị bóc lột lâu nay mà mình không biết. Nhưng ở đời có qua có lại, nhất là dưới ánh sáng chủ nghĩa Duy Vật, vật chất chi phối mọi sự, nếu thắng kiện, và chắc chắn là thắng vì nghe đến nhà báo Lề Phải, là quan tòa không muốn cũng Phải gật đầu “một vâng theo ý cha”, Chổi này sẽ không ẳm một mình món tiền truy lãnh công lao bồi bút nhiều năm, cho nhiều báo, chưa kể những bút hiệu khác, cộng thêm tiền lời và tiền bồi thường, mà phải... nhờ xe tải chở thẳng đến nhà các ân nhân trên đâỵ
Vì nhờ quý vị mà Không trở thành Có, nên cái Có đó Chổi này coi như Không. Qúy vị hồ hỡi mà ra tòa làm nhân chứng cho Chổi nhé.
Nếu quý vị nhận ra tòa làm chứng, Chổi đây mới đi kiện được. Bằng không, Chổi lại tiếp tục làm “bồi bút” như bao năm qua thì rán mà chịu... đọc Nguyễn Bá Chổi.
______________________________________
Ghi chú:

Tù oan, đừng để nước mắt rơi thêm nữa!

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một ngày trong tù dài bằng nghìn năm tự do bên ngoài). Nếu ví như vậy thì hơn 17 năm ở tù (mà tù oan ức) của ông Huỳnh Văn Nén nó sẽ dài ra như “vạn lý trường thành” của đời người, bởi ngoài sự khắc nghiệt kham khổ của đời sống tù nhân bị án chung thân thì bên trong song sắt lạnh lùng cô đơn với nổi đau đoạn trường sẽ nhân lên bội phần khi người tù này còn trăn trở mòn mỏi với khắc khoải uẩn khúc cay đắng tủi nhục oan khiên “tội ác ai làm mà mình phải chịu”, “cay đắng đó, dù chỉ một ngày thì cũng không ai muốn nếm trải”. Lời ông Huỳnh văn Nén (BBC).
8g30 Sáng 3.12 tại UBND thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, đại diện VKSND, TAND và Công an tỉnh đã tổ chức buổi xin lỗi công khai ông Huỳnh Văn Nén và gia đình về bản án oan sai hơn 17 năm tù mà ông Nén gánh chịu, còn nhiều việc mà bổn phận và trách nhiệm của các cơ quan liên quan phải chu toàn tiếp theo sau phần “xin lỗi” này với nạn nhân, ông Nén và gia đình. 
Tuy nhiên, nhiều người có mặt trong buổi xin lỗi “lịch sử” này còn chứng kiến những giọt nước đã mắt rơi xuống từ cả hai phía: Người nhằm lẫn kết “án oan” và người bị “tù oan”.
Bà Trần Thị Thiên Hương - phó chánh tòa Bình Thuận khi đọc lời xin lỗi gia đình ông Huỳnh Văn Nén đã nghẹn lời bật khóc.
Đáp từ lời xin lỗi, Ông Huỳnh Văn Nén mắt cũng lệ rơi
Dù rơi xuống trên cung bậc nào thì những giọt nước mắt ấy cũng biểu cảm vào hai trạng thái “Buồn và Vui”. Nạn nhân Huỳnh Văn Nén vui vì được tự do lẫn với tủi thân bởi oan ức, còn quan tòa Trần Thị Thiên Hương lệ buồn nhỏ xuống vì hối hận qua lời tạ lỗi: 
"…thật là oan trái. Những thiệt hại mất mát này không ai có thể thấu hiểu bằng chính bản thân ông Huỳnh Văn Nén và gia đình ông. Chúng tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm sâu sắc và hứa sẽ không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để trong thời gian tới không còn một người nào, một gia đình nào phải gánh chịu những mất mát, thiệt thòi do bị điều tra, truy tố và xét xử kết án oan."(Trần Thị Thiên Hương - phó chánh tòa Bình Thuận) (1)
Cảm nhận được sự chân thành, tuy nhiên có một thiếu sót rất lớn, không thể không đề cập, (vô tình hay tự ái?) mà bà quan tòa đại diện cho 3 cơ quan VKSND, TAND và Công an tỉnh, trong toàn văn lời thư xin lỗi (1518 chữ) không có một chữ nào nhắc đến (chứ chưa nói cám ơn) 2 con người (có mặt trong buổi xin lỗi) mà nếu không có họ thì cái “nút thắt” của vụ oan án này đầy khả năng sẽ không bao giờ được tháo ra và 3 cơ quan điều tra tố tụng này cũng sẽ không có dịp “rút ra được bài học kinh nghiệm sâu sắc”. Đó là 2 “hiệp sĩ” ông Nguyễn Thận (nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Minh) và nhất là Anh Nguyễn Phúc Thành (bạn của hung thủ) người mà dù bị hung thủ đe dọa giết nhưng vẫn ít nhất là hai lần làm đơn ký tên chịu trách nhiệm để tố cáo hung thủ. 
(Nguyên CT/UB xã ông Nguyễn Thận và Anh Nguyễn Phúc Thành) 
Đơn tố cáo được anh Nguyễn Phúc Thành viết tại trại giam Sông Cái năm 2000. Để thư tới được đúng địa chỉ, Thành đã gửi đi nhiều bản qua nhiều kênh khác nhau - Ảnh: M.Vinh
Nhận lỗi với chính nạn nhân của mình, tất nhiên rồi, nhưng hàm ân từ 2 “hiệp sĩ” này là không nhẹ chút nào, bởi vì không có lòng dũng cảm và nhân ái của họ (Nguyễn Thận&Nguyễn Phúc Thành) thảo đơn và bôn ba cùng gia đình ông Nén đi kiến nghị kêu oan khắp nơi thì Viện trưởng VKSND Tối cao sẽ không có kháng nghị và Tòa hình sự TAND Tối cao cũng vì thế sẽ không xét lại bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Bình Thuận để hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm buộc điều tra lại theo thủ tục chung thì hôm nay nạn nhân Huỳnh Văn Nén vẫn còn thi hành án oan mà 3 cơn quan pháp luật tỉnh Bình Thuận sẽ không thấy sai sót, không thấy được lỗi của mình. 
Qua đó, chúng ta và các cơ quan điều tra tố tụng của “nhà nước, đảng ta” không thể phủ nhận một điều: Khi một bản án tòa đã tuyên nhưng tiếp theo sau là phản ứng bất bình vọng lại từ xã hội, tất yếu bản án ấy “có vấn đề”. 
Bởi phải có “vấn đề” thì dư luận mới phản đối, dù méo mó nhưng không thể bác bỏ hiển nhiên 1 viên gạch 6 mặt cắt hấp thu lượng ánh sáng đâu bằng 100 viên kề bên. Nhưng trong cơ chế “độc tài CS” như luật bất thành văn một bị can kết án rồi thì cơ may thoát tội là rất khó, bởi bị can được minh oan là một mối nguy cho cơ quan điều tra xét xử bị xử lý trách nhiệm vì vậy người ta sẽ tìm cách buộc tội cho đến cùng, bằng mọi cách, mà nhục hình mớm cung buộc ký biên bản nhận tội rất phổ biến.
Điển hình như vụ án oan chung thân của ông Nguyễn Thanh Chấn (Tỉnh Bắc Giang), nạn nhân đã bị buộc phải cầm bút viết thư về cho vợ nói rằng mình đã phạm tội. Ông may mắn vì có cha là liệt sĩ nên được ân giảm mức án tử hình xuống chung thân nếu không thì thân xác đã mục rữa, trước khi thủ phạm ra đầu thú. Có một cái gì đó như là tội ác trong biện pháp điều tra kiểu này, mà trường hợp Huỳnh Văn Nén cũng sẽ giống hệt như vậy… nếu không có những phản ứng tích cực từ cộng đồng công luận.
Đại diện các cơ quan thực thi pháp luật, trong thư xin lỗi, vang vọng lời này: "Chúng tôi... hứa sẽ không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để trong thời gian tới không còn một người nào, một gia đình nào phải gánh chịu những mất mát, thiệt thòi do bị điều tra, truy tố và xét xử kết án oan." (1) (Trần Thị Thiên Hương - phó chánh tòa Bình Thuận)
Mà một trong những điều rất quan trọng, không chỉ riêng cho các cơ quan thực thi pháp luật Bình Thuận học tập là: “Đừng thờ ơ với những tiếng vọng lương tâm” mà lương tâm chính là cái thiện tâm, đặc tính sẵn có trong mọi con người - Cũng giống như 2 ông Nguyễn Thận và Nguyễn Phúc Thành, dù không phải thân nhân ruột thịt với Huỳnh Văn Nén nhưng lương tâm của họ xác quyết đây là bản án “oan” mà vì đạo làm người không thể ngoảnh mặt với nổi đau đồng loại buộc họ lên tiếng dù chẳng có lợi lộc gì.
Tương đồng như vậy, ngày 24/05/2015, Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) và 36 tổ chức khác trong và ngoài nước chung một kiến nghị yêu cầu nhà nước Việt nam trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm tại các nhà tù Việt nam, vì viết blog hay kêu gọi cải cách chính trị và tôn trọng quyền con người không thể coi là hành vi khiến cho tất cả bị kết án là tội phạm.
“trong thời gian tới không còn một người nào, một gia đình nào phải gánh chịu những mất mát, thiệt thòi do bị điều tra, truy tố và xét xử kết án oan."(Trần Thị Thiên Hương - phó chánh tòa Bình Thuận) 
Thì ngay bây giờ, đừng để người kết “án oan” và người bị “tù oan” nước mắt phải rơi thêm nữa thì nhà nước và đảng CSVN hãy làm như Chính Phủ Myanmar phóng thích vô điều kiện tất cả “tù nhân chính trị” theo tiếng vọng lương tâm quốc tế và trong nước.
Thêm một lần nhắc lại điều này: Mục đích cuối cùng của một bản án là làm cho tội nhân tâm phục khẩu phục chứ không phải là khuất phục họ bằng bạo quyền, độc đoán. Vành móng ngựa ngày nay không còn là biểu tượng đơn phương của hà khắc mà là hình ảnh răn đe cho cả 2, người xử án và kẻ chịu án - “thợ mộc có thước, thợ kim hoàn có khuôn, cán bộ điều tra và xét xử thì có nguyên tắc, pháp luật” - Xã hội nào cũng cần có mọi công cụ biện pháp để trấn áp ngăn ngừa bài trừ tội phạm, nhưng điều đó không có nghĩa là được phép đạp lên giá trị nhân phẩm đạo lý và nguyên tắc để nhân danh cho sự tồn tại của một chế độ một nhà nước hay đảng phái mà gieo tai họa cho người dân vô tội, đó không phải là phương tiện để một nền tư pháp văn minh đi tới công lý. Đừng để người kết “án oan” và người bị “tù oan” cùng rơi nước mắt mà không biết vì sao!.
04/12/2015

3/12/15

Đập vỡ bạo quyền: Lê Hoàng Trúc


Khi đại biểu, CT/Quốc hội “ngủ quên”!?

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, xét về tổng quy mô nợ công trên GDP, tỷ lệ của Việt Nam cuối năm 2014 ở mức trên 60%, cao nhất khi so sánh với các nước đang phát triển trong khu vực (Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia). Nợ công Việt Nam hiện nay lên tới hơn 2, 7 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra con số 110 tỷ USD; Nếu dựa trên con số này và mức dân số cuối năm 2014 là 90,7 triệu người, bình quân mỗi người dân Việt Nam gánh 1.212 USD (26, 6 triệu/người) nợ công (VnExpress.net).
Quán tính, khi mắc nợ thì ai cũng tiết kiệm tránh chi tiêu hoang phí tần tiện làm ăn để lo trả nợ cho bớt gánh nặng tiền lãi, và vì vậy cho dù là không vướng bận nợ nần chăng nữa thì một nông dân hay doanh nhân cũng không ai dám bỏ hoang ruộng đồng, xí nghiệp của mình một mùa, một năm thôi chứ đừng nói là đến 5 năm. 
Vậy mà một nhà máy hiện đại trị giá hơn 100 triệu USD vừa xây xong cho ra mẻ sản phẩm đầu tiên rồi bỏ xó hoang phí tới 5 năm liền. Đó là Nhà máy Cán Thép tấm khổ rộng đầu tiên và lớn nhất Việt Nam được đầu tư gần 3.000 tỷ đồng tại “Cái Lân”, TP/Cát Bà, Tỉnh Quảng Ninh. 
Nhà máy cán nóng thép tấm Cái Lân Vinashin, được triển khai xây dựng tại Khu Công nghiệp Cái Lân, TP Cát Bà, trên diện tích 15 ha có tổng mức đầu tư khoảng 2.900 tỷ đồng với các thiết bị như: lò nung (công suất 8 tấn/giờ), máy cán, máy nắn, sàn nguội, máy cắt chiều dài (tùy theo yêu cầu của khách hàng) và hệ thống các xưởng bảo dưỡng, trục căn, tỳ. Để bảo đảo cung ứng nguồn điện năng, kèm theo nhà máy Thép này là nhà máy phát điện diesel công suất 39MW ký hợp đồng EPC (chìa khóa trao tay) trị giá 36 triệu USD (800 tỷ - bị nhà thầu Trung cộng lừa gạt). Toàn bộ dây chuyền thiết bị của Đức, nhập khẩu từ Trung cộng, trên cơ sở công nghệ Đức, khi đi vào hoạt động sẽ có công suất 1 triệu tấn thành phẩm/năm, sản xuất ra các tấm thép có độ dày từ 5mm đến 50mm, rộng từ 1, 6 m đến 3 m; dài từ 6m đến 18m đạt tiêu chuẩn đăng kiểm trong nước và quốc tế dành cho ngành đóng tàu như: DNV (Na Uy), Lloy'ds (Đức), NK (Nhật Bản), ABS (Mỹ), BV (Pháp) và VR (Việt Nam). Đây cũng là nhà máy cán nóng thép tấm lớn nhất Đông Á.
Ngày 2/6/2010, Nhà máy Cái Lân Vinashin đã ra lò sản phẩm thép tấm đóng tàu khổ rộng, đây là lần đầu tiên, Việt Nam sản xuất thành công sản phẩm chủ lực cho ngành đóng tàu. So với giá thép nhập khẩu thì giá sản phẩm thép đóng tàu trong nước sẽ rẻ hơn, như vậy có thể tiết kiệm được nhiều triệu USD mỗi năm (Nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam). 
Mẻ thép tấm (khổ lớn) đầu tiên nhưng cũng là... mẻ thép cuối cùng 
(Công nhân nhà máy vận hành thiết bị xử lý thép thành phẩm).
Tuy nhiên vận hành vừa nóng lò cán thép thì ngày 4.8.2010, “trái tim” nhà máy bị “sốc” nặng không do lỗi kỹ thuật mà do con người, khi cơ quan an ninh điều tra đã thực hiện quyết định khởi tố, tiến hành bắt tạm giam ông Phạm Thanh Bình, chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) vì tội tham ô và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
PTT/Nguyễn Sinh Hùng và Vũ Đức Đam (phía sau bên phải) 
Chỉ 10 ngày, sau cú “sốc” của Vianashin, ngày 14/08/2010 Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng (CT/Quốc Hội hiện nay) đến kiểm tra nhà máy Cán Thép Cái Lân. Cùng đi có cả ông Vũ Đức Đam, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh (Phó thủ tướng hiện nay). Ông Nguyễn Sinh Hùng và Vũ Đức Đam khẳng định Chính ohủ và đảng bộ TP Cát Bà Hạ Long tỉnh Quảng Ninh sẽ làm hết trách nhiệm, tạo điều kiện cho Nhà máy Cán Thép Cái Lân hoạt động.(*)
Dư luận, báo chí và cán bộ nhân viên nhà máy cán thép Cái Lân (tại thời điểm ấy) cứ nghĩ rằng trong cơ thể trẻ trung mới toanh trái tim nhà máy chỉ bị “sốc” phản vệ nhất thời thôi, nó sẽ đều nhịp đập trở lại sau khi “Bác Sĩ” Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng và “y sĩ” Vũ Đức Đam, Bí thư Tỉnh ủy đã khám bệnh biết rõ Nhà máy Cán Thép Cái Lân hoàn toàn khỏe mạnh. 
Nhưng không phải vậy. Nó tắt thở ngừng đập luôn, từ đó đến nay là 5 năm. 
5 năm. Đúng như vậy. Kể từ Quốc hội Việt Nam khóa XIII nhiệm kỳ 2011-2016 (được bầu vào ngày 22 tháng 5 năm 2011). Kỳ họp đầu tiên được tổ chức vào tháng 7 năm 2011, ông Nguyễn Sinh Hùng “lên chức” ngồi vào ghế mới CT/QH và Vũ Đức Đam “lên chức” Bộ trưởng Chủ nhiệm VP/Chính Phủ thì gần như Nhà máy Cán Thép Cái Lân cũng trôi vào cái chết “lâm sàng” nhưng không ai khai tử, dù nó không có bệnh tật gì cả và 493 đại biểu QH vừa bầu xong cũng không ai biết, ngay cả tại địa phương Quảng Ninh có 07 ĐB/QH trong đó PTT/Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh là một, cũng không thấy luôn, dù Nhà máy Cán Thép đồ sộ nằm liền kề TP/Biển Hạ Long (!?) - 5 năm với 10 kỳ họp Quốc Hội trôi qua không thấy Đại Biểu của dân nào chất vấn Chính Phủ hay cụ thể là ông CT/QH Nguyễn Sinh Hùng (người biết rõ) về khối tài sản mồ hôi nước mắt của dân đang từ từ rỉ sét này?.
Nhà máy có công suất 500 nghìn tấn/năm, 
bằng dây chuyền công nghệ của Đức, 
do các cán bộ, kỹ sư trong nước lắp đặt và vận hành.

Các chuyên gia đã hoàn thiện lắp đặt hơn 16 nghìn tấn thiết bị, 
đấu nối và chạy liên động toàn bộ dây chuyền công nghệ nhà máy.

Nhà máy đã chạy thử, cho ra mẻ thép tấm đầu tiên đạt tiêu chuẩn, 
sau đó bị bỏ hoang hàng trăm tấn sản phẩm đầu tiên 
sau khi ra lò vẫn nằm ngổn ngang hoen rỉ trong khuôn viên.

5 năm trùm mền với cây cỏ 

Hiện tại là một nhà máy bỏ hoang thiết bị phơi mưa nắng

Thiếu bảo trì- vào giai đoạn hoen rỉ
Không một bóng công nhân, cỏ lau vây kín cao gấp hai đầu người, hoang tàn, sắt thép hoen rỉ, cáu bẩn, nhà máy phát điện diesel tại KCN Cái Lân (TP. Hạ Long) hơn 35 triệu USD cũng cùng chung số phận sau hơn 5 năm bị bỏ mặc. Trong khu vực nhà máy rộng hàng chục hecta, không một máy móc, động cơ nào hoạt động và cũng chẳng có một bóng dáng công nhân. Toàn bộ giàn máy các loại trong một nhà xưởng rộng mênh mông bị phủ bụi và hoen rỉ, đó là cảm nhận của phóng viên báo chí vào tham quan.
Khái quát sự việc và ngắm nhìn những hình ảnh này, chúng ta, hàng chục triệu những người dân một nắng hai sương hàng ngày phải bớt đi hột cơm, con cá, để đóng thuế sẽ suy nghĩ sao đây? 
Dù “quả đấm thép” Vinashin có vỡ vụn như đất sét thì còn đó VNSTEEL (Công ty thép Miền Nam) công suất luyện thép 500.000 -700.000 tấn/năm gồm các loại Thép tròn, Thép vằn, Thép góc, Thép cuộn, Thép lá tấm nhỏ (VNSTEEL không có dây chuyền sản phẩm thép tấm dày 50mm, rộng 3 m; dài 6m đến 18m dành cho ngành đóng tàu biển như nhà máy Cái Lân).
Và hàng chục công ty nhà máy sản xuất thép quốc doanh và liên doanh, thì vì sao và lý do gì sau khi quả đấm thép Vinashin “tan chảy” Chính Phủ không quyết định giao ngay (hoặc buộc phải tiếp quản) nhà máy Cái Lân cho VNSTEEL (Công ty thép Miền Nam) tại thời điểm đó (2010-2011)? Hay giao cho bất kỳ nhà máy thép nào (đang hoạt động) mà lại để nó tàn tạ sau 5 năm nằm bất động như hiện nay?
Chúng ta, những người dân đóng thuế có quyền hỏi: Nếu là tài sản của cá nhân quí vị (các thành viên ĐB Quốc Hội) có ai can đảm duy trì hiện trạng này? Nhà máy cán thép: Trị giá 2.900 tỷ và nhà máy phát điện diesel công suất 39MW trị giá 36 triệu USD (800 tỷ) vị chi gần 4 ngàn tỷ, trong tổng nợ công, tiền lãi phải trả cho 4 ngàn tỷ này trong 5 năm hết là bao nhiêu? Chắc không hề ít, người ta không biết.
Nhưng ai cũng biết những người chịu trách nhiệm hay buộc phải có trách nhiệm với nó (Nhà máy cán thép Cái Lân) như sau đây, đang có tham vọng tại chức và leo lên cao hơn. Đó là bộ sậu hiện nay: Nguyễn Sinh Hùng (CT/QH) Vũ Đức Đam (P. Thủ Tướng) Phạm Bình Minh (P. thủ tướng-ĐB/QH tỉnh Quảng Ninh) và đích thân ông Thủ Tướng CP Nguyễn Tấn Dũng. 
Có điều cần suy nghĩ. Gần 500 Đại Biểu/Quốc Hội mà hàng ngày hạt cơm nhân dân vẫn dính kẻ răng, hàng tháng suốt 5 năm liền họ rất tỉnh táo không quên tháng nào để ngửa tay nhận (lương lậu, bổng lộc, quyền lợi) từ ngân sách (túi tiền của dân) chi trả, nhưng họ “ngủ quên” với một đống mồ hôi nước mắt nhân dân đang phơi mưa nắng và hình như đó cũng là lời đáp cho câu hỏi: Tại sao chúng ta vẫn cứ phải đóng thuế nhưng nợ hàng năm bình quân đầu người cứ tăng lên hơn thiên hạ (Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia). 
_________________________________________