7/12/15

BÀI THƠ TẶNG TUỔI TRẺ VIỆT KHANG



Hơn bốn năm trước, có những bài ca
Vang lên từ đáy vực của quê nhà
Trong vực đen tối tăm, đau khổ
Lời ca buồn khóc thân phận quê ta
Khúc nhạc Việt Khang lời ca tê tái
Hỏi bạo cường hãy nói : "Anh là Ai?"
Sao đánh dân bằng khổ nhục hình hài
Tội tình chi, ngoài xuống đường bầy tỏ
Khóc quê hương, Dân tộc đổ máu đào   
Đảng theo Tầu, tay  đỏ máu đồng bào?
Để ngàn năm lại mịt mù tăm tối
Bài ca, tiếp nối bài ca hỏi tội
"Việt Nam Tôi Đâu" giọng đã nghẹn ngào!
Việt Khang rõ những giầu nghèo cách biệt
Dân chiếu đất, kẻ quyền uy  cung điện
Đảng dối gian, bán nước chẳng chùn tay
Là dân Việt, người người đứng lên ngay
"Đáp Lời Sông Núi", nề chi cay đắng 
Chống xâm lược, chống đảng nhu nhược
Sau lời ca đầy cảm xúc nghẹn ngào
Lời ca Việt Khang khí thế dâng trào
Vang khắp cùng Thế giới, tới đồng bào
Đảng bán nước, cùm chân người yêu nước
Bốn năm trước, bao triệu người thổn thức
Nhìn Việt Khang hiên ngang bước vô tù
Bốn năm oan khiên, tù tội,  diệt trù
Nay luật rừng đã tới ngày mãn hạn
14 tháng Chạp, Việt Khang tung cánh nhạn
Với anh em cùng thế hệ sắt son
Tiếp tục góp phần tìm lại mùa Xuân
Mùa xuân Việt Nam đã mất bao lần
Phá mây mù Cộng bao trùm đất nước
Với anh em trẻ và thế hệ đi trước
Cùng một lòng quyết giải cứu quê hương
Ơi Việt Nam, Ơi Quốc Tổ mến thương!
Xin phù hộ quê hương đang nguy biến...
Thiên Kim

alt

14/12/2015, NHẠC SĨ VIỆT KHANG RA TÙ.
Bà con có lòng, xin ủng hộ. Quý vị thể liên lạc với mẹ anh Việt Khang.

Hoang van Nguyen's photo.
alt
Sau đây là một bài tiểu đệ viết ngày anh ra toà: ANH HÙNG VIỆT KHANG!
***
Anh Việt Khang mến,
Thuở còn đi học Anh văn, cô giáo tôi thường bắt thuyết trình các đề tài có tính triết lý. Đề tài mà tôi phải làm là “luận anh hùng”.
Thời nay ngưòi ta có vẻ lạm dụng chữ anh hùng này. Bơi lội giỏi cũng làm anh hùng, anh hùng thể thao. Cuốc đất giỏi cũng là anh hùng, anh hùng lao động. Cũng may là chúng ta chưa có anh hùng "hối lộ", nếu không thì các quan nhớn ở VN đã là anh hùng cả rồi.
Vào cái dạo đó, tôi nghĩ "anh hùng" là người làm được chuyện mà người bình thường không dám làm, vì một mục tiêu cao thượng. Ăn cướp, buôn may túy cũng làm làm chuyện người thường không dám làm, nhưng không cao thượng. Như vậy, anh hùng bao gồm hai đặc tính, cao thượng và can đảm. Hôm nay tôi lật tự điển ra xem, không ngờ họ cũng định nghĩa tương tự như vậy.
Có bao nhiêu nhạc sĩ đặt những bài ca cho dân tộc? Không nhiều. Phần lớn là nhũng bài khóc lóc thảm thiết vì tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Cũng đồng thời là cảm xúc, nhưng cái khắc khoải của anh dành cho cả dân tộc. Do đó, hành động của anh là cao thượng.
Trong số những nhạc sĩ đặt những bài nhạc cho dân tộc, có bao nhiều người sáng tác ngay trong lòng địch? Thưa, con số này chỉ đếm được trên đầu ngón tay. So với lão tiền bối Phạm Duy, xin về VN để xênh xang khoác lác, so với lão bà lão ông ca sĩ, xin về VN để kéo vài hơi nhựa cuối đời, thì nhạc phẩm và giọng ca của anh là niềm hãnh diện cho giới theo kiếp đàn ca. Sự can đảm của anh thật tuyệt vời.
Thế nhưng tinh thần đó mà không có tài nghệ này, đặt một bản nhạc mà người ta nghe rồi phải uống thuốc sổ, thì cũng không được. Có được một bản nhạc đi vào lòng hàng triệu triệu người như anh sáng tác thật là hơn hẳn sự bình thường.
Cái phi thường của anh đã được những tên thái thú tham nhũng đáp lại bằng cùm gông.
Phạm Duy, các lão ca nhạc sĩ VN về nước để được hưởng ánh đèn màu của sân khấu.
Còn anh, ngày mai ra tòa, anh sẽ đứng dưới ánh cực quang của hai vầng nhật nguyệt.
Phạm Duy chạy từ Bắc vào Nam, từ Nam sang Mỹ, rồi lại quay về khúm núm trước nhũng tên thái thú hèn hạ, đểu cáng. Thật là đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.
Còn anh, anh là một cánh hoa nở trong địa ngục.
Ngày mai (30/10/12) anh ra tòa, tôi không cầu chúc cho anh may mắn, bởi vì tôi nghĩ anh không cần cái gọi là sự khoan hồng đạo đức chó của VC. Điều anh cần là tự do, độc lập cho dân tộc.
Cho nên ngày mai anh ra tòa, trong lòng tôi và hàng triệu người khác sẽ đốt lên một ngọn lửa phản kháng. Ngọn lửa không cháy bằng xăng dầu, bằng hơi đốt, mà cháy bằng dòng máu anh hùng của Việt Khang.
Nguyễn văn Hoàng
hoang4eb <hoang4eb@gmail.com

Nhật ký biểu tình

Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - Tôi gọi đùa cuộc biểu tình ngày 5/11 vừa rồi là “trận chiến đường phố” đầu tiên của tôi sau 4 năm tù giam, 3 năm tù nhà. Đó cũng là lần đầu tiên tôi “tham chiến” ở đất Sài Gòn. Tôi chưa bao giờ đi xa, và đi lâu như thế, trừ đi tù.
Và tôi đi bí mật. Thế nên, cả “phe ta” lẫn “phe nó” đều ngạc nhiên khi thấy tôi - một cô gái Hải Phòng - xuất hiện trong đoàn người biểu tình tại Sài Gòn. Trời đất quỷ thần ơi! Không làm gì xấu, không làm gì khuất tất mà phải giấu giấu diếm diếm, sợ lộ. Để có cơ hội biểu thị lòng yêu nước, nhiều người phải bí mật “trốn” khỏi nhà một vài ngày hoặc nhiều hôm trước đó. Rồi ẩn náu ở một nơi khác, tiếng lóng gọi là “dạt vòm” để có mặt đúng thời gian và địa điểm đã được thông báo công khai từ trước. Chắc Việt Nam là một trong những đất nước ít ỏi còn sót lại trên thế giới mà người dân muốn bày tỏ lòng yêu nước phải vất vả, khổ sở và chịu đựng hiểm nguy như thế.
Tôi ngậm ngùi nhớ lại cuộc biểu tình lịch sử 8 năm về trước, ngày 9/12/2007 tại Hà Nội. Đó là cuộc biểu tình bày tỏ lòng yêu nước đúng nghĩa đầu tiên của người dân Việt Nam sau năm 1975. Trước đó mấy hôm, tôi nhận được email của người lính già Vũ Cao Quận vẻn vẹn mấy chữ: “Hẹn cháu và chú Nghĩa ở chân tượng đài lão I-Lích “thổ tả” lúc 9 giờ ngày 9/12 nhé”.
Cũng may, cả ba người Hải Phòng chúng tôi (bác Quận, chú Nghĩa và tôi) bằng cách riêng của mình cũng đã vượt thoát được hàng rào mật vụ án ngữ trước cổng nhà để có mặt trước Đại sứ quán Trung cộng, đối diện với tượng đài Lê-nin mà bác Quận gọi là “lão I-Lích thổ tả”, để biểu tình.
Tám năm về trước, chỉ mình tôi lạc lõng, lần mò lên Hà Nội rồi tìm cách nhập vào dòng người biểu tình. Lần này tôi có thêm những người bạn đồng hành. Họ là những cựu tù nhân lương tâm như Đỗ Thị Minh Hạnh, Trương Minh Đức, Huỳnh Anh Tú, Trần Ngọc Anh, các anh chị em khác như vợ chồng anh Đỗ Tửng, anh Trần Bang, Nguyễn Hoàng Vi, An Nam Dương Lâm và mấy em sinh viên. Cả thảy hơn mười người. 
Hơn mười người cũng “chiến”! Chúng tôi bảo nhau, và bắt đầu đi bộ dọc con phố gần công viên Lê Văn Tám với những biểu ngữ trên tay. Chị Trần Ngọc Anh, tôi và Đỗ Thị Minh Hạnh thay nhau cầm loa, bắt nhịp cho các anh chị em còn lại cùng hô theo: 
- Trường Sa- Hoàng Sa- Việt Nam!
- Đả đảo Trung cộng xâm lược! 
- Phản đối giết ngư dân Việt Nam! 
- Tập Cận Bình cút xéo khỏi Việt Nam!
Hơn mười người chúng tôi lẻ loi, đơn độc nhưng kiêu hãnh bước đi bên dòng người xe tấp nập, có phần vô cảm của người dân thành phố. Và giữa rất đông những bóng áo đảng của nào là công an sắc phục, mật vụ, dân phòng, thanh niên xung phong và… quần chúng tự phát. 
Chúng tôi vẫn cứ đi, và hô lớn:
- Sơn hà nguy biến, xin đừng vô cảm!
Hô xong câu ấy, tôi chực khóc. 
Đến những đoạn đường đông, tôi thấy một số người giơ cao chiếc điện thoại hướng về phía chúng tôi. Có người vẫn ngồi trên xe gắn máy nhưng giơ bàn tay lên vẫy, rồi hô theo. Có người khẽ gật đầu với ánh mắt ngậm ngùi, đồng cảm. Như được khích lệ, tôi dõng dạc hơn:
- Lịch sử ngàn năm cha ông ta đánh giặc ngoại xâm phương Bắc chưa bao giờ khuất phục. Bây giờ chúng ta phải đứng lên. Đả đảo Trung cộng xâm lược! Trường Sa- Hoàng Sa- Việt Nam!
Lúc này thì tôi khóc thật. Lần nào biểu tình tôi cũng khóc. 
Chúng tôi nhắm hướng có trụ sở lãnh sự quán Trung cộng mà đi. Công an, mật vụ vẫn dày đặc mọi ngả đường. Trông kìa, một đoàn người giơ cao biểu ngữ, hô vang khẩu hiệu đang tiến lại gần. Vỡ òa trong niềm vui khôn xiết, chúng tôi ôm chầm lấy nhau, toàn những anh em, đồng đội chỉ mới nghe tên qua mạng Internet, nhưng thân thiết lạ thường. Hai đoàn nhập một, chúng tôi tiến lên phía trước. 
Tiếng hô: “Hoàng Sa- Trường Sa- Việt Nam!", “Tập Cận Bình cút xéo khỏi Việt Nam!”,… lúc này đã lớn hơn, dõng dạc và có lửa hơn.
Và rồi những tiếng thét vang trời đồng loạt cất lên, ầm ầm và sôi sục. Đoàn biểu tình thứ ba kìa, đông gấp mấy lần hai đoàn chúng tôi gộp lại. Tôi cảm nhận rất rõ máu từ trái tim mình lan khắp cơ thể, nóng hổi và gấp gáp. Thật khó để diễn tả bằng lời niềm cảm động khi nhìn thấy nhau, nhận ra nhau và cùng hòa chung một tiếng gọi: tiếng gọi của lương tâm và trái tim, của niềm trắc ẩn và tình yêu với Non sông Tổ quốc. Thân thương lắm những gương mặt quen lẫn chưa quen. Những cái bắt tay, những cái ôm siết chặt. Những nụ cười và giọt nước mắt của giây phút hội ngộ đầy cảm động, thoáng chút xót xa. Không xót xa sao được khi cuộc hội ngộ này không dành cho niềm vui chiến thắng, hay hân hoan vui mừng. Sơn hà nguy biến kéo chúng tôi -những con người nhỏ bé đến gần với nhau, góp sức chung lòng mong đất nước hồi sinh.
Cùng lúc ấy tại Hà Nội, một cuộc biểu tình cũng đang diễn ra. 
“Trường Sa- Hoàng Sa- Việt Nam!”. Bất cứ ai trong số hơn 90 triệu người Việt Nam đều có thể thốt ra câu nói ấy, như một sự thật hiển nhiên. Nhưng mấy ai vì lòng tự tôn dân tộc để dám xuống đường rồi chịu bị đánh đập, bị bắt bớ, bị bầm dập và cầm tù để kiêu hãnh khẳng định chân lý ấy. Tiếng hô ở hai đầu đất nước, của những con người đơn độc, quả cảm nhất thời có thể chưa kéo được hàng ngàn người Việt khác xuống đường bày tỏ chính kiến. Nhưng chí ít, cũng là bước khởi đầu giúp cho không ít đồng bào thức tỉnh và bước qua sự sợ hãi. Và ngày mai, chính những con người còn thờ ơ ngày hôm nay sẽ đứng lên làm một cuộc đổi thay vận nước.
Khí thế ngút trời, chúng tôi đi. Và hát:
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn 
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang 
Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm 
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng… (Việt Nam quê hương ngạo nghễ - Nguyễn Đức Quang).
Đoàn biểu tình dừng lại trước cổng trường Đại học Kinh tế Quốc Dân. Hoàng Dũng và Đỗ Thị Minh Hạnh dùng tay bắc loa hô, giọng khàn đi: “Sinh viên ơi hãy thức tỉnh! Sinh viên ơi xin đừng vô cảm!”. Chúng tôi đồng loạt hô theo.
Đội quân “còn đảng còn mình” trà trộn trong đoàn người biểu tình. Chúng giật băng rôn, khẩu hiệu và xô đẩy chúng tôi, rồi chuồn đi rất nhanh, rất chuyên nghiệp.
Lúc này đoàn biểu tình đã tiến gần bờ hồ Con Rùa. “Sắp có đàn áp!” Tôi thì thầm với mấy người bên cạnh khi thấy “quân đỏ” đã di chuyển, tiến sát đoàn biểu tình. 
- Lãnh sự quán Trung cộng thẳng tiến!
Một người hô. 
- Đúng, cứ hướng Lãnh sự quán Trung cộng mà tiến.
Một số người đồng tình, đáp lại.
Đoàn biểu tình chỉ tiến được vài bước, phải dừng lại. Dày đặc những bóng áo xanh xếp thành hình vòng tròn dồn chúng tôi vào giữa. 
- Tọa kháng đi! Không cho đi thì mình tọa kháng! 
Chúng tôi đồng loạt ngồi xuống và tiếp tục hát bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”.
Phía quân đỏ bắc loa, yêu cầu người dân giải tán, và giở dọng tuyên truyền (láo):
- Bán anh em xa mua láng giềng gần.
Người người biểu tình đáp lại:
- Láng giềng khốn nạn, láng giềng xâm lược!
Chị Sương Quỳnh, hội viên Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng hét lớn:
- Yêu cầu mở đường cho chúng tôi đi.
Đoàn biểu tình vẫn tọa kháng. Hàng rào quân đỏ siết chặt hơn. Chúng bắt đầu xô đẩy khiến một số anh em ngã chồng lên nhau. Một vài biểu tình viên bị sái cổ chân. Tôi khó thở vì bị ép vào giữa đám đông. Nếu không có hai cú đấm trời giáng của một tên mật vụ nào đó vào giữa đỉnh đầu chắc tôi đã ngất xỉu. Vừa định thần lại, tôi thấy xung quang mình thưa người dần. Hết người này đến người khác bị chúng bắt, lôi xềnh xệch trên mặt đường rồi quẳng lên xe, chở đi. Vừa lôi, chúng vừa đánh, vừa cướp điện thoại. Cuộc bắt bớ, đàn áp, đánh đập diễn ra rất nhanh, rất gọn. Tôi đã chuẩn bị một cuộc bắt bớ dành cho mình. Tôi nói với anh Huỳnh Anh Tú:
- Cho em xin chai nước tí vào đồn em uống. Em không uống nước của tụi nó đâu.
Tôi vừa nói dứt câu thì nghe thấy những tiếng la thất thanh: “Máu, đổ máu rồi!”
Quay qua nhìn thấy anh Trần Bang với bộ mặt bê bết máu. Tôi lúng túng không biết làm gì. Định đưa tay lau máu cho anh thì “rầm” một cái, Nguyễn Hoàng Vi đổ xuống ngay dưới chân tôi. Cách đó vài bước, chị Trần Ngọc Anh cũng đang nằm bất tỉnh. Tôi vuốt ngực cho Hoàng Vi vì lúc ấy Vi khó thở, mặt tái mét. Số người chưa bị bắt tính trên đầu ngón tay, thay nhau chăm sóc cho Hoàng Vi và chị Ngọc Anh. Chúng tôi bất lực nhìn quân đỏ lôi anh Trần Bang đi, máu từ đầu, từ mặt anh nhỏ giọt xuống đường. Lúc ấy, vẫn nghe tiếng anh hét lớn: “Đây là vết máu của Tập Cận Bình, vết máu của Tập Cận Bình. Vì Tập Cận Bình mà tôi bị đánh”. Đến lượt Nguyễn Hoàng Vi bị chúng lôi đi nốt. Rồi cả Anh Huỳnh Anh Tú cũng bị kéo lê trên đường khi anh vừa sốc nách chị Trần Ngọc Anh đứng dậy. Chỉ còn mấy chị em chúng tôi là chưa bị bắt, dìu chị Ngọc Anh lên xe taxi đến bệnh viện. 
Cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn bị đàn áp nặng nề. Có hàng chục người bị bắt, bị đánh đập đến trọng thương. Hơn một ngày sau, số người bị bắt mới lần lượt được thả về.
Tôi sẽ không bao giờ quên những gương mặt của ngày 5/11/2015. Cũng như không bao giờ quên khí thế của cuộc biểu tình 8 năm về trước. Càng không quên những cuộc biểu tình không thành với vẻn vẹn mấy anh em, chú cháu chúng tôi của những năm 2008. Đấy là những Vi Đức Hồi, Nguyễn Thượng Long, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Phương Anh, Lê Thị Kim Thu, Phạm Văn Trội, Vũ Văn Hùng, Ngô Quỳnh, Nguyễn Tiến Nam… (*). Bây giờ nghĩ lại lòng mắt vẫn còn cay. Nhưng cũng tự an ủi rằng, chính những con người ít ỏi, lẻ loi của ngày hôm qua sẽ là những bắt đầu cho số đông với sức mạnh như vũ bão cho ngày mai. Ngày mai của Tự do, Dân chủ thực sự.
(*): Sau cuộc biểu tình ngày 9/12/2007, đã có một số cuộc biểu tình nổ ra. Có cuộc tập hợp được số đông, có cuộc không. Điển hình là thời gian đầu năm 2008, một số cuộc biểu tình đã không thể diễn ra vì sự đàn áp quá mạnh tay từ nhà cầm quyền. Những con người kể trên chính là những người đã nỗ lực để tham gia, tổ chức những cuộc biểu tình thời gian đó.
07/12/2015

Nỗi buồn văn nghệ

Hạt sương khuya (Danlambao) - Trong nhiều năm qua, tôi có dịp đi khắp đó đây, tham gia rất nhiều các chương trình văn nghệ đấu tranh. Từ biểu tình, đến hội thảo, lễ tưởng niệm 30 tháng 4, cũng như những buổi lễ tưởng niệm các vị anh hùng dân tộc. Thật lòng tôi rất đau buồn khi nhìn cảnh người ngày càng lưa thưa. Có những hội trường chỉ nhìn thấy ghế, không thấy người. Nguyên nhân của vấn đề cần có cái nhìn sáng suốt, bình tĩnh để tìm ra một giải pháp tốt đẹp.
Ở đây tôi không có ý “trách hờn” hoặc nhắm vào bất cứ cá nhân hay tổ chức nào, mà tôi cho rằng đây là trách nhiệm chung của mỗi người chúng ta. Sự việc này đã khiến tôi trăn trở và đắn đo rất nhiều trước khi nói đến, vì tôi hiểu hơn ai hết những vấn nạn trong “cộng đồng”, mà trong đó là cả một chính sách thâm độc ở đằng sau của ngụy quyền cộng sản luôn manh nha thâu tóm cho bằng được mọi quyền lực nằm hết trong tay chúng. Xin đừng vội cho rằng tôi coi thường trí tuệ của cộng đồng. “Cẩn tắt vô ưu”. Nếu chúng ta không đủ sáng suốt, bình tĩnh... thì chính sách văn hóa vận của chúng sẽ tràn ngập một cách tinh vi, qua những chương trình văn nghệ “hấp dẫn” với những giải thưởng giọng ca vàng, xanh, đỏ, tím... khi kịp nhận ra thì hỡi ôi, rách thêm một đống việc. Chưa kể những chương trình từ thiện mang tính cách “danh chính, ngôn thuận”, đến lúc ấy chúng ta sẽ mất đi cái chính nghĩa khi phản đối việc làm rất “ cao cả” ấy. Đó là chưa kể đến biết bao hệ lụy... phân hóa hay bất hòa cũng từ đó mà ra. 
Cách đây hơn 30 năm... lúc ấy tôi còn trẻ, còn nhiệt huyết, còn sức khỏe, có cơ hội đi đây đó để tham dự những buổi “Đại nhạc hội” được tổ chức trong những ngày tết hoặc vào những ngày tháng “Tư Đen”. Tôi còn nhớ giai đoạn đó, tâm trạng những người lưu vong rất khao khát khi có dịp ngồi lại với nhau để hàn huyên, để nhắc lại câu chuyện thuyền nhân hay những tháng ngày ngồi nhớ nhà bên bờ biển Palawan, Pulau Bidong, Singapore... hôm nào.
Khoảng đầu thập niên 80, tinh thần đấu tranh của đồng bào hải ngoại lên rất cao. Vào thời điểm ấy, các phong trào Đông tiến đang làm nức lòng những người con xa xứ, sống ly hương nhưng lòng vẫn muốn quay về Đất Tổ. Những Ca khúc lưu vong, Ca khúc đấu tranh đã khơi lại vết thương lòng của những người bỏ nước ra đi. Tôi nhớ hoài hình ảnh chị Nguyệt Ánh và anh Việt Dzũng trong bộ đồ bà ba đen. Từ “Phục Quốc Quân”, đến “Dưới Ngọn Cờ Phục Quốc”, hay “Tiếng Hát Em Thơ” cho đến “Tôi Muốn Về Diệt Cộng” v.v... Tất cả những ca từ ấy đã theo tôi suốt chặng đường lưu vong, hun đúc trong tôi một tinh thần bất khuất, quyết không khoan nhượng, không làm ngơ trước cảnh non sông đang chìm dần trong nỗi đau trầm uất. Để từ đó tôi biết chọn cho mình một hướng đi vững chắc, lấy Tổ Quốc-Danh Dự- Trách Nhiệm làm kim chỉ nam soi đường, dù gian nan, dù nhục nhằn, trong tôi luôn có Hồn Thiêng Sông Núi đi cùng. 
Những năm tháng ấy, văn nghệ có thể nói là một món ăn tinh thần hiếm quý. Do hoàn cảnh sống của người Việt tị nạn lúc bấy giờ, phần vì lo miếng cơm manh áo, lo sống hội nhập với người dân bản xứ, ít khi có dịp rảnh rỗi để có thể tổ chức văn nghệ thường xuyên như bây giờ. Vì thế mỗi khi có chương trình “Đại nhạc hội”, mọi người khắp nơi đổ về, con số đôi khi lên cả mấy ngàn. Mặc dù lúc ấy chỉ có những bài hát đấu tranh hay những ca khúc lưu vong làm tim thổn thức, nhưng tình đồng hương, nghĩa đồng bào thật ấm áp bên những ca khúc đầy “máu lệ”.
Sau 30 năm... những ca khúc ấy giờ chỉ còn là một dấu ấn xa mờ. Rồi những ca khúc mới ra đời, nổi trôi theo cùng vận nước. Sài Gòn không còn “một lần đi là một lần vĩnh biệt”, cuộc sống không còn là những khát vọng của một lần quay về. Rồi chính sách mở cửa để cứu nền kinh tế đang sắp đưa “cả nước xuống hố” ra đời, những “đĩ điếm” ngày nào bỗng chốc trở thành những “khúc ruột ngàn dặm”. “Thành phố Hồ Chí Minh” mở cửa “hân hoan” chào đón những bước chân lưu vong hôm nào, thèm khát quay về dù đôi chân tị nạn vẫn còn in hằn những vệt máu khô, liêu xiêu bước trên nấm mồ quá khứ, phản bội lại chính mình để rồi sống hồn nhiên như chưa từng có một lần thề thốt trên ngôn từ của hai chữ Tự Do.
Nghị quyết 36 cứ thế mà thẳng tiến, lằn ranh Quốc-Cộng chỉ còn là dấu chấm hỏi một khi hai chữ “Việt kiều” được gắn huy chương “ áo gấm về làng” sáng chói như một đại gia của thời “mở cửa”. Thương cho “Một Lần Đi”, đau cho “Ngày Quật Khởi”, khóc cho lời thề dưới “Lá Cờ Thiêng”. Tất cả giờ chỉ còn là những tiếng than vô vọng. Tìm lại dấu vết xưa, chợt nghe hồn thổn thức những cảm xúc của một thời tị nạn, ăn gạo chợ người nghe thèm bát cơm quê Mẹ, dù chỉ là một con khô của những ngày “con nước kém”, nhưng sao đậm đà mùi biển mặn quê hương.
Chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ tại Đông Âu, nước Đức thống nhất. Nghĩa đồng bào lại một lần nữa được người Việt tị nạn Cộng sản giang đôi tay cứu giúp. Biết bao vấn nạn như cơn thác lũ tràn về cuốn trôi “niềm tin và hy vọng”. Cũng giọng nói Việt Nam, cũng máu đỏ da vàng, nhưng sao xa lạ quá. Rồi tất cả đổi thay, chẳng ai buồn khóc cho một lần đi là một lần vĩnh biệt. Sài Gòn-Paris, Sài Gòn-Luân Đôn, Sài Gòn-Frankfurt, Sài Gòn-Cali, hay Sài Gòn-Sydney, chỉ cần tung “cánh chim” là tìm về “tổ ấm”. Khát khao đã chết, niềm tin vỡ vụn, hạnh phúc xói mòn.
“Đại nhạc hội” không còn nghe tiếng khóc của “Một Lần Đi”. “Một Chút Quà Cho Quê Hương” không còn là cái kim, sợi chỉ. Người ta bắt đầu thổn thức với “Quê Hương là chùm khế ngọt”, ôi những trái khế không chỉ trả bằng vàng mà phải trả bằng máu và nước mắt của những thân phận khốn cùng sống vất vưởng trên một quê hương đầy những hận thù và dối trá.
Có sống qua những tháng ngày đau thương ấy, mới cảm nhận được những mất mát hôm nay. Có lẽ chỉ có thế hệ của tôi trở về trước, mới thấm thía sự xâm thực về mặt văn hóa nói chung, âm nhạc nói riêng một cách tinh vi từ nhà cầm quyền Việt cộng qua chính sách “Hòa hợp, hòa giải” mà đành bất lực, bởi “há miệng” sẽ bị đập ngay cho một gáo nước lạnh về tội “chia rẽ tình đoàn kết dân tộc”. Ngẫm lại mà rơi nước mắt, cộng đồng hải ngoại bốn mươi năm đấu tranh là vì sao? Bốn mươi năm với những kiến thức “hội nhập” đủ để người Việt hải ngoại hiểu được những gì họ đang làm là đang lội ngược dòng với cuộc sống “hưởng thụ” cho chính bản thân mình. “Tiên trách kỷ, hậu tránh nhân”... nhìn lại những buổi văn nghệ hay đại nhạc hội được tổ chức trong những năm gần đây, tôi tự hỏi: Có phải chính chúng ta đã quá thờ ơ, quá dễ dãi với bản thân, hay vì chúng ta thiếu trách nhiệm? Tôi đã phải kêu trời không thấu khi nhận lãnh “điều hợp” một chương trình với những chủ đề rất lớn, nhưng nội dung thì hỡi ơi... TÔI MUỐN KHÓC. Xin hãy tha lỗi cho tôi, ở đây tôi không vơ đũa cả nắm và cũng không có ý chỉ trích bất cứ hội đoàn hay một cá nhân nào, mà chính tôi cũng đang chửi rủa bản thân “nhu nhược” của mình trong cách hành xử, khi buông xuôi và chấp nhận như một điều tất yếu. 
Chúng ta không thể hát cho Tù Nhân Lương Tâm, những người Dân Oan, những buổi tưởng niệm hay những chủ đề về “Tuổi trẻ và cội nguồn dân tộc” bằng những ca khúc “Đừng xa em đêm nay, Lại gần hôn em v.v...”, rồi sau đó dập dìu trong những điệu nhảy “bốc lửa”. Thú thật là tôi rất đau lòng dù đã được nghe giải thích từ ban tổ chức rằng: “Phải có nhảy đầm thì mới có khách tham dự”. Tôi không phủ nhận cái nỗi khổ tâm của ban tổ chức, nhưng cách làm việc đó sẽ để lại cái hậu quả là... chính chúng ta đang nuôi dưỡng một thói quen làm mất đi giá trị không chỉ về mặt “đấu tranh tâm lý” mà cả về hình thức “Văn hóa, Nghệ Thuật” cũng bị xói mòn bởi cái lợi trước mắt mà cái di hại về lâu dài nó ngấm ngầm một cách tinh vi không thể cảm nhận được. 
Ngày nay, văn nghệ không còn là một nhu cầu để nuôi dưỡng “tinh thần” cho những người Việt lưu vong, nó đơn thuần như một thói quen “tâm lý” vô thưởng vô phạt, nhưng vô hình chung lại là cửa ngõ để chính sách “văn hóa vận” của nhà cầm quyền xâm nhập một cách vô thức. Nhìn trên khía cạnh nghệ thuật, “đa số” cho rằng nghệ thuật phi chính trị. Điều này với tôi chỉ đúng ở những tâm hồn yêu chuộng và hiểu giá trị đích thực của nghệ thuật. Một khi rơi vào bàn tay của kẻ tham vọng, thì nghệ thuật sẽ được khai thác tối đa cho mục tiêu tối thượng. Có lẽ đã đến lúc “chúng ta” cần quan tâm hơn trên lĩnh vực “Âm Nhạc”, vì đó chính là vũ khí một khi bắn đi sức mạnh sẽ hơn ngàn quả đạn bom, những câu nệ hình thức, những hơn thua tranh chấp chỉ làm cho cuộc đấu tranh trở nên mất chính nghĩa và phải đắc tội muôn đời với Tiền nhân. Xin hãy vì cái chung, dẹp bỏ đi cái tôi nhỏ nhoi riêng lẻ ấy, để thấy sức mạnh “hợp quần” sẽ là thành trì vững chắc, không có một thế lực nào có thể xâm nhập và phá hoại. 
Tôi đang cố gắng để thoát ra khỏi cái vòng “lẩn quẩn”ấy. Dù biết rằng gian nan, và sẽ rất cô độc trên con đường vắng bóng “tha nhân” này. Sau lưng có thể là những giọng cười “mai mỉa”, nhưng tôi chấp nhận làm một kẻ quê mùa đi tìm lại quá khứ bị ruồng bỏ bởi thời gian. Tôi níu kéo, tôi vụng dại vì tôi sợ sẽ đánh mất cái còn lại của riêng mình. Bởi tôi biết, nơi này chỉ là đất tạm dung, tôi được đón nhận bởi sự bao dung của những tấm lòng nhân ái, nhưng tôi biết tôi là ai, tôi từ đâu đến. 
Bốn mươi năm nhìn lại chỉ để ngậm ngùi thêm cho những kiếp người hoài đời đi tìm một lẽ sống mới cho dân tộc. Những nhiệt huyết hôm nào; giờ chỉ còn là những tháng ngày nhìn qua song cửa chờ hoàng hôn tắt lịm. Nỗi đau của một thân phận thì có sá gì, nỗi đau của một dân tộc mới là điều đáng nói. Hãy ngủ yên đi những cội mai già chết trong một chiều đông giá, những nấm xương tàn chôn vùi nơi xứ lạ rồi đây cũng sẽ biết tìm đường để về lại chốn xưa, hãy thanh thản như một cuộc rong chơi của kiếp người, bởi hạnh phúc cây đời đâu phải để dành riêng cho những trái tim suốt phận người chỉ biết cặm cụi cho lẽ sống của một dân tộc triền miên trong thù hận. 
Paris 25-11-2015
PS: Kính nhờ trang nhà Dân Làm Báo giúp Hạt sương khuya phổ biến chương trình “Khúc Tù Ca- Hát Cho Việt Khang” do tôi cùng nhóm anh em Vọng Trùng Dương tổ chức. Xin hãy đến để chia sẻ với một người con đất Việt, người đã khiến chúng ta thức tỉnh trước sự mất còn của dân tộc. Đến để nghe Kiều Thu trải lòng mình trong ca khúc “Viễn Khúc Việt Nam”. Đến để nghe Thanh Xuân ray rức với “Những đứa con của Mẹ” và cho tôi được chia sẻ với những người con của Mẹ Việt Nam trong những Khúc Tù Ca đầy máu lệ. Xin chân thành cảm ơn trang nhà Dân Làm Báo đã giúp tôi chia sẻ những cảm nghĩ của mình đến với Đồng Bào khắp nơi trên thế giới. Xin hãy giúp tôi hoàn thiện bản thân mình để sống xứng đáng làm người Việt Nam bất diệt.

Kỷ niệm 67 năm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền

CTV Danlambao - Ngày 6/12/2015 tại Chùa Liên Trì (Sài Gòn) đã diễn ra buổi Lễ kỷ niệm 67 năm ngày Quốc tế Nhân Quyền (10/12/1948- 10/12/2015). 
Tham dự dự buổi lễ Kỷ niệm có đại diện của một số hội/nhóm Xã hội Dân sự Độc lập như Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Hội Nhà Báo Độc Lập, Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng, Hội Thánh Tin Lành Menonite, một số nhà hoạt động Nhân quyền và bà con dân oan...
Trước giờ khai mạc, Thượng tọa Thích Không Tánh (Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất) -khôi nguyên của giải Nhân quyền 2015, đã trao toàn bộ số tiền thưởng mà ngài được nhận cho bác sĩ Nguyễn Đan Quế - Chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam. 
Thượng tọa Thích Không Tánh trao toàn bộ số tiền thưởng mà ngài được nhận cho bác sĩ Nguyễn Đan Quế
Được biết, toàn bộ số tiền thưởng này sẽ được tặng lại cho Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam, Hội Đồng Liên Tôn và phục vụ chương trình giúp đỡ cho các Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.
Những người có mặt đã dành một phút mặc niệm, tưởng nhớ đến những người đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam. Đồng thời cùng cầu bình an đến tất cả những tù nhân chính trị, lương tâm và tôn giáo đang bị cầm tù và cho tất cả những người đã dấn thân trong công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam bị đàn áp và bách hại.
Trước khi phát biểu, bác sĩ Nguyễn Đan Quế cảm ơn về món quà mà Thượng tọa Thích Không Tánh đã trao tặng.
Bác sỹ Nguyễn Đan Quế cho rằng: “Nếu nhà cầm quyền muốn phát triển đất nước thì hãy trả quyền tự do dân chủ cho người dân.” Và rằng chính quyền cộng sản VN phải tôn trọng các công ước về nhân quyền vì VN là thành viên của HĐNQ LHQ. Ông cũng kêu gọi nhà cầm quyền CSVN phải bỏ điều 4 Hiến pháp, trả tự do vô điều kiện cho các tù nhân lương vì họ là “những người yêu nước”.
Bác sĩ Nguyễn Đan Quế nhấn mạnh: “chính nghĩa luôn nằm trong tay của dân tộc này ”.
Thượng Tọa Thích Không Tánh bày tỏ niềm vui mừng khi chùa Liên Trì được chọn làm nơi tổ chức sự kiện ý nghĩa này. Thượng Tọa Thích Không Tánh nói: “Để đạt được kết quả và ý nghĩa tốt đẹp cho buổi họp mặt ngày hôm nay, Tôi đề nghị với tất cả đại diện, sau kết thúc buổi họp chúng ta cần có một bản Tuyên bố và đồng ký tên để gửi đến Liên Hiệp Quốc với nội dung nêu rõ, sự đàn áp nhân quyền vẫn còn đang tồn tại trên đất Việt Nam và khẳng định chủ quyền biển đảo và lên án Trung Cộng đánh đập, giết hại ngư dân VN”.

Thượng Tọa Thích Không Tánh
Ông Phạm Bá Hải đại diện Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm (CTNLT) báo cáo hoạt động của Hội TNLT trong năm vừa qua, ông nói:
“Thành viên của Hội đến nay đã có hơn 130 hội viên. Các hoạt động vừa qua là đã thăm viếng và tặng quà đến với những đấu tranh đã bị đàn áp và bách hại đồng thời đến với những TNLT vừa ra tù”.
Đại diện Mạng lưới Blogger Việt Nam - Huỳnh Anh Tú cho rằng cần dành sự quan tâm nhiều hơn đối với những cựu tù nhân chính trị đã hoạt động trước đây (những người đấu tranh có tính chất bạo động).
Ông bày tỏ: “Biết rằng xu hướng ngày nay không cổ súy cho việc đấu tranh bạo động vì bất cứ lý do nào. Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử nên họ buộc phải đấu tranh theo phương pháp bạo động. Không vì thế mà hôm nay chúng ta “quên lãng” họ. Xét về lý và về thực tế, họ chính là thành phần đóng góp không nhỏ để thúc đẩy công cuộc đấu tranh tự do dân chủ của đất nước Việt Nam”.
Ông cho biết thêm: “Việc thăm viếng đối với những người đấu tranh đã bị đàn áp và bách hại và TNLT là đều cần thiết. Tuy nhiên chúng ta cần vận động và tham gia nhiều hơn nữa những chiến dịch hay phong trào đường phố”.

Anh Huỳnh Anh Tú
Đại diện Mạng lưới Blogger cho rằng việc ra các bản tuyên bố, bản lên tiếng trước những sự kiện tác động đến đất nước là cần thiết. Nhưng việc đó mới chỉ dừng lại ở việc bày tỏ lập trường, quan điểm chung. Cần có những hoạt động thực tế để thúc đẩy phong trào đấu tranh đạt những bước tiến mới. Và chỉ có những chiến dịch, những phong trào cụ thể mới vận động, thu hút được nhiều người dân trong nước cùng tham gia. Qua đó họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước mà vượt qua nỗi sợ hãi để cùng nhau đấu tranh vì một Việt Nam tự do dân chủ và nhân quyền.
Sau cùng là những lời tâm tình và bày tỏ bức xúc của các cô Dân oan vì đã chịu cảnh mất đất, mất nhà, mất tài sản do nhà cầm quyền CS gây nên.
Sau buổi họp mặt Thượng Tọa Thích Không Tánh mời tất cả quý đại biểu ở lại dùng buổi cơm thân mật.
07/12/2015

6/12/15

Văn học miền Nam - 'vườn hoa đua nở'

  • 1 tháng 11 2015
Tiến sỹ Nguyễn Hưng Quốc cho rằng văn học miền Nam Việt Nam (1954-1975) mới thực sự là 'trăm hoa đua nở' trong một vườn hoa của văn chương đích thực.
Nếu ví văn học với một vườn hoa, thì chính văn học ở miền Nam Việt Nam trước 30/4/1975, mà không phải văn học miền Bắc ở cùng thời, mới "thực sự là trăm hoa đua nở", theo nhận định của một nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam từ Úc.
Trao đổi với BBC cuối tuần này từ Melbourne, Tiến sỹ Nguyễn Hưng Quốc, nhà nghiên cứu Việt học và Văn hóa học từ Đại học Victoria, Úc chia sẻ những đánh giá, bình luận của ông về dòng văn học ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975.
Trước hết, ông trả lời câu hỏi liệu sau một thời kỳ dài mà dòng văn học này có vẻ ít được nhắc tới trong giới nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học trong nước, thì thế hệ trẻ của Việt Nam có bị 'thiệt thòi' hay không trước điều được cho là ‘khoảng trống’ này?
Nguyễn Hưng Quốc: Thật ra, ở Việt Nam, trong một thời gian khá dài, từ nửa sau thập niên 1970 đến hết thập niên 1980, văn học miền Nam được nhắc nhở rất nhiều.
Có cả hàng trăm bài báo và hàng chục cuốn sách nói về văn học miền Nam.
Tất cả các bài báo và các cuốn sách ấy đều có một mục tiêu giống nhau: bôi nhọ và xuyên tạc văn học miền Nam là một nền văn học phản động và suy đồi, không những phản lại dân tộc mà còn phản lại những giá trị cao cả của loài người.
Gần đây, ngôn ngữ của chính quyền đối với nền văn học ấy tương đối nhẹ nhàng hơn: Thay vì gọi là “văn học Mỹ nguỵ” hay “văn học thực dân mới”, người ta gọi là “văn học vùng tạm chiếm”, hoặc nhẹ nhàng hơn nữa, “văn học đô thị miền Nam”.
Đã có một vài luận văn viết về văn học miền Nam một cách tương đối khách quan.
Tuy nhiên, số lượng vẫn vô cùng ít ỏi. Bởi vậy, với các thế hệ trẻ, văn học miền Nam không những là một “khoảng trống” mà còn là một bức tranh vô cùng lệch lạc: Nó vừa phản dân tộc lại vừa phản nghệ thuật.

Tiếp cận thế nào?

 
Nhà văn Võ Phiến, một trong các cây bút nổi tiếng nhất của văn học miền Nam trước 30/4/75 mới qua đời hôm 28/9/2015 tại Hoa Kỳ.
BBC: Riêng đối với giới nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học ở Việt Nam hiện nay, nếu có điều kiện tiếp cận giai đoạn và dòng văn học này, theo ông họ nên quan tâm và chú ‎ý tới khía cạnh nào và tại sao?
Nguyễn Hưng Quốc: Đối với mọi nền văn học, yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất mà giới phê bình và nghiên cứu cần tiếp cận là tác phẩm.
Với tác phẩm, điều người ta cần làm nhất là nhìn chúng như những công trình nghệ thuật, ở đó, cái đẹp của ngôn ngữ cũng như chiều sâu của tư tưởng là những yếu tố chủ đạo.

Nói cách khác, người ta phải quên đi những cách nhìn nặng màu sắc chính trị, nhất là thứ chính trị chỉ thiên về phủ nhận với lý do chúng thuộc về phía thù địch.
BBC: Có gì mà giới nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học ở trong nước hiện nay có thể tận dụng, phối hợp hay hợp tác được với các nhà nghiên cứu ở hải ngoại mà có thể là đã có những bước đi từ trước?
Nguyễn Hưng Quốc: Trong nghiên cứu, sự hợp tác bao giờ cũng cần thiết. Ở phương diện này, giới cầm bút ở hải ngoại có thể có hai đóng góp lớn:
Thứ nhất, một số khá đông họ là những người từng tham gia vào sinh hoạt văn học miền Nam trước năm 1975, do đó, họ có những hiểu biết mà những người ngoại cuộc không có.
Thứ hai, ít bị ảnh hưởng bởi hệ thống tuyên truyền, họ dễ có những cái nhìn tương đối khách quan hơn.
Tiêu biểu cho cả hai mặt mạnh ấy là bộ Văn học miền Nam gồm 7 cuốn, được xuất bản tại Mỹ, của nhà văn Võ Phiến.
Cho đến nay, đó là công trình phê bình duy nhất có hệ thống về văn học miền Nam. Dù dĩ nhiên bộ sách vẫn có những bất cập hay sai lầm nhất định, nhưng để nghiên cứu về văn học miền Nam, người ta không thể không bắt đầu từ đó.

Chỗ đứng xứng đáng?

Văn học miền Nam thời kỳ 1954-75 'hơn hẳn' văn học miền Bắc cùng thời ở nhiều điểm, trong đó có nghệ thuật và tầm tư tưởng, theo tác giả.
BBC: Cuối cùng, nếu trong tương lai, văn học Miền Nam giai đoạn trước 30/4/1975 sẽ có thể được phép cho nghiên cứu, trao đổi, giảng dạy trở lại, thì đâu sẽ có thể là chỗ đứng xứng đáng của nó trong nền văn học nước nhà của Việt Nam từ xưa tới nay?
Nguyễn Hưng Quốc: Để thấy chỗ đứng của văn học miền Nam thời kỳ 1954-75, người ta cần phải, thứ nhất, nhìn nó trong cả tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại; và thứ hai, so sánh với văn học miền Bắc trong cùng thời kỳ.
Nói cách khác, người ta phải có cái nhìn theo cả chiều lịch đại lẫn chiều đồng đại. Ở chiều lịch đại, nghĩa là nhìn theo lịch sử, văn học miền Nam là một sự tiếp nối của những nỗ lực tìm tòi và sáng tạo được khởi đầu từ đầu thập niên 1930 với phong trào Thơ Mới và tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, ở đó, cái tôi cá nhân được coi trọng và được xem là tiêu điểm để khám phá.
Nếu văn học thời 1930-45 nhắm đến việc khám phá cái tôi cảm xúc; văn học miền Nam thời 1945-75 khám phá những cái tôi ý thức.
Trong chiều hướng này, văn học gọi là hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một sự thoái bộ: nó quay lại với tính chất phi ngã của văn học Trung đại. Khi quay về với tính chất phi ngã, bản sắc cá nhân của những người cầm bút bị nhạt đi: Hầu hết các tác phẩm đều hao hao giống nhau, theo một khuôn mẫu mà giới lãnh đạo muốn áp đặt.
Ở chiều đồng đại, so với văn học miền Bắc cùng thời kỳ, văn học miền Nam thời 1954-75 hơn hẳn ít nhất ở hai điểm:
Thứ nhất, trong khi văn học miền Bắc bị bó cứng trong phương pháp sáng tác được gọi là hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học miền Nam, một mặt, nhờ có tự do và, mặt khác, nhờ tiếp xúc với nền văn học Tây phương, mới hơn, có nhiều thử nghiệm về kỹ thuật và bút pháp hơn. Một nhà thơ như Thanh Tâm Tuyền hay một nhà văn như Phạm Công Thiện, chẳng hạn, không thể tìm thấy ở miền Bắc.
Thứ hai, trong khi văn học miền Bắc chỉ loay hoay với hai đề tài chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội, văn học miền Nam đa dạng và phong phú hơn hẳn không những về đề tài mà còn trong cả kỹ thuật và tư tưởng.
Nếu ví văn học với một vườn hoa, chính văn học ở miền Nam chứ không phải văn học miền Bắc, mới thực sự là trăm hoa đua nở.
Tiến sỹ Nguyễn Hưng Quốc là nhà nghiên cứu cao cấp về Việt ngữ và Việt học tại Khoa Nghệ thuật, Đại học Victoria, Melbourne, Úc, nơi ông giảng dạy về ngôn ngữ, văn học và văn hóa Việt Nam. Ông cũng là đồng chủ biên trang Tiền Vệ, một tạp chí văn nghệ Việt ngữ có tiếng trên mạng Internet.

Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese
 

40 năm sau - Lật lại hồ sơ 16 tấn vàng


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hà Việt Tĩnh (Danlambao) - Câu chuyện 16 tấn vàng đã là một đề tài úp mở trong dư luận suốt gần bốn thập niên kể từ biến cố 30-4-1975, sau khi miền Nam VN rơi vào ách thống trị của chế độ CS Bắc Việt. Người hiểu biết sự việc thì ít, phần đông người dân cả hai miền Nam-Bắc chỉ biết mù mờ qua những tuyên bố của các giới chức đảng cộng sản, cho rằng Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã chở theo 16 tấn vàng trong ngân khố VNCH khi cùng gia đình đi ra khỏi nước ít ngày trước cuối tháng 4/75.
Đa số người dân miền Nam tỏ ra thờ ơ với 16 tấn vàng, bởi tài sản của người dân miền Nam bị tiêu tán, cướp đạt còn gấp mấy ngàn lần số vàng “vô thừa nhận” ấy. Hơn nữa người dân miền Nam vốn từng sống dưới một chế độ thẳng thắn, lành mạnh, trong đó có những người lãnh đạo của họ, và họ cũng đã có quá nhiều kinh nghiệm về sự tráo trở, vu chụp, đổi trắng thay đen của người Cộng sản nên hầu như không có ai tin là TT Nguyễn Văn Thiệu đã chở theo 16 tấn vàng để làm của riêng. Ngược lại, người dân sống dưới chế độ CS miền Bắc, họ từng quen với chính sách tuyên truyền, cai trị bằng các biện pháp bưng bít, lừa bịp, vu chụp hàng chục năm rồi, nên họ tin theo đảng, khi miền Nam bị đánh ngã, đảng đem lại chiến thắng. Lâu dần, qua thời gian và thực tế đời sống kinh tế và nề nếp xã hội miền Nam, họ bắt đầu “phản tỉnh” nhìn ra thật giả, đúng sai, để thấy sự dối trá, bịp bợm của đảng, họ bắt đầu mất hết niềm tin...
Tuy nhiên, không phải là hầu hết, là toàn thể mà vẫn còn những thành phần hoặc do trình độ nhận thức thấp kém, hoặc do còn tuyệt đối tin tưởng vào đảng (đảng luôn luôn nói đúng, làm đúng); hoặc cố tình phớt lờ sự thật để hưởng ơn mưa mốc, lợi lộc nên cứ làm cái loa phao tin nhảm “Thằng Thiệu theo mang 16 tấn vàng ra nước ngoài”.
Trong một lần thăm quê, người viết được nghe một cán bộ cấp làng xã nói: - “Ông thấy không, thằng Thiệu mang 16 tấn vàng đi theo...”. Liền khi đó có mấy thanh niên trẻ lên tiếng: - “Không, không phải vậy. Ông nói sai rồi...”
Đã có người nói thay, tôi im lặng không lên tiếng. Mà có nói với những người không chịu nghe và tin sự thật thì nói mấy cũng vô ích.
40 năm qua rồi, thời gian chưa đủ chín muồi để 16 tấn vàng thông suốt thực hư trong dư luận. Có lẽ vì vậy mà báo Tuổi Trẻ số ra ngày 10/4/2015, trong bài viết “Thương Vụ Đặc Biệt: Bán Vàng!” đã thừa nhận 16 tấn vàng của VNCH đã được CSVN mang nộp cho Liên Xô năm 1979. 
Hơn ai hết, giới chóp bu cộng sản biết rõ sự thật về 16 tấn vàng của VNCH, nhưng vẫn cố tình bịa đặt, bởi một hệ thống tuyên truyền dối trá nhằm vu cáo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Ngay cả tướng Văn Tiến Dũng dù biết rõ 16 tấn vàng của VNCH đã được đảng cộng sản Việt Nam chở về Hà Nội, nhưng trong sách ‘Đại thắng mùa xuân’, xuất bản năm 1976, Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng quân đội cộng sản Bắc Việt lúc ấy vẫn lập lại lời vu cáo: “Cho đến ngày 26 tháng 4, khi Thiệu và gia đình hắn đem 16 tấn vàng bạc, đô la, của cải vội vã chạy sang Đài Loan...”.
Tại Hoa Kỳ, TT Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần lên tiếng thanh minh, xác nhận với đồng bào hải ngoại rằng ông không hề mang theo 16 tấn vàng, tài sản của quốc gia. Có lần người viết được nghe cố TT Thiệu nói với đài BBC rằng 16 tấn vàng chứ không phải là 16 chỉ vàng, nếu ông mang theo thì hải quan Đài Loan và hải quan nước Anh phải biết và lập biên bản.
TT Nguyễn Văn Thiệu đã phải chịu sự vu oan này suốt quãng đời lưu vong cho đến ngày nhắm mắt.
Người viết cũng đọc được bài Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng của cựu đại tá Quân đội miền Bắc, ông Bùi Tín như sau:
“Trưa 30-4-1975, trong phòng lớn của Dinh Độc lập, sau khi tôi gặp và hỏi chuyện tướng Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu, không khí dần dần bình thản. Ông Nguyễn Văn Hảo ghé tới nói nhỏ với giọng miền Nam, «Thưa tôi là Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách về kinh tế - tài chính, có chuyện cần trình bày riêng với các ông». 

Tôi cùng ông Hảo đến ngồi bên chiếc bàn nhỏ gần cửa sổ. Vừa ngồi xuống, ông Hảo nói ngay: «Chúng tôi vừa trao đổi với nhau, muốn nhờ ông báo ra ngoài đó là bọn này đã giữ lại hơn 16 tấn vàng không để họ mang đi, hiện để trong ngân khố, mong ngoài đó cho người vô nhận». 

“Năm 1987, khi có dịp gặp ông Trường Chinh ở Đà Lạt, tôi (Bùi Tín) kể lại chuyện này, ông (Trường Chinh) cho biết: «Tôi có biết chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi, trong mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này đến tấn khác, mua lương thực, nguyên liệu, nay còn gì nữa đâu!». 

Đây là câu duy nhất tôi nghe được về số phận của hơn 16 tấn vàng năm 1975, từ miệng một nhà lãnh đạo.
**
Trả lời câu hỏi của báo Tuổi Trẻ về 16 tấn vàng VNCH được sử dụng ra sao, cựu thống Ngân hàng nhà nước Lữ Minh Châu nói: “Nó đã được bán ra quốc tế trong tổng số hơn 40 tấn vàng để giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân”.
Từ năm 1979, 40 tấn vàng đã được CSVN bí mật chở sang cống nộp cho Liên Xô, trong đó có 16 tấn vàng của VNCH. 24 tấn vàng còn lại là do cướp được của nhân dân miền Nam qua các chiến dịch đánh tư sản.
Trong bài “Thương Vụ Đặc Biệt: Bán Vàng!”, ông Nguyễn Văn Dễ, nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng Vietcombank, ghi lại trong cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương VN như sau: 
"Chuyến hàng đầu tiên rời Hà Nội ngày 1-12-1979, số lượng 101 hòm, nặng 4.455kg. Sau đó là những hợp đồng giao vàng tái chế, vay mượn, cầm cố với số lượng hơn 40 tấn, bán và thu được trên 500 triệu USD”.
Theo lời ông Dễ, sau năm 1975 VN rất cần ngoại tệ để giải quyết những nhu cầu cấp bách của quốc gia như mua lương thực, nguyên liệu, trả nợ quốc tế đáo hạn phải trả... Đặc biệt là miếng ăn của người dân thiếu hụt đến mức phải ăn cả hạt bo bo chưa xay xát... 
Cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương ghi lại: “Kho vàng lúc ấy ngoài số vàng không đáng kể của miền Bắc (đơn vị tạ), Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận vàng của chính quyền Sài Gòn và vàng của các nguồn khác. Số vàng tồn kho rất không “đồng bộ”: vàng thỏi của Anh mỗi thỏi nặng 12,7kg, vàng thỏi của Mỹ mỗi thỏi nặng 10kg. Các thỏi đều có mã riêng, nhãn hiệu, xuất xứ. Ngoài vàng thỏi còn có các loại vàng lá Kim Thành, các loại vàng vụn (kể cả nhẫn, vòng, kiềng)”.
Để bán số vàng thu được từ tài sản của VNCH, tại phiên giao dịch đầu tiên (có tính chất thăm dò) với Liên Xô thì được biết vàng giao dịch trên thị trường quốc tế phải là vàng thỏi chuẩn của Anh, Mỹ hoặc Liên Xô. Các loại vàng thỏi Anh, Mỹ có xuất xứ từ VN không thể tiêu thụ trên thị trường lúc ấy vì chính sách cấm vận gay gắt của Hoa Kỳ đối với VN.
Vì vậy, khoảng cuối năm 1979, Ngân hàng Nhà nước ủy nhiệm Vietcombank ký với Liên Xô hợp đồng tái chế vàng theo tiêu chuẩn của Liên Xô, mỗi thỏi 1kg để dễ dàng tiêu thụ trên thị trường thế giới.
Theo ông Nguyễn Duy Lộ, nguyên phó tổng giám đốc Vietcombank:
“Tất cả khoảng hơn 40 tấn, trong đó có 16 tấn vàng thỏi tiếp quản của ngân hàng VN Cộng Hòa, còn lại là các loại vàng khác nhau từ những nguồn khác. Ngay sau chuyến đầu tiên chuyển đi 4.455kg trong 101 hòm vào ngày 1-12-1979, chính phủ CSVN đã gửi công hàm đến Liên Xô đề nghị vay 100 triệu USD để dự phòng thanh toán nợ đáo hạn, trong khi chưa có nguồn thu xuất khẩu”.
Hiệp định vay 100 triệu USD thế chấp bằng vàng đã hoàn tất vào khoảng tháng 3-1980.
Những kiện hàng bí mật trên được vận chuyển qua hãng hàng không Nga Aeroflot.
Cũng theo tài liệu ghi nhận, khoảng năm 1988, Vietcombank đã chuyển chở về nước khoảng 2,7 tấn vàng còn gửi tại Liên Xô khi tình hình chính trị bất ổn tại Nga và đông Âu. 
Đặc biệt, khoảng 5,7 tấn vàng gửi tại Ngân hàng Thụy Sĩ cũng được VN chuyển về Tiệp Khắc. Họ đã bán giúp để VN lấy ngoại tệ sử dụng cho nhu cầu quốc dân. Trước khi Tiệp Khắc gặp biến động chính trị, khoảng 500kg vàng còn lại ở Tiệp cũng được chuyển kịp thời về nước.
Một nghi vấn đặt ra, 16 tấn vàng của VNCH được bí mật chuyển về Hà Nội có thật nằm trong số 40 tấn vàng bán sang Liên Xô hay không? Căn cứ lời Tổng bí thư đảng CSVN Trường Chinh đã xác nhận với cựu đại tá Bùi Tín: "...trong mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này đến tấn khác, mua lương thực, nguyên liệu, nay còn gì nữa đâu hết sạch cả rồi!".
Lời xác nhận của một Tổng bí thư đảng không phải là lời nói vu vơ của một người không có trách nhiệm và không biết rõ sự việc. Như vậy, theo tôi 16 tấn vàng chiến lợi phẩm ấy đã được Bộ chính trị đảng “cấu véo chia nhau hết sạch cả rồi”. Để hợp thức hóa, xóa dấu vết vụ chia chác ấy, BCT đảng CSVN đã đưa tin 16 tấn vàng VNCH nằm trong số 40 tấn vàng đã vận chuyển sang Liên Xô vào tháng 12-1979. Sự thực 40 tấn vàng đó là số vàng thu gom qua các nguồn khác từ tài sản của người dân, đặc biệt của giới tư sản miền Nam. 
Cộng Sản dám bịa đặt phao tin TT Thiệu “chở theo 16 tấn vàng cùng nhiều của cải khác chạy ra nước ngoài” thì việc họ thủ tiêu 16 tấn vàng, rồi loan tin đã chở sang bán cho Liên Xô là điều dễ hiểu, không có gì đáng nghi ngờ.
12.2015

Mặc đồ Tàu, mặc đồ Ta. Giữa hai ng ười ấy, nên bắt ai?


Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Dù nhà cầm quyền nước CHXHCNCC có ăn gian nói dối cách mấy và bọn bồi bút phụ họa tài tình đến đâu, người lương thiện ai cũng biết lý do Nguyễn Viết Dũng bị Côn An bắt trong khi xuống đường đi quanh bờ hồ Hoàn Kiếm để bảo vệ cây xanh ngày 12/4/2015 là vì y phục trên người cậu “có dấu hiệu” của bóng ma Quân phục của Quân đội Miền Nam trước 1975.
Nhưng nếu vì sợ cái hơi hướng của thù địt gây ảnh hưởng xấu cho “môi trường”, thì kẻ đáng bị bắt chước hơn ai hết phải là bác Hồ.
“Đụng tới” bác Hồ, có bạn mới đọc đến đây chưa hiểu đầu đuôi, đã vội sững cồ, lên án người viết xúc phạm đến cha già DT.
Tác giả rất thông cảm với tấm lòng sắt son trước sau như một đối với cha già DT, dù hình ảnh cha già DT trước khi có Anh Nét khác, sau khi có Anh Nét khác, nhưng quý vị vẫn một dạ thủy chung với cha già DT.
Thời buổi này mà có người giữ được thủy chung như vậy là tốt lắm; năm sáu bảy tốt, chứ không phải chỉ có bốn tốt như tình hữu nghị giữa hai đảng Việt Trung. Vì đến ngay các đồng chí lãnh đạo đảng “ta”mà cũng phải “đổi mới hay là chết”, bỏ đồng Rúp (Nga) núp đồng Đô (Mỹ); bỏ mẹ cái cốt lõi của chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng là Kinh Tế Tập Trung để ưỡn ẹo với Kinh tế Tự Do của chủ nghĩa Tư Bản “đang giãy chết”.
Ở đây, tác giả không có ý đồ so sánh bác Hồ với cậu Dũng, tác giả chỉ so sánh bộ đồ khoác trên mình hai người. Cái nào mới là thủ phạm “gây hậu quả nghiêm trọng” cho Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam thôi.
Trước hết là bộ đồ cậu Dũng mặc không phải là quân phục của Quân đội VNCH, song chỉ mang đôi nét hao hao khiến người ta nhớ tới một quân đội đã không còn, gọi là “bên thua cuộc”. Người mặc màu sắc hơi hướng Miền Nam trước ngày 30/4/75 ở đây không phải là “Ngụy quân” hay con cháu “quân Ngụy”, nhưng là một cậu thanh niên sinh ra, trưởng thành tại cái nôi của Cách Mạng, 11 năm sau (1986) ngày đất nước thống nhất, gom về một mối khố rách áo ôm là CS.
Như vậy là phải có vấn đề tại sao.
Cậu Dũng này không phải là một "thằng khùng". Trái lại, hình chụp nào cũng thấy cậu là chàng trai khôi ngô tuấn tú. Mà đúng vậy: "Từ nhỏ Nguyễn Viết Dũng thể hiện là một cậu bé thông minh, hiếu học, bạn bè quý mến. Năm học lớp 12, Dũng tham gia cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia và đạt giải nhất cuộc thi tháng, sau đó thi đỗ vào trường Đại học bách khoa Hà Nội với số điểm 29/30, đứng đầu tỉnh Nghệ An năm 2004, học đến năm thứ 3 thì Dũng bị đuổi học vì tham gia biểu tình chống Trung Quốc..."(*).
Nguyễn Viết Dũng, nhờ đi trên “Đường lên đỉnh Olympia”, mà nhìn xuống, thấy được thực hư: Quân đội Miền Nam không đi xâm lăng, gieo chết chóc cho đồng bào Miền Bắc bị kìm kẹp thống khổ; Quân đội Miền Nam chỉ cầm súng bảo vệ đồng bào mình bị Bộ đội cụ Hồ vào “ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc”; Một Miền Nam qua tìm hiểu, cậu Dũng thấy được tốt đẹp hơn Miền Bắc ngày đó và cả nước ngày nay.
Bây giờ hãy nhìn đến bộ đồ bác Hồ mặc. Đó là cả một bộ quân phục trọn gói của lính Tàu Cộng với đầy đủ quân hàm, họ tên: Thiếu tá Hồ Quang. Mà quân Tàu là quân nào? Có điên mới không biết ấy là kẻ thù truyền kiếp luôn dùng đủ mưu mô xảo quyệt và hành động tàn ác nhằm nuốt chững Việt Nam; dù đã bao lần bị đánh bại nhưng chủ trương nuốt chững nước ta không bao giờ thay đổi, cụ thể là những gì chúng đang làm với Việt Nam từ ngoài biển khơi đến trên đất liền; chúng nắm đầu lãnh đạo, chỉ huy đội quân Dư Luận Viên khủng bố những ai bày tỏ lòng yêu nước chống xâm lăng.
Một cậu thanh niên người Việt Miền Bắc khoác trên mình chút màu sắc mang hơi hướng quân phục của người lính Việt Nam Cộng Hòa chỉ cầm súng tự vệ nay đã vào dĩ vãng, và một kẻ khoác vào thân quân phục của Tàu xâm lược và phục vụ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đang lăm le nuốt chững tổ quốc Việt Nam.
Giữa hai người ấy, chẳng lẽ còn phải hỏi Dân Việt Nam nếu còn là Việt Nem sẽ chọn bắt ai ra đứng trước vành móng ngựa trong phiên tòa lúc 08 giờ 30, Ngày 09 và 14 Tháng 12 năm 2015 tại Tòa án Nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
06/12/2015
______________________________________
Chú thích:

5/12/15

Hồ vô can hay có phần trách nhiệm với đám “Cháu Ngoan” của Hồ?

Le Nguyen (Danlambao) - Thời a còng (@) có nhiều bí mật lịch sử “được” lẫn “bị” bật mí và với các công cụ thông tin hiện đại đã phá vỡ bức màn bưng bít thông tin của tuyên giáo trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. Không dừng lại ở đó, các phương tiện kỹ thuật hiện đại cũng đã làm vô hiệu hóa, làm phá sản các bài bản lý luận bịa đặt, hư cấu của các viện sĩ trong cái gọi là học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Cũng như nhờ vào kỹ thuật truyền thông hiện đại giúp cho nhiều người Việt Nam biết cộng sản quốc tế hay nói chính xác hơn là tình báo Hoa Nam đã tiếp tay tô vẽ hào quang huyền bí, giả tạo cho Hồ Chí Minh qua việc hổ trợ, phổ biến cuốn tự truyện “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” do Hồ tự biên soạn, tự diễn tả mình có đủ mọi đức tính tuyệt vời như chân thành, ngay thẳng, hy sinh, nhân ái, yêu nước, thương dân... 
Trong cuốn tự truyện dưới bút danh Trần Dân Tiên, Hồ tự bốc thơm mình, Hồ luôn viết hoa chữ NGƯỜI mỗi khi nhắc đến mình như là gã Trần Dân Tiên “vô danh tiểu tốt” đại diện khối đại đa số nhân dân bày tỏ lòng tôn kính tuyệt đối nhằm thần thánh hóa “con người ngoại hạng” tài đức song toàn không hề có thật của Hồ Chí Minh.
Phải nói rằng chỉ cần có đầu óc trung bình thì ai cũng có thể nhận ra là ngay thời điểm Hồ xuất hiện như “ông tiên hiền dịu” theo lời văn tả tình “sướt mướt” của Trần Dân Tiên, lúc Hồ đọc tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình, với nội dung vay mượn ý tưởng tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của cách mạng Pháp. Vào thời điểm 02/09/1945 lúc Hồ lần đầu xuất hiện trước công chúng, hầu hết người dân Hà Nội nói riêng và người dân Việt Nam nói chung, có mấy ai biết Hồ Chí Minh là cha căng chú kiết nào đâu thì làm gì có cảnh như Trần Dân Tiên diễn tả tâm tư tình cảm của người dân thủ đô dành cho Hồ như Trần Dân Tiên vẽ vời, diễn tả dưới đây: 
“...Nhân dân mong đợi cụ Hồ Chí Minh. Mặc dầu đang ốm, cụ Hồ quyết định về với nhân dân thủ đô... Đối với Hà Nội, ngày mồng 2 tháng 9 không những là một ngày vẻ vang của Độc Lập mà còn là một ngày đáng yêu vì ngày hôm đó lần đầu tiên thủ đô Hà Nội được “mắt thấy” người con yêu quý nhất của dân tộc Việt Nam... 

Nhưng cảm động hơn cả là khi nhân dân thấy chủ tịch HCM đến, người mà nhân dân hằng yêu mến, khâm phục, kính trọng và lần đầu tiên nhân dân mới được thấy… nhân dân nhận thấy chủ tịch giản dị, thân mật như một người cha hiền về với đám con. 

Từ xa tôi thấy Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Chủ Tịch đội mũ vải đã ngả màu vàng vì mưa gió, đi một đôi dép cao su, mặc một bộ quần áo kaki... Khi Chủ Tịch bắt đầu đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập giọng sang sảng của Chủ Tịch còn nhắc lại rừng núi xa xăm, chiến tranh du kích. 

Đọc xong một đoạn và giữa tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô nhiệt liệt, Chủ Tịch nói: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?". Câu hỏi giản đơn này làm tiêu tan tất cả những cái gì còn xa cách giữa Chủ Tịch và nhân dân và làm thành một mối tình thắm thiết kết chặt lãnh tụ và quần chúng. Với câu hỏi lạ lùng này, không một ai ngờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã trừ bỏ tất cả lễ tiết, tất cả hình thức. Chủ Tịch trở thành “Cha Hồ” của dân tộc Việt Nam...”
Để hổ trợ tình báo Hoa Nam hoàn thành nhiệm vụ hư cấu thần thánh hóa, tô vẽ huyền thoại Hồ Chí Minh. Đảng cộng sản Việt Nam cùng với tuyên giáo trung ương đảng và đám văn nô, bồi bút, bút nô sử dụng hệ thống tuyên truyền tiếp tay cho Hồ tiếp tục bốc phét Hồ, phổ biến cuốn tự truyện đơm đặt thứ hai có tên là “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện”. 
Hai cuốn tự truyện ra đời vào hai thời điểm khác nhau nhưng nội dung đều nhằm mục đích đánh bóng tên tuổi Hồ, tạo hình tượng đẹp cho Hồ nhập vai cha già dân tộc, làm “thánh” của dân tộc Việt Nam. 
Nội dung cuốn tự truyện “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” thì Hồ nhập vai nhà báo Trần Dân Tiên, tìm gặp phỏng vấn những người từng quen biết “anh Ba, ông Nguyễn” trong những năm lưu lạc xứ người mưu sinh với nghề rửa bát trên tàu viễn dương, thợ làm bánh, thợ chụp ảnh, làm báo, làm thông ngôn... Riêng cuốn tự truyện “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện” thì Hồ nhập vai T.Lan, một cán bộ tháp tùng Hồ trong chiến dịch giải phóng biên giới Việt-Trung trong giai đoạn 9 năm kháng chiến chống Pháp 1945-1954 và cán bộ “Hồ” được nghe bác “Hồ” kể lại nhiều câu chuyện khác nhau về Hồ Chí Minh trên suốt quãng đường đi công tác cùng nhau! 
Lần theo dấu vết của Hồ kể chuyện trong hai cuốn tự truyện lố bịch, giả danh người khác tự bốc thơm cứt của mình, Hồ còn được văn nô, bồi bút, báo nô nâng bi Hồ bằng mồm không sợ dơ miệng, Vớ được bất cứ thứ gì, kể cả cứt đái, máu me... chúng cũng đều le lưỡi liếm, hít hà khen ngon và xem như là thánh ngôn, thánh thi, là tư tưởng vĩ đại qua các câu thơ, câu văn, lời nói thô thiển tục tĩu, ba sàm ba đế đến độ tầm thường như: "...Hòn đá to, hòn đá nặng... một người khiên, khiên không đặng... Ôi khổ nào hơn mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho... các cháu kinh nguyệt có đều không?... các cháu có buồn đi tiểu không, bác chỉ chỗ cho mà đi...”
Sự thật thì những mảng nhỏ “tư tưởng” vừa kể cũng chưa ghê sợ bằng tư tưởng quỷ quái bịa chuyện, vú cáo, tố điêu của Hồ trong các bài luận văn “Giấc Ngủ Mười Năm, Địa Chủ Ác Ghê...” Những tư tưởng quái đản, phi nhân tính trong hai bài viết này của Hồ đã trở thành hình mẫu, thành tư tưởng nồng cốt cho đám cháu ngoan của Hồ học tập làm theo trong cải cách ruộng đất vào thập niên 50S của thế kỷ trước. 
Dựng chuyện tố điêu, giết người man rợ đủ kiểu, đủ cách của tư tưởng, đạo đức Hồ đã được nhân chứng sống Đặng Văn Huy, thân nhân của nạn nhân cải cách ruộng đất, tận mắt chứng kiến cảnh tang tóc chết chóc, mùi tử khí bao trùm do Hồ gieo rắc phủ xuống làng quê Việt Nam, kể lại như sau:
“...Ngay trước mặt chúng tôi là một cái lễ đài mới được dựng lên để ông chánh tòa và bồi thẩm đoàn ngồi trên hai hàng ghế phía sau hai cái bàn lớn đặt kề nhau. Phía sau lưng hàng ghế ông chánh tòa ngồi là một cái phông bằng vải màu xanh xi lâm của Trung Quốc, có một dòng chữ thật lớn: TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐẶC BIỆT XÃ ĐỨC LÂM. Phía trên hàng chữ đó là các bức ảnh lãnh tụ như Các Mác, Ăng Ghen, Lê Nin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Bun Ga Nin, Kim Nhật Thành… được treo khá trang trọng. Phía trên hàng ảnh các vị lãnh tụ là hai lá cờ lớn: cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm..

...Địa chủ Đặng Đình Báu! Mày có biết tao là ai không? Mày còn nhớ năm 1932 khi tao đi ở cày ruộng cho mày, đêm nào mày và vợ mày cũng bàn nhau chuyện bán ruộng cho Cửu Hạnh để lấy tiền tiếp tế cho thằng Trung đang theo bọn quốc dân đảng phản động tại Kon Tum, mày có nhớ không, hả? 

...Mày tưởng bấy lâu nay, thằng Trung và thằng Bắc con của mày theo bọn quốc dân đảng phản động dưới danh nghĩa tỉnh ủy viên CS để phá hoại cách mạng từ bên trong mà che được mắt của đồng bào sao? Mày hãy thành khẩn nhận tội đi để được cụ Hồ khoan hồng, hoặc là mày sẽ bị xử tử đó! Chọn đi!

- Dạ, con biết ông là Chưởng rồi ạ! Đội xử tử con cũng được nhưng ông nói sai thì con không thể nào nhận được ạ! Các con của con dù phải chết chúng cũng chỉ đi theo cụ Hồ và cách mạng thôi, chứ không bao giờ đi theo bọn quốc dân đảng phản động đâu ạ!...


...Đã đảo tên quốc dân đảng phản động Đặng Đình Báu ngoan cố! Kiên quyết bắt địa chủ Đặng Đình Báu phải đền tội! Hồ chủ tịch muôn năm! Mao chủ tịch muôn năm!...

...Mẹc cũng đã có một thời làm con ở trong nhà cố Cửu, nên khi nghe thẩm phán Bùi Thị Mẹc đọc bản cáo trạng về các tội của mình, cố Cửu Hạnh trông vẫn bình tĩnh vì có lẽ cố đã nghĩ là thế nào mình cũng sẽ được hưởng chính sách khoan hồng của Hồ chủ tịch...

...Bắc ơi, việc con kiên quyết không nhận những tội mà mình đã không làm là hoàn toàn đúng, con ạ! Cha bắt chước người khác nhận tội để được hưởng chính sách khoan hồng của cụ Hồ là sai thật rồi! Cha biết, đằng nào thì cũng sẽ phải chết nên cha đã quyết định tự chết chứ quyết không để cho bọn dối trá dơ bẩn đó bắn vào người mình, các con ạ! Vĩnh biệt các con!...”
Trích đoạn trên diễn tả lại quang cảnh đấu tố các nạn nhân cải cách ruộng đất tiêu biểu do Hồ Chí Minh làm theo lệnh Nga-Tàu. Giờ thì ai cũng biết Hồ là chính phạm, qua bút tích của bức thư Hồ gởi cho Staline, kèm theo kế hoạch thực hiện cải cách ruộng đất, có các đồng chí Trung Quốc tham gia hợp soạn là sự thật tội ác không thể chối cãi của tên cộng sản khát máu Hồ Chí Minh. 
Dù rằng những câu chuyện tưởng tượng bịa đặt tố điêu hay giết người man rợ thú tính trong cải cách ruộng đất rất kinh khủng, rất rùng rợn nhưng nó không rùng rợn, không nguy hại bằng những gì mà tên đầu têu Hồ bày ra cho đám cháu ma quỷ của Hồ gieo rắc hơn 70 năm qua cho dân, cho nước Việt Nam và tội ác này vẫn còn đang tiếp diễn... 
Ngày nay tư tưởng, đạo đức cách mạng của dựng chuyện, bịa đặt tố điêu, giết người dã man, tàn bạo, độc ác đến độ lạnh lùng do Hồ truyền dạy, phát tán đã trở thành phổ biến trong tư duy, nhận thức của đám cháu ngoan lãnh đạo ban ngành các cấp trong đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam. Thú tính trong đám cháu ngoan các loại, có phần vượt trội hơn cả “cha già” của chúng ở khoản ra rả rao giảng đạo đức cách mạng nhưng tàn ác, khát máu không thua kém Hồ Chí Minh: “...không có tội đánh cho có tội... có tội đánh cho chừa... thà giết lầm hơn bỏ sót...” là nỗi ám ảnh kinh hoàng thường trực trong cuộc sống của người dân lương thiện Việt Nam
Cụ thể là những năm tháng đảng, nhà nước phát động phong trào học tập làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh khiến “tâm tư tình cảm” của đám côn an côn đồ, cháu ngoan của Hồ nở rộ nên chúng đã gây ra các vụ giết người, các vụ án oan sai năm sau nhiều hơn năm trước. Trong các trại tạm giam tạm giữ các hung thần côn an, chúng giết người với các màn tra tấn, nhục hình man rợ, với mớm cung, dụ cung, ép cung, bức cung tạo ra án oan sai để đạt thành tích phá án nhanh nhất thế giới- một thành tích kỳ quái, ghê tởm của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. 
Ba năm qua, bản sao thành tích cải cách ruộng đất của đám lâu la thú vật côn an không tính người đã cướp đi mạng sống của hàng trăm mạng người, hàng chục vụ án oan sai trong các vụ án giết người và không biết có bao nhiêu người bị tra tấn chết đi sống lại đã phải nhận tội để tìm đường sống trong cái chết. Rất có khả năng trong số những người bị buộc tội do bị nhục hình bức cung, có báo chí lề dân, lề dảng đồng loạt loan tải rầm rộ, là để cán bộ lãnh đạo thăng quan tiến chức, là để “thế mạng” cho các con cái, thân nhân của các đại gia, của các quan chức lãnh đạo đảng, nhà nước như vụ Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, Hồ Duy Hải ở Long An, Nguyễn Văn Chưởng ở Hải Phòng, Lê Văn Mạnh ở Thanh Hóa, Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận... và còn bao nhiêu vụ việc oan sai như thế không được dư luận xã hội quan tâm biết tới?...
Sự thật là nếu không có cộng sản quốc tế thì không có “nhân vật thần thoại” Hồ Chí Minh và không có Hồ Chí Minh thì Nga-Tàu không có tên tay sai đắc lực “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” để nhuộm đỏ Việt Nam và biến Việt Nam thành trại tù của chế độ côn an trị, với sặc mùi tử khí khủng bố phủ trùm, đè nặng lên mọi mặt đời sống người dân Việt Nam.
Thế thì với các tội ác, với sự bạo tàn của đám cháu ngoan tham tàn, khát máu nắm độc quyền sinh sát trong tay do Hồ sản sinh ra thì tội ác làm con người suy đồi, xã hội băng hoại, đất nước tan hoang... có phần trách nhiệm của Hồ hay Hồ vô can trong các tội ác đã đang diễn ra gây hâu quả nghiêm trọng trên đất nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày hôm nay? 
05/12/2015

Việt cộng tuyên thệ trung thành với tổ quốc!?

Lê Dủ Chân (Danlambao) - Kể từ ngày 02/09/1945 đến nay dưới sự cai trị của đảng cộng sản (30 năm ở miền Bắc và 40 năm trên toàn lãnh thổ), nước Việt Nam có tất cả là 9 Chủ Tịch nước, 6 Thủ Tướng chính phủ, 8 Chủ Tịch Quốc Hội do đảng cộng sản bầu ra. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng là chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch Quốc Hội đầu tiên đến Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng là đương kim chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch Quốc Hội hiện nay không có cá nhân nào tuyên thệ trước đồng bào Việt Nam là họ TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC, NHÂN DÂN VÀ HIẾN PHÁP của hai nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Ngày hôm nay (70 năm sau) theo tin tức của đài VOA(*) thì một trong các nội quy kỳ họp Quốc Hội/CSVN sửa đổi mới được thông qua sáng 24/11/2015 và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2016 là:
Thủ Tướng, Chủ Tịch nước, Chủ Tịch Quốc Hội và Chánh Án tòa án nhân dân tối cao Việt Nam phải tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và hiến pháp khi nhậm chức. Người tuyên thệ quyết định nội dung tuyên thệ phù hợp với trách nhiệm được giao và phải đứng trước quốc kỳ tuyên thệ với thời gian không quá 3 phút.
Chiếu theo tinh thần của nội quy vừa mới được thông qua ngày 24/11/2015 ở trên của Quốc Hội/CSVN chúng ta thấy gi?
1- Đối với đảng cộng sản thì lòng trung thành với tổ quốc, với nhân dân là một sự bắt buộc, do đó họ nói - PHẢI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC, NHÂN DÂN VÀ HIẾN PHÁP - chứ không phải như chúng ta thường nghĩ: Là công dân của một nước thì trung thành với tổ quốc và dân tộc của mình là chuyện đương nhiên không cần phải đặt thành vấn đề.
Đã là người ai không yêu tổ quốc
Yêu giống nòi từ lúc mới sinh ra.
Tuy nhiên với người cộng sản thì không phải vậy, hảy nghe Tố Hữu nói lên tâm tư nguyện vọng của người cộng sản Việt Nam:
Thương biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.
Chính vì vậy mà nhạc sĩ Việt Khang đã đau đớn viết ra bài hát "Việt Nam Tôi Đâu?" để khóc cho tổ quốc của mình sau 70 năm bị cộng sản cai trị.
2- Trong 70 năm qua, đảng cộng sản Việt Nam có một nơi nào đó cao hơn tổ quốc Việt Nam, có một loại người nào đó xứng đáng hơn dân tộc Việt Nam để họ trung thành, do đó dù là Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, Chủ Tịch Quốc Hội của nước Việt Nam nhưng họ chưa bao giờ tuyên thệ trung thành với tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Điều 4 của Hiến Pháp và phương châm 16 chữ vàng 4 tốt của đảng và nhà nước CHXHCN/VN đã cho nhân dân Việt Nam biết tổ quốc của họ ở nơi nào và nhân dân của họ là ai.
3- Với quy định bắt buộc Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, Chủ Tịch Quốc Hội phải tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và hiến pháp mà Quốc Hội cộng sản Việt Nam vừa mới thông qua ngày 24/11/2015 đã chứng tỏ rằng trong suốt 70 năm qua đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam nhắm mắt, cúi đầu theo lệnh của Liên Sô, Tàu đem chủ trương, đường lối, chính sách của cộng sản quốc tế, của Liên Sô và Trung cộng áp dụng vào Việt Nam, lấy Việt Nam làm nơi thí nghiệm cho chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội mà không cần biết sau đó tổ quốc của mình sẽ đi về đâu, nhân dân của mình sẽ như thế nào.
4- Với quy định bắt buộc Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, Chủ Tịch Quốc Hội phải tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và hiến pháp mà Quốc Hội cộng sản Việt Nam vừa mới thông qua ngày 24/11/2015 đã chứng tỏ rằng trong suốt 70 năm qua đảng cộng sản và các cá nhân do đảng bầu ra làm Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, Chủ Tịch Quốc Hội đã không trung thành với tổ quốc, nhân dân Việt Nam ngược lại họ đã dùng tổ quốc và nhân dân Việt Nam như là một phương tiện để phục vụ cho lý tưởng và thế lực mà họ trung thành đó là chủ nghĩa Cộng sản và hai nước đàn anh Liên Sô và Trung Cộng.
5- Theo ngôn từ mà nói thì câu chữ "Thủ Tướng, Chủ Tịch nước, Chủ Tịch Quốc Hội và Chánh Án tòa án nhân dân tối cao Việt Nam phải tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và hiến pháp khi nhậm chức" cũng cần được phân định rõ ràng để tránh ngộ nhận, lạm dụng sau này.
Đối với người cọng sản thì yêu "nước - tổ quốc" là yêu chủ nghĩa xã hội", cũng như hai chữ "nhân dân" chỉ để chỉ những người dân có công với đảng với "cách mạng" (theo định nghĩa của Đại Tá Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Đăng Thanh) vậy thì trong nội quy vừa được Quốc Hội/CSVN phê chuẩn hôm 24/11/2015 thì nhóm chữ "trung thành với tổ quốc, nhân dân" là trung thành với tổ quốc Việt Nam hay trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trung thành với người Việt Nam có công với đảng, với cách mạng hay trung thành với 93 triệu người dân Việt Nam?
Cũng đảng đó (đảng cộng sản), cũng đường lối, chính sách đó, cũng cơ chế đó, cũng những con người đó trong 70 năm qua họ không thèm tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân gì ráo, thì hôm nay dù có tuyên thệ hay không cũng không có ý nghĩa gì, chẳng qua vì thời thế xoay chiều, lòng dân phẫn uất nên đảng cộng sản phải bày trò để qua mặt nhân dân.
Tổ quốc, nhân dân Việt Nam không cần những hình thức, lời nói sáo rỗng, bịp bợm như vậy, điều họ cần là giải thể chế độ độc tài toàn trị, bãi bỏ đều 4 hiến pháp hiện nay, sau đó từng bước xây dựng thể chế dân chủ với tam quyền phân lập để toàn dân thật sự có tự do đóng góp công sức của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, tổ quốc.
04/12/2015

ĐMHCM đường "Bác" đi trùng điệp bất nhân (P1)

Người Đưa Tin (Danlambao) - Không biết đường mòn Hồ Chí Minh (ĐMHCM) chính thức khởi công từ khi nào. Theo báo cộng sản thì Võ Nguyên Giáp là người ra lệnh tiến hành ĐMHCM. Cho đến chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa. Cộng sản Bắc Việt kết thúc "thắng lợi" cho Liên sô và Trung cộng để "thống nhất" đất nước bằng sinh mạng hàng triệu bộ đội sinh Bắc tử Nam. "Đánh Mỹ cho đến người VN cuối cùng", trong đó không ít nạn nhân là phụ nữ và trẻ em chỉ để đánh cho Liên sô và Trung cộng như Lê Duẫn đã thú nhận.
Trong một lần sang Nga để xin viện trợ pháo cao xạ và tên lửa, nguyên soái Andrei Antonovich Grechko đã hỏi: "Tôi đã xem kỹ các tấm ảnh đường mòn mà đồng chí đưa. Tôi chẳng thấy xe cộ đâu cả, chỉ thấy voi".