10/12/15

Vụ Đỗ Thị Minh Hạnh bị công an hành hung được nêu ra trước Quốc hội Đức

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đặng Hà - Trong phiên họp Quốc hội Liên bang Đức ngày 03.12.2015 vừa qua, một Nghị quyết được đệ trình để thảo luận và biểu quyết thông qua. Nghị quyết này mang tên "Tăng cường việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới" và trong phần thảo luận trước khi biểu quyết nghị sĩ Frank Heinrich (đảng CDU/CSU) đã nêu ra trường hợp cô Đỗ Thị Minh Hạnh trong bài phát biểu của ông. Trong đó ông kể rõ về vụ công an Việt Nam hành hung dã man cô Đỗ Thị Minh Hạnh:
“Mới tuần rồi tôi nhận được tin cô Minh Hạnh  với tư cách là thành viên của công đoàn độc lập "Lao Động Việt"- đã bị bắt giữ cùng với một đồng nghiệp vì can tội tham gia buổi gặp gỡ và trò chuyện với công nhân của một doanh nghiệp Nam Hàn... Lực lượng công an đã giải tán cuộc họp mặt này và bắt giữ cô Minh Hạnh cùng với đồng nghiệp Trương Minh Đức. Họ bị giam giữ đến sáng ngày hôm sau và đã bị công an đánh đập tàn nhẫn. Cô Minh Hạnh với thương tích ở đầu và mắt đã phải vào bệnh viện chữa trị. Cho đến hôm nay cô vẫn còn bị rối loạn thị giác.”
(Xem Video nghị sĩ Frank Heinrich phát biểu: 
Bài phát biểu của nghị sĩ Frank Heinrich cũng đề cập đến những điểm quan trọng của Nghị quyết "Tăng cường việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới". Cùng ngày 03.12.2015 Nghị quyết này đã được Quốc hội Liên bang Đức thông qua với đa số phiếu (đảng cánh tả Die Linke bỏ phiếu trắng). Trong tương lai những Người Bảo Vệ Nhân Quyền ở trong nước VN có thể cũng được che chở bởi Nghị quyết này. 
Dưới đây là bản dịch bài phát biểu của nghị sĩ Frank Heinrich (thuộc đảng CDU/CSU và là thành viên trong Uỷ ban Nhân quyền Quốc hội Đức): 

Kính thưa bà Chủ tịch, Quý đồng nghiệp và Quý dự thính viên! 

Chúng ta đã định trước rằng, nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền sẽ khởi đầu trong tuần tới, hôm nay chúng ta đệ trình một Nghị quyết về những Nhà Bảo Vệ Nhân Quyền và sự bảo vệ họ. 

Tương tự như những nghị sĩ khác, hôm nay tôi muốn giới thiệu cho quí vị một vài Người Bảo Vệ Nhân Quyền: 

Một trong những người đó là cô Đỗ Thị Minh Hạnh. Năm ngoái tôi đã có dịp gặp cô Minh Hạnh hai lần. Một lần - như trong tấm ảnh này - gặp tại văn phòng của tôi ở Berlin. Trong thời gian này một vài nghị sĩ cũng đã gặp cô Minh Hạnh. Nghị sĩ Brand là người đỡ đầu cho cô (chú thích của người dịch: Nghị sĩ Brand là chủ tịch Uỷ ban Nhân quyền Quốc hội Đức). Bảy tháng trước đó tôi đã phải đi đến nhà tù ở Hà Nội để thăm cô Minh Hạnh; chuyện này một vài nghị sĩ đã kể qua. Vào thời điểm đó cô Minh Hạnh là một nhà hoạt động công đoàn và bị bắt giam. Cô và vài ba chục người Việt khác là những nạn nhân của việc bắt giam tùy tiện được LHQ nêu đích danh và yêu cầu trả tự do. 

Một thời gian ngắn sau chuyến thăm viếng của tôi, cô Minh Hạnh được phóng thích vô điều kiện. Cô ta được khuyến cáo rằng, nếu một khi đi ra nước ngoài thì ở lại đó đừng về. Đó là điều ràng buộc duy nhất. Tháng 11 năm ngoái cô Minh Hạnh đã có dịp đi sang Đức và đến thăm chúng tôi. Nhân đó đã có tấm ảnh này được chụp trong văn phòng của tôi. 

Mới tuần rồi tôi nhận được tin cô Minh Hạnh - với tư cách là thành viên của công đoàn độc lập "Lao Động Việt" - đã bị bắt giữ cùng với một đồng nghiệp vì can tội tham gia buổi gặp gỡ và trò chuyện với công nhân của một doanh nghiệp Nam Hàn về vấn đề không trả lương (chú thích của người dịch: chính xác là vấn đề đền bù cho công nhân bị sa thải) và quyền lợi của công nhân. Lực lượng công an đã giải tán cuộc họp mặt này và bắt giữ cô Minh Hạnh cùng với đồng nghiệp Trương Minh Đức. Họ bị giam giữ đến sáng ngày hôm sau và đã bị công an đánh đập tàn nhẫn. Cô Minh Hạnh với thương tích ở đầu và mắt đã phải vào bệnh viện chữa trị. Cho đến hôm nay cô vẫn còn bị rối loạn thị giác. 
(…) (nghị sĩ Heinrich kể tiếp về hai Người Bảo vệ Nhân quyền ở Aserbaidschan và Bahrain) 

Chúng ta sẽ nhớ ra nhiều tên tuổi và gương mặt khác. Đó là những người không ngại mọi đe dọa về thân thể và tâm lý để dấn thân cải thiện tình trạng nhân quyền tại đất nước họ, và như cô Minh Hạnh, mặc dù có cơ hội ở lại nước ngoài, nhưng cô đã trở về quê hương để cải thiện tình trạng cơ cấu ở đó. 
(tiếng vỗ tay của các nghị sĩ đảng CDU/CSU) 
Để rồi bây giờ cô lại phải nhận lãnh một sự trừng phạt. 

Ông Rasul Jafarov là người mời tôi đến thăm. Khi gặp tôi, ông nói ông có thể bị bắt vào bất cứ lúc nào. Hồi đó ông có liên quan đến Giải Ca nhạc Âu Châu (European Song Contest). Việc bảo vệ cho những con người can đảm này là một công tác quan trọng trong chính sách nhân quyền của chúng ta. Vì thế không phải chỉ hôm nay chúng ta mới có cuộc thảo luận đặt trọng tâm về vấn đề này mà năm tới Uỷ ban Nhân quyền và Cứu trợ Nhân đạo của Quốc hội Đức cũng sẽ đặt trọng tâm vào việc bảo vệ cho những Người Bảo vệ Nhân quyền. Uỷ ban sẽ viếng thăm những Người Bảo vệ Nhân quyền và mạnh mẽ đưa đề nghị cho các đại sứ Đức và đại sứ các quốc gia liên hệ. 
(Tiếng vỗ tay của các nghị sĩ đảng CDU/CSU, đảng SPD và đảng Xanh/Bündnis90)
Như trong thí dụ về Bahrain nhiều quốc gia hiện thiếu các cơ chế pháp trị. Ít khi chúng ta thấy các tội ác bị điều tra ra và thủ phạm bị trừng phạt. Do đó tôi cám ơn các tổ chức đã dấn thân vào việc này. Ngay tại Đức chúng ta cũng có những người dấn thân trong các tổ chức đó. Giống như các nhà chính trị chúng tôi tìm cách bày tỏ tình liên đới, tôi yêu cầu Quí vị viết thư và tranh đấu để mang ánh sáng đến các trường hợp đơn lẻ và tạo hy vọng cho họ. 

Trong nghị quyết được đệ trình, chúng ta yêu cầu Chính phủ Liên bang hãy sử dụng mọi phương tiện ngoại giao như có thể có được để hành động chống lại việc hình sự hóa các tổ chức phi chính phủ và các Nhà Bảo Vệ Nhân Quyền bất bạo động, và để hỗ trợ các tổ chức dấn thân bảo vệ các Nhà Bảo Vệ Nhân Quyền. 

Là nghị sĩ, như vừa kể, thí dụ chúng ta có thể nhận đỡ đầu cho một Người Bảo Vệ Nhân Quyền. Chúng ta có thể ký tên trên các Thỉnh nguyện thư. Quý vị cũng có thể làm với tư cách là một công dân, là một cá nhân. Chúng ta có thể đến quan sát những phiên toà xét xử. Vâng, ở điểm này chúng ta phải kêu gọi -như là nghị sĩ Schwabe đã lưu ý trước đây- có thêm nhiều nghị sĩ hơn nữa sẵn sàng đứng ra làm người đỡ đầu cho những quan sát viên để soi sáng tình trạng nhân quyền. 

Chúng ta phải thông tin cho các Người Bảo Vệ Nhân Quyền biết rõ hơn nữa về những quyền của họ và các khả năng bảo vệ. Họ cần phải biết, họ có thể nhận được những sự giúp đỡ nào từ đất nước chúng ta, nơi mà chúng ta thực sự có tự do, và họ có thể cầu cứu ở người nào khi cần thiết . 

Để kết thúc phát biểu tôi xin nói rằng, chúng ta với tư cách cá nhân có thể dấn thân giúp nhiều Người Bảo vệ Nhân quyền. Về phần mình, tôi đã quyết định tiếp tục hỗ trợ những người như cô Minh Hạnh, đến thăm họ trong nhà tù khi có dịp, khích lệ họ bằng thư từ, nói với họ rằng họ không bị lãng quên. 

Bất cứ cương vị nào, nơi nào, thời điểm nào mà điều kiện cho phép tôi sẽ luôn đóng góp một phần nhỏ vào công việc làm sáng tỏ những bất công mà họ phải gánh chịu. Nhưng mà chúng ta cũng nên thực hiện việc này trên cương vị là Quốc hội và Chính phủ. 

Tôi xin cảm ơn quí vị đã lắng nghe. 
(Tiếng vỗ tay của các nghị sĩ đảng CDU/CSU, đảng SPD và đảng Xanh/Bündnis90). 
*
Tại Đức có một tổ chức đã và đang hoạt động với mục tiêu bảo vệ Nhân quyền. Tổ chức này mang tên: VETO! Human Rights Defenders' Network (Mạng lưới Bảo vệ Nhân quyền VETO!). Để tìm hiểu thêm về Nghị quyết „Tăng cường việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới“ mới được Quốc hội Liên bang Đức thông qua, tác giả bài viết này đã phỏng vấn ông Vũ Quốc Dụng là Giám đốc điều hành Mạng lưới Bảo vệ Nhân quyền VETO!: 
Tác giả: Trước nhất, ông có thể giải thích khái niệm Người Bảo Vệ Nhân Quyền hoặc Nhà Bảo Vệ Nhân Quyền mà nghị sĩ Heinrich dùng trong bài phát biểu trước Quốc hội Liên bang Đức. Khái niệm này nó có khác biệt như thế nào với những khái niệm chúng ta hay dùng: Người / Nhà Tranh Đấu Cho Nhân Quyền v.v.? 
VQ Dụng: Thực ra theo cách hiểu của các tổ chức nhân quyền quốc tế thì các khái niệm "nhà tranh đấu nhân quyền", "nhà hoạt động nhân quyền" và "Người Bảo Vệ Nhân Quyền" không khác nhau bao nhiêu. Tuy nhiên 2 khái niệm đầu chưa được "định chuẩn" khiến cho mỗi người có thể hiểu hoặc có cách định nghĩa khác nhau. Trong khi đó khái niệm "Người Bảo Vệ Nhân Quyền" (human rights defender) được định nghĩa bởi "Tuyên ngôn về Quyền và Trách nhiệm của các Cá nhân, Nhóm hay Cơ chế xã hội nhằm làm Thăng tiến và Bảo vệ những Nhân quyền và Tự do Căn bản Phổ quát" (thường được gọi tắt là Tuyên ngôn về Người Bảo Vệ Nhân Quyền) được Đại hội đồng LHQ thông qua vào năm 1998. 
Như vậy Người Bảo Vệ Nhân Quyền (NBVNQ) có thể là một cá nhân hay một tổ chức chuyên đi bảo vệ nhân quyền cho người khác. NBVNQ tranh đấu cho tính phổ quát và bất khả phân của nhân quyền dựa trên những văn bản pháp lý nhân quyền của LHQ. Ngoài ra NBVNQ không được phép vi phạm nhân quyền của bất cứ ai và phải tôn trọng nguyên tắc bất bạo động. 
Theo tôi nếu có cá nhân hay tổ chức nào chấp nhận hoạt động theo những nguyên tắc của Tuyên ngôn nói trên thì họ nên dùng danh từ NBVNQ để xác định chỗ đứng, tôn chỉ và mục đích hoạt động của mình cho rõ ràng. Danh từ NBVNQ hiện được dùng rất phổ biến trên thế giới nên có thể nói rằng NBVNQ hiện đã trở thành một giới hoặc một cộng đồng đông đảo được quốc tế bảo vệ. Thí dụ Hội đồng Nhân quyền LHQ có một cơ chế tên là Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về NBVNQ bên cạnh các cơ chế khác để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tôn giáo,... LHQ luôn quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ cho NBVNQ vì xem giới này đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ nhân quyền trên thế giới và vì giới này bị đe dọa thường xuyên về tính mạng và tài sản. Hàng năm Hội đồng Nhân quyền LHQ đều có làm tổng kết và ra quyết nghị về tình trạng của những NBVNQ trên thế giới. Mới đây Đại hội đồng LHQ đã biểu quyết thông qua một Quyết Nghị nhằm lên án việc đàn áp và kêu gọi bảo vệ cho NBVNQ vừa được Uỷ ban thứ Ba của LHQ đệ nạp hôm 25/11/2015. Việt Nam là trong số 14 nước đã bỏ phiếu chống đối Quyết Nghị này. (117 nước bỏ phiếu thuận). 
Tác giả: Ngày 03.12.2015 Quốc hội LB Đức đã thông qua nghị quyết "Tăng cường việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới". Ông có thể tóm gọn nội dung chính yếu của nó. Chính phủ Đức sẽ làm gì với nghị quyết này? Cụ thể nghị quyết này có thể giúp ích gì được cho Những Người Bảo Vệ Nhân Quyền ở trong nước VN? Những Người Bảo Vệ Nhân Quyền ở trong nước VN cần phải làm gì để có được những sự bảo vệ nêu trên? 

VQ Dụng: Quyết nghị mang tên "Gia tăng việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới" (Drucksache 18/6880) yêu cầu Chính phủ Đức hợp tác với tất cả các cơ chế trên thế giới, tận dụng các quan hệ ngoại giao song phương và đa phương và dùng phương tiện của chính phủ Đức để bảo vệ NBVNQ một cách hữu hiệu hơn. Thí dụ Đức cần thúc đẩy các quốc gia khác mời Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về NBVNQ đến thị sát; Đức cần giúp đỡ và bảo vệ tại chỗ cho các NBVNQ đang gặp nạn; Đức cần đẩy mạnh việc thông báo chính sách bảo vệ NBVNQ của EU và thường xuyên trao đổi với các tổ chức nhân quyền. 
Quyết nghị là cách thể hiện ý chí của một Quốc hội đại diện cho toàn dân trong chế độ dân chủ. Chính phủ Đức do quốc hội bầu ra cho nên sẽ phải tuân theo các quyết nghị của Quốc hội. Chính phủ Đức sẽ tìm cách đưa các yêu cầu của bản quyết nghị vào các chính sách. Vì bản quyết nghị nói trên được các đảng cầm quyền đệ trình vào Quốc hội nên sác xuất thực hiện đúng đắn quyết nghị này sẽ rất cao. 
Các NBVNQ ở Việt Nam có thể liên lạc thường xuyên với tòa đại sứ Đức và đại diện của Liên minh Âu Châu (EU) để lấy những thông tin mới, trao đổi ý kiến, đưa ra các đề nghị cải thiện tình trạng nhân quyền và xin giúp đỡ khi gặp hoạn nạn. 
Quyết nghị này đặc biệt quan tâm đến các giới sau đây: các nhà báo, blogger, facebooker, nhà hoạt động về quyền của các sắc tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa, về các quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quyền tự do tôn giáo, quyền phụ nữ và quyền của người đồng tính và chuyển giới. 
Quyết nghị này cũng đề nghị các quốc gia EU hợp tác với nhau để yêu cầu quốc gia liên hệ phải trừng phạt thủ phạm và bồi thường cho nạn nhân. 
Vận động chính giới Đức của tổ chức VETO! cho cô Minh Hạnh 
(từ trái: Nghị sĩ Martin Patzelt, Vũ Quốc Dụng, 
bà Trần Thị Ngọc Minh (mẹ Minh Hạnh), 
nghị sĩ Michael Brand, nghị sĩ Lengsfeld) 
Tác giả: Bây giờ xoay qua đề tài Đỗ Thị Minh Hạnh. Trong những thông cáo báo chí của nghị sĩ Frank Heinrich về trường hợp Minh Hạnh đều có đề cập đến tổ chức VETO! (tức là "Mạng lưới những Người Bảo vệ Nhân quyền"). Điển hình là thông cáo báo chí ngày 28.04.2014 về chuyến đi thăm Minh Hạnh trong nhà tù ở VN, và thông cáo báo chí ngày 01.07.2014 sau khi Minh Hạnh được trả tự do. Xin nhấn mạnh: Chỉ vọn vẹn 2 tháng sau khi nghị sĩ Heinrich vào tù thăm, thì Minh Hạnh được phóng thích vô điều kiện. Điều này cho thấy công việc vận động chính giới Đức là rất quan trọng. Ông có thể cho biết thêm chi tiết về việc vận động chính giới Đức của tổ chức VETO!cho trường hợp cô Minh Hạnh? 
VQ Dụng: Các dân biểu Đức xem Minh Hạnh (MH) là một thành công trong việc đấu tranh cho NBVNQ và họ rất hãnh diện về điều này. Hồi tháng Tư năm 2014, VETO! tổ chức cho mẹ của MH đến Berlin vận động chính giới. Trong các cuộc tiếp xúc trước đó dân biểu Frank Heinrich cho biết ông sắp sang Việt Nam và hỏi ý kiến chúng tôi về việc ông muốn thăm MH trong tù. Chúng tôi nghĩ đây là một ý kiến hay vì đến lúc đó chưa có một dân biểu Âu Châu nào được vào thăm một tù nhân chính trị ở Việt Nam và nếu thành công thì đây là một tiền lệ tốt. Khi bà Ngọc Minh, mẹ của MH, vào gặp Uỷ ban Nhân quyền Quốc hội Đức thì chúng tôi đã bàn kỹ về vấn đề này hơn. Vì cần chuẩn bị tinh thần cho MH cho nên các bên thỏa thuận sẽ giữ kín thông tin về việc vận động cho dân biểu Heinrich vào thăm MH trong tù. 
Ban đầu chính quyềnViệt Nam không chấp nhận cho dân biểu Heinrich vào thăm nhưng lại đổi ý vào phút cuối. Tôi nghĩ phía Đức đã vận động khá mạnh vì MH có đến 2 người bảo trợ là dân biểu Sabine Bätzing-Lichtenthäler (SPD) và dân biểu Michael Brand (CDU, Chủ tịch Uỷ ban Nhân quyền Quốc hội Đức). Tất cả 4 khối đảng trong Quốc hội Đức và Đặc ủy Nhân quyền của chính phủ Đức đã có can thiệp cho MH. 
VETO! rất vui mừng khi thấy MH được trả tự do trước thời hạn và vô điều kiện. MH là một trường hợp rất nổi. Ngoài Đức cô còn được chính giới và các tổ chức ở các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Canada, Úc can thiệp mạnh mẽ. Cho nên việc cô được tự do là kết quả của sự hợp lực của tất cả mọi người, tổ chức và chính phủ để mở tung cánh cửa cơ hội. 
Ngày 24.04.2014 nghị sĩ Frank Heinrich 
vào nhà tù Thanh Xuân ở Hà Nội để thăm Đỗ Thị Minh Hạnh. 
Hai tháng sau Minh Hạnh được phóng thích vô điều kiện. 
Tác giả: Tại Việt Nam có nhiều tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, Người Bảo Vệ Nhân Quyền bị giam giữ trong tù, nhưng tại sao tổ chức VETO! lại "chọn" trường hợp cô Minh Hạnh để nỗ lực vận động chính giới Đức? 
VQ Dụng: VETO! đấu tranh cho tất cả các Người Bảo vệ Nhân quyền đang bị giam giữ tại Việt Nam bằng cách vận động chính giới và dư luận bên ngoài quan tâm đến họ. Tùy hoàn cảnh của từng người mà chúng tôi tìm cách vận động thích hợp. Đối với trường hợp MH chúng tôi nêu bật các yếu tố: người hoạt động cho quyền công nhân, bị kết án độc đoán, bị ngược đãi trong tù, bị giam xa nhà cả ngàn cây số, bị bệnh không được chữa trị. Trường hợp vận động cho MH ở Đức có yếu tố thuận lợi là mẹ MH đang ở ngoài Việt Nam. Bà nói về con gái bà thì người ta tin hơn. Khi tập trung cho MH không bao giờ chúng tôi quên những người tù chính trị khác mà mong rằng các đối tác hiểu cô như một trường hợp tiêu biểu cho nhiều trường hợp khác. Qua cô người ta dễ hiểu trường hợp của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương, trường hợp các người tù nhân nữ, các tù nhân bị giam xa nhà, không được trị bệnh... 
MH không phải là trường hợp duy nhất mà VETO! đã can thiệp thành công. Trong thời gian qua VETO! cũng góp sức vận động cho Mai Thị Dung, Cù Huy Hà Vũ... và nhiều trường hợp được trả tự do trước thời hạn khác. 
Tác giả: Hiện nay tổ chức VETO! đang vận động chính giới Đức cho những trường hợp nào, người nào? 
VQ Dụng: Như đã nói VETO! thường xuyên cập nhật danh sách tù nhân chính trị Việt Nam để trao cho các cơ chế quốc tế hay chính phủ. Có khi chúng tôi trao một danh sách dài trên một trăm tên tuổi, khi thì chúng tôi chọn một danh sách theo một tiêu chuẩn nào đó mà chúng tôi đề nghị phía đối tác can thiệp cho hữu hiệu. Khi đối tác đang quan tâm đến vấn đề tự do tôn giáo thì chúng tôi trao cho họ các trường hợp bị tù vì lý do tôn giáo. Khi nói đến vấn đề nhân đạo thì chúng tôi sẽ lọc ra danh sách của những người già và người ốm. Khi muốn đặt vấn đề giam giữ khắc nghiệt thì chúng tôi lại chọn những người bị giam xa nhà, bị tra tấn, hành hạ, cùm chân. Ngoài ra chúng tôi có một số trường hợp nổi bật mà chúng tôi vận động công luận, thí dụ như Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Trần Huỳnh Duy Thức... 
VETO! quan niệm rằng khi một người đã vào tù thì một tổ chức nhân quyền khó mà làm gì nhiều cho họ nữa. Việc đòi trả tự do cho họ sẽ tốn rất nhiều công sức, chưa kể đến những thiệt hại mà họ đã phải chịu đựng và những đau khổ khi họ phải chấp nhận một trao đổi, chẳng hạn trong việc phải đi ra nước ngoài. Cho nên VETO! chú trọng đến công tác để bảo vệ cho họ không bị bắt và đấu tranh chấm dứt cảnh bắt giữ trái phép, hành hạ người tù chính trị. 
Tác giả: Xin cảm ơn ông Vũ Quốc Dụng - Giám đốc điều hành Mạng lưới Bảo vệ Nhân quyền VETO! 

Kỷ nguyên nhân quyền đã đến

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trần Quang Thành (Danlambao) - Nhân ngày kỷ niệm lần thứ 67 bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập, nhà báo Trần Quang Thành đã có cuộc trò chuyện sau đây với ông Nguyễn Gia Kiểng, ủy viên thường trực ban lãnh đạo Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, về ý nghĩa của biến cố quan trọng này trong lịch sử thế giới. Đây cũng là dịp để hiểu rõ hơn khái niệm nhân quyền và liên hệ của nó với dân chủ, đồng thời cố gắng nhận định xem thế giới, và nhất là Việt Nam, đang ở đâu trong cuộc hành trình về tự do.
Nội dung như sau - Mời quí vị cùng nghe:

Trần Quang Thành: Xin chào ông Nguyễn Gia Kiểng.
Nguyễn Gia Kiểng: Xin chào ông Trần Quang Thành.
TQT: Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng, cách đây 67 năm, vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, tai Paris – Thủ đô Pháp Quốc – Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã ra đời. Theo ông Nguyễn Gia Kiểng sau 67 năm bản Tuyên ngôn đã được thực thi như thế nào ạ?
NGK: Trước hết tôi nghĩ thế giới đã tiến một bước rất xa về nhân quyền. Vào giờ này chúng ta có thể lạc quan. Mặc dầu chúng ta có thể chưa thể hài lòng bởi vì quyền con người vẫn chưa được trọn vẹn tôn trọng, nhưng nếu so sánh với 67 năm về trước thì chúng ta đã tiến một bước rất xa.
Phải nói là bản Tuyên ngôn này dã ra đời trong một hoàn cảnh rất khó khăn. Chúng ta cần nhắc lại hoàn cảnh ra đời của nó. Đó là nó không được dự trù là sẽ có.

Khi Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai sắp kết thúc vào mùa Xuân 1945, một số quốc gia đã họp lại tại San Francisco (Mỹ) để dự định thành lập một tổ chức mới thay cho Hội Quốc Liên đã tỏ ra bất lực trong việc phòng ngừa Thế Chiến II xảy ra. Mục tiêu của họ là thành lập một tổ chức - mà sau này chúng ta được biết là Liên Hợp Quốc - với mục đích chính là ngăn ngừa một cuộc thế chiến mới.

Trong khi nghiên cứu soạn thảo bản hiến chương Liên Hợp Quốc có một số trí thức tập trung trong các tổ chức NGO, tức là các tổ chức phi chính phủ, được mời tới vì uy tín cá nhân hay tổ chức của họ để làm tham vấn trong việc soạn thảo hiến chương cho Liên Hợp Quốc. Những vị này trong khi thảo luận đã nhận ra một điều là nguyên nhân đã đưa đến hai cuộc thế chiến - thế chiến thứ nhất và thế chiến thứ hai - là ở chỗ người ta đã quá đề cao vai trò của quốc gia; hầu như người ta chỉ biết đến các quốc gia thôi mà không biết tới một yếu tố cốt lõi là con người. Bởi vậy họ đi đến kết luận là lần này muốn tránh một thảm kịch mới cho thế giới thì phải đặt con người là trung tâm của mọi ưu tiên chính trị. Nói một cách khác phải đề cao một luồng tư tưởng chính trị đã có từ thế kỷ 16, 17 nhưng luôn luôn bị chèn ép nên không phát triển được. Đó là chủ nghĩa cá nhân theo đó cá nhân mới là đối tượng phục vụ chính; nhà nước chỉ là một phương tiện bảo đảm cho cá nhân phát huy khả năng của mình và đóng góp vào xây dựng xã hội. Vì nhận định như vậy nên họ đã cố gắng đưa ngay vào Lời Nói Đầu của Hiến chương Liên Hợp Quốc là phải tôn trọng các quyền căn bản của con người trước khi nói tới sự liên hệ giữa các quốc gia với nhau. Dần dần họ đã thuyết phục được một phần dư luận.

Lúc ban đầu các quốc gia cũng không quan tâm lắm đến quyền con người. Lúc đó giá trị quan trọng nhất vẫn là quốc gia, là tổ quốc hay là giai cấp mà thôi. Ngay cả sự kiện bản tuyên ngôn này được ra đời cũng là kỳ công của một số trí thức. Phải nhớ lúc đó là đầu năm 1945, họ phải chờ đợi đến cuối năm 1948, nghĩa là hơn 3 năm rưỡi sau, mới hoàn tất được bản tuyên ngôn. Bản tuyên ngôn này dù vậy chỉ có giá trị nguyên tắc thôi. Nó còn cần được bổ túc bằng những điều khoản cụ thể trong hai công ước sau này được gọi là Công ước về các quyền dân sự và chính trị và Công ước về quyền kinh tế xã hội và văn hóa. Để soạn thảo hai công ước này đã phải mất thêm 18 năm nữa. Cho tới năm 1966 mới hoàn tất xong. Tuy hoàn tất xong, những các quốc gia quan trọng nhất, hai siêu cường lúc đó là Liên Xô và Mỹ, không đồng ý. Mỹ thì biểu quyết bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập nhưng mãi đến năm 1977 mới ký hai công ước. Còn Liên Xô thì vắng mặt trong khi biểu quyết bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập và đến khi sụp đổ vẫn không ký thông qua hai công ước về quyền con người. Hoàn cảnh khó khăn như thế nhưng ý niệm nhân quyền càng ngày càng lớn lên. Đến năm 1976, khi nhiều nước đã ký vào hai công ước về quyền con người, ba tài liệu Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập và hai công ước đính kèm được coi là luật quốc tế và từ nay có gia trị của công pháp quốc tế. Phải nói là chúng ta đã tiến một bước dài. 
Liên Hợp Quốc ra đời như là một định chế để ngăn cản một cuộc thế chiến mới, để ngăn cản chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản không biến thành thế chiến nóng. Bây giờ chiến tranh lạnh không còn là một nguy cơ nữa Liên Hợp Quốc bắt đầu có một vài trò mới là thăng tiến nhân quyền. Cho nên chúng ta thấy có một định chế mới là Rà Soát Phổ Cập Định Kỳ UPR như kỳ kiểm điểm tông quát năm 2014 ở Genève. Đây là một tiến bộ. Năm 2014 cuộc kiểm điểm phổ quát định kỳ trong đó Việt Nam phải trả lời, phải đưa báo cáo về nhân quyền. Cho tới ngày hôm nay khái niệm về nhân quyền là một khái niệm được nhìn nhận và được sự tôn trọng của mọi người, kể cả những người không thực hiện nó như các chế độ độc tài. Các chế độ này không còn dám phủ nhận nhân quyền như trước nữa. Họ chỉ có biện luận một cách lúng túng để trì hoãn việc thực thi nhân quyền mà thôi.
Phải nói về mặt tư tưởng đã có một thắng lợi lớn. Và ngay cả về mặt thực tế thì nhân quyền cũng đã trở thảnh ưu tư hàng đầu và trở thành áp lực đối với các chính quyền độc tài còn lại. Như vậy chúng ta nhìn nhận tiến bộ rất là lớn.
Nhưng bên cạnh những tiến bộ lớn cũng phải cảnh giác vì cũng có nguy cơ, đặc biệt đối với người Việt Nam, bởi vì khi nhân quyền đã trở thành giá trị phổ cập, đã được nhìn nhận như một giá trị tự nhiên thì người ta không còn cảm thấy nhu cầu phải đào sâu để hiểu rõ hơn nữa, trong khi đó người Việt Nam chúng ta có khuyết điểm là rất thiếu sót về nhận thức chính trị. Nhưng chúng ta không thể bảo vệ một khái niệm khi chúng ta chưa hiểu rõ được, chúng ta sẽ hành động một cách thiếu thuyết phục và thiếu hiệu quả.
Tôi xin nêu một vài ngộ nhận lớn mà chúng ta chưa vượt qua được.
Thứ nhất là ngộ nhận cho rằng nhân quyền khác với dân chủ trong khi hai khái niệm này là một. Nhân quyền là một vấn đề chính trị chứ không phải là một vấn đề từ thiện như người ta nghĩ.
Điều thứ hai, cũng là một ngộ nhận rất lớn, là chúng ta nên sửa lại tên gọi bản "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền". Trước đây tôi nghĩ người ta đã quen gọi như vậy nên cũng đành phải chấp nhận, nhưng sau này tôi thấy nó sai quá đi, không những sai mà còn nghịch lý, còn ngược ngạo nữa, cho nên tôi thấy cần phải sửa lại. Tôi đề nghị từ nay trở đi chúng ta gọi một cách chính xác bản tuyên ngôn 10/12/1948, là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập chứ không phải là bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền nữa. "Quốc tế" và "phổ cập" là hai khái niệm khác nhau, thậm chí còn đối chọi với nhau nữa.
TQT: Ông vừa đề cập bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập này như là một văn kiện rất trong sáng, rất thuyết phục. Nhưng tại sao lúc đó Mỹ và Liên Xô là hai siêu cường kiên quyết chống lại?
NGK: Họ chống lại vì hai lý do khác hẳn nhau:
Chúng ta đều biết nước Mỹ từ ngày thành lập đã theo chủ nghĩa cá nhân; họ đã có dân chủ ngay từ ngày thành lập. Tôi xin nhấn mạnh là Hoa Kỳ từ ngày thành lập đến nay không biết một chế độ nào khác ngoài chế độ dân chủ. Cho nên Hoa Kỳ không cần dân chủ nữa vì họ đã có rồi và họ không muốn bị ràng buộc vào một thế giới cũ, thế giới mà họ nghĩ còn nhiều phức tạp và nhất là chưa có dân chủ. Họ không muốn ràng buộc với các nước vào một tuyên ngôn hay hiệp ước về dân chủ. Đó là lý do của Hoa Kỳ. Chúng ta nên nhớ là Hoa Kỳ chỉ ký nhận hai công ước nhân quyền năm 1977 sau khi Liên Hợp Quốc tuyên bố hai công ước này trở thành luật quốc tế. 
Lý do khiến Liên Xô chống lại hoàn toàn khác. Liên Xô chống dân chủ, chống lại chủ nghĩa cá nhân. Liên Xô không muốn bị phê phán trong vùng lãnh thổ thuộc quyền kiểm soát của mình. Lúc đó chúng ta đừng quên Churchill gọi biên giới của các nước cộng sản là bức màn sắt. Tức là họ không muốn ai can thiệp vào công việc nội bộ của họ. Họ muốn được quyền tự tung, tự tác trong biên giới của họ, họ coi biên giới như là qui định một vùng lộng hành tự do của họ. Vì thế họ không chấp nhận ký vào bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền cũng như hai công ước. Họ không muốn bị ràng buộc. Cho tới ngày sụp đổ họ vẫn không ký các văn kiện này.
Khó khăn do đâu mà có? Chúng ta hãy trở lại bối cảnh chính trị lúc đó. Trong dự án chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chúng tôi đã nhận định lịch sử thế giới như là cuộc hành trình của các dân tộc về dân chủ. Dân chủ không tiến tới một cách đều đặn vì bị chống đối rất là dữ dội của các thế lực cầm quyền thống trị. Cho nên có lúc tiến, có lúc lùi và tiến tới theo từng đợt mà chúng tôi gọi là những làn sóng dân chủ. Trong lịch sử nhân loại dã có những làn sóng dân chủ. Làn sóng dân chủ thứ nhất đến với cuộc cách mạng Hoa Kỳ và cuộc cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18. Làn sóng đó nhắm đánh đổ chủ nghĩa thần quyền và các chế độ quân chủ đặt trên nền tảng trên thần quyền.
Sau làm sóng dân chủ thứ nhất, các chế độ thần quyền bị đánh đổ, chủ nghĩa quốc gia trở thành thời thượng. Chủ nghĩa tập thể đó cho rằng quốc gia, tổ quốc là trên hết, con người chỉ là một thành phần và có thể bị hy sinh cho tập thể. Tập thể đó có thể là quốc gia trong trường hợp Quốc Xã Đức hay Quân Phiệt Nhật. Cũng có thể là một thế giới vô sản, có thể là một giai cấp theo quan niệm của chủ nghĩa cộng sản. Thế chiến thứ nhất đã xảy ra là vì chủ nghĩa quốc gia trở thành quá khích. Hồi đó người ta cho rằng các quốc gia xung đột với nhau, thanh toán lẫn nhau là lẽ tự nhiên vì quốc gia nào cũng đương nhiên phải mở rộng lãnh thổ và bành trướng thế lực của mình. Nó đã dẫn tới cuộc thế chiến thứ nhất. Và thế giới cũng chưa biết rút ra kết luận nguyên nhân sâu xa đó và đã để xảy ra Thế Chiến II. Chúng ta thấy có sự gần gũi giữa hai cuộc thế chiến. Thế Chiến I chấm dứt năm 1918 thì 21 năm sau vào năm 1939 Thế Chiến II bắt đầu. Khi họp lại và thảo luận người ta mới khám phá ra điều này, và cũng không phải không phải là các quốc gia khám phá ra mà một số trí thức. Họ khám phá ra rằng nguyên nhân sâu sa là vì tư tưởng chính trị của nhân loại đã dành cho quốc gia một vị trí quá lớn và đã dành cho cá nhân một chỗ đứng quá nhỏ. Bởi vì thế cần phải tuyên bố long trọng những quyền con người. 
Đến đây chúng ta phải nhắc lại công ơn của một thiểu số trí thức này. Chính những cố gắng bền bỉ và thuyết phục của họ đã đem lại cho nhân loại nền văn minh mới ngày hôm nay.
TQT: Ông Nguyễn Gia Kiểng vừa nói chúng ta cần phải gọi chính xác văn kiên ngày 10/12/1948 là Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập chứ không nên gọi là bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Tại sao phải gọi cho chính xác như vậy thưa ông?
NGK: Phổ cập và quốc tế là khái niệm khác nhau. Sự lẫn lộn đưa tới hậu quả là một sai lầm không thể chấp nhận được. Khi nói Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền người ta coi nhân quyền là vấn đề giữa các quốc gia với nhau. Điều đó rất là sai. Vì nhân quyền là các quyền cá nhân. Chúng ta hãy đọc lại bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập. Không bao giờ họ đề cập đến quyền của các nhà nước. Họ chỉ đề cập quyền của các cá nhân mà thôi. Và vấn đề nhân quyền là một vấn đề phổ cập, nghĩa là một vấn đề mà mọi người, mọi định chế, mọi quốc gia phải tôn trọng ở mọi nơi, mọi lúc chứ không phải là một vấn đề trong bang giao giữa các quốc gia. Khi chúng ta nói bản "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" vô hình chung chúng ta coi nhân quyền là vấn đề giao thiệp giữa các nước và như vậy mỗi nước có thể giải thích quyền con người một cách tùy tiện theo sở thích của mình. Điều đó tai hại.
Tôi cho rằng nguyên nhân là trí thức Việt Nam không đầu tư nhiều vào tư tưởng chính trị cho nên chúng ta đã dịch Universal thành ra "quốc tế" nhưng Universal không bao giờ là "quốc tế" cả, nó có nghĩa là "phổ cập" nghĩa là đúng mọi nơi mọi lúc. Dịch cái gọi là The Universal Declaration of Human Rights hay Déclaration Universelle des Droits de l'homme thành "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" là sai. Phải dịch là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập, nghĩa là các quyền con người phải được hiểu như nhau và tôn trọng ở mọi nơi, mọi lúc chứ không phải là chuyện giữa các quốc gia với nhau. Các quốc gia không được tự tiện giải thích nhân quyền theo ý của mình. Tôi nghĩ gọi tên là "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" không chỉ là một sai lầm mà là một sai lầm nguy hiểm. Nhân cuộc nói chuyện này tôi đề nghị một lần cho tất cả chúng ta đổi lại cho đúng tên của nó, chúng ta gọi một cách chính xác là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập.
TQT: Chúng ta nói về quyền con người vậy phải nói đến con người. Hiện nay định nghĩa con người là thế nào trong triết lý chính trị để đưa ra những tiêu chuẩn về quyền con người. Ông nghĩ sao?
NGK: Vẫn đề này hết sức phức tạp. Những tư tưởng về con người đã xuất hiện từ thời Phục Hưng nghĩa là từ thế kỷ 16 trở đi, nhưng nó luôn bị các thế lực thống trị, trước là các vua chúa và sau đó là các chính quyền phủ nhận. Bởi vì định nghĩa con người đó không đơn giản. Ngay cả nhiều triết gia nổi tiếng cũng không đồng ý lúc ban đầu. Người ta định nghĩa một con người rất trừu tượng. Nó không phải là bất cứ ai mà là một phần chung hiện diện trong tất cả mọi người. Nó rất trừu tượng nhưng nó lại hiện diện một cách rất cụ thể trong tất cả mọi người. Đó là một lập luận đúng về mặt triết lý nhưng rất khó hiểu đối với người bình thường. Nói chung nó dựa trên một niềm tin rằng mọi con người đều có những cấu tạo giống nhau, có những ưu tư, dằn vặt, những khả năng bẩm sinh như nhau và đều chia sẻ với nhau một số nguyện vọng và một số giá trị nền tảng. Như vây giữa các con người nó có một cái gì chung. Cái gì chung đó người ta gọi là con người phổ cập. Nó không là ai cả, nhưng nó là tất cả mọi người. Đồng thời chủ nghĩa cá nhân khi đưa ra con người này thì cũng nhận định con người này mới là đối tượng phục vụ cao nhất; các nhà nước, các chính quyền có sứ mạng phục vụ con người này chứ không được quyền đàn áp con người này. Có thể nói việc khám phá ra con người chung, con người phổ cập, này như vậy là một khám phá rất lớn. Về mặt tư tưởng ngay cả các nhà tư tưởng lớn như Socrates, Plato, Aristottle cũng không nghĩ tới. Đó là một khám phá về sau này. Có thể nói về mặt tư tưởng khám phá lớn nhất của con người đã là khám phá ra chính mình. Ngay cả những triết gia lớn như Edmund Burke và Joseph de Maistre, hai triết gia có uy tín trong thế kỷ 18 và 19, cũng không hiểu con người trừu tượng làm sao có thể có. Đối với họ chỉ có những con người chỉ là thành viên của một đất nước, chỉ có người Pháp, Đức, người Việt Nam. Một trong những người phản bác sự hiện hữu của con người phổ cập này là Karl Marx, ông cho rằng con người định nghĩa như vậy là một con người tách khỏi xã hội, là con người vị kỷ, không sống vì xã hội. Đối với Marx con người là thành phần của một giai cấp và phải đấu tranh cho giai cấp của mình. Chính vì những khó khắn đó mà khái niệm về con người phổ cập -nền tảng cho chủ nghĩa cá nhân- và chủ nghĩa cá nhân - đến lượt nó nền tảng cho dân chủ - vẫn chưa phát triển được cho đến khi có hai sự kiện trùng hợp.
Sự kiện thứ nhất là các khảo cứu về sinh vật học đều xác nhận mọi con người có những DNA như nhau, đều có khả năng như nhau.
Hai là các nước dân chủ, đặt nền tảng trên chủ nghĩa cá nhân đã thành công hơn hẳn các nước độc tài, nhất là độc tài cộng sản, và chứng tỏ con người cần phải được tôn trọng để có thể phát huy hết khả năng của mình và khi phát huy được khả năng của mình thì đồng thời họ cũng đóng góp tạo ra một xã hôi giàu mạnh. Đó là lý do khiến sau sự sụp đổ của bức tường Berlin, của chủ nghĩa cộng sản, không còn ai chối cãi được quyền con người, và sự cần thiết phải tôn trọng con người. Và gián tiếp họ công nhận quyền con người phổ cập cần phải được kính trọng hiện diện trong mọi con người.
TQT: Vậy những quyền của con người phổ cập là những quyền nào thưa ông?
NGK: Đó là những điều đã được qui định trong hai bản công ước đính kèm với Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập. 
Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập đề ra nguyên tắc đề cao con người. Một đặc điểm là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập đó không hề nói vai trò của các quốc gia. Nó chỉ đề cao con người thôi chứ các chính quyền không hề được dành cho một quyền nào mà chỉ được giao trách nhiệm phục vụ con người thôi. Tuy vậy nó chỉ nói chung chung trên nguyên tắc về phẩm giá con người và sự bắt buộc phải tôn trọng con người; những quyền con người cụ thể được qui định cụ thể trong hai công ước đính kèm.
Trong hai công ước này họ chia ra những quyền dân sự và chính trị, hay là quyền sống hàng ngày, quyền sinh hoạt trong xã hội, rồi loại quyền thứ hai là những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Nhiều quyền lắm. Có đến mấy chục quyền.
Tuy nhiên về phương diện triết học chúng ta có thể chấp nhận sự phân biệt của Isaiah Berlin một triết gia lớn nghiên cứu về các quyền tự do. Ông ấy chia ra hai loại quyền. Thứ nhất là những quyền không bị và thứ hai là những quyền được có.
Những quyền không bị là những quyền căn bản tối thiểu không bị xúc phạm trong bất cứ trường hợp nào. Thí dụ như không bị xúc phạm đến cơ thể; không bị xúc phạm trong đời sống gia đình; không bị xúc phạm tài sản; không bị cấm đoán suy nghĩ và phát biểu một cách tự do lập trường của mình; không bị cấm đoán bầu cử và ứng cử; không bị kỳ thị về chủng tộc, về màu da, về tôn giáo hay về chính kiến. Những quyền này qui định trong một không gian cá nhân mà tất cà mọi người, kể cả nhà nước, không được xâm phạm. Đây là những quyền rất căn bản.
Còn những quyền được có là những quyền cá nhân có thể đòi hỏi cộng đồng, thí dụ nhà nước, phải cung cấp cho mình và nhà nước hay cộng đồng phải cung cấp trong khả năng có thể. Nước giàu thì trợ cấp xã hội nhiều, nước nghèo thị trợ cấp xã hội ít, nhưng không được quyền bỏ rơi những người yếu kém. Những quyền được có này chúng ta thường hiểu một cách cụ thể như là mức sống và thực phẩm ở mức độ chấp nhận được, được bảo vệ sức khỏe, được có nhà ở, được có công ăn việc làm, giáo dục miễn phí, được trợ cấp sinh đẻ và nuôi con v.v…
Những quyền này được ghi trong hai công ước đính kèm Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập. Điều chúng ta cần nói là hai loại quyền này đã từng bị đem ra đối chọi với nhau, phủ nhận lẫn nhau thay vì bổ túc cho nhau như đáng lẽ phải thế. Thí dụ như phong trào cộng sản và các chế độ cộng sản hứa hẹn một tương lai rất huy hoàng, một thiên đường ở hạ giới trong đó mỗi người làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu, mọi người đều sung túc và có của cải gần như ngang hàng với nhau. Đó là những quyền được có và họ nhân danh những quyền được có mà họ chỉ hứa hẹn nhưng không bao giờ thực hiện để phủ nhận những quyền căn bản. Họ cấm đoán bầu cử tự do; người dân không được đi lại tự do ; không được phát biểu ý kiến; không được kết hợp với nhau thành những hội đoàn hay đảng phái.
Tới đây cũng phải nhấn mạnh một điều: nhân quyền và dân chủ chỉ là một. Rất nhiều người đấu tranh cho dân chủ nhưng lại không chịu bỏ thì giờ tìm hiểu thế nào là một chế độ dân chủ. Đây là dịp để chúng ta nhắc lại một cách cụ thể và chính xác rằng một chế độ được coi là dân chủ nếu có ít nhất ba quyền sau đây:
- Thứ nhất là quyền tự do ngôn luận và báo chí.
- Thứ hai là quyền tự do kết hợp, nghĩa là tự do thành lập và tham gia các tổ chức nghề nghiệp cũng như các tổ chức chính trị, hay các cộng đồng tôn giáo.
- Thứ ba là quyền tự do bầu cử và ứng cử. Tức là được quyền tham gia ứng cử các chức vụ công cử cũng như được quyền chọn lựa người đại diện của mình trong các chức vụ công cử.
Cả ba quyền này được định nghĩa trong Công Ước Về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị. 
Hai điều 18 và 19 qui định quyền tự do tư tưởng, ngôn luận và báo chí,
Điều 22 qui định tự do kết hợp. 
Điều 25 qui định quyền tự do bầu cử và ứng cử.
Bạn nào có thời giờ đọc lại bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập sẽ thấy trong những điều tôi vừa nói trên đây, những điều qui định những quyền tự do căn bản, đều có một câu giống hệt nhau. Câu đó viết như thế này: "Không thể có một hạn chế nào cho quyền này, trừ những hạn chế do luật pháp qui định và cần thiết trong khuôn khổ của một nhà nước dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe của công chúng và tự do của người khác."
Nghĩa là quyền này được qui định một cách rõ rệt trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập và hai công ước đính kèm. Chúng qui định rất rõ ràng ba quyền được dùng để định nghĩa về một chế độ dân chủ. Thế thì dân chủ và nhân quyền chỉ là một thôi. Dân chủ là nhân quyền trên qui mô quốc gia. Nhân quyền là dân chủ trên qui mô cá nhân.
Một số bạn mà tôi gặp thường nói: "tôi chỉ hoạt động nhân quyền thôi chứ tôi không muốn tham gia hoạt động chính trị". Nói như vậy là sai. Vấn đề nhân quyền trước hết là một cuộc đấu tranh chính trị cam go theo định nghĩa chính xác của nó. Nhân quyền và dân chủ chỉ là một. Chỉ khác nhau trên qui mô áp dụng mà thôi.
TQT: Ông vừa đề cập đến các quyền của con người. Vậy cơ chế nào bắt buộc mọi người, mọi quốc gia, mọi định chế phải thực thi một cách đúng đắn nhất những quyền mà người dân được hưởng như vậy?
NGK: Tôi thấy chúng ta cần phải nhắc lại một lần nữa khái niệm chính đáng vì đó luôn luôn là cốt lõi của mọi luật pháp. 
Một luật pháp cần phải có hai yếu tố thì mới là luật pháp:
Trước hết nó phải đúng. Bơi vì, như Socrates đã nói, luật không đúng không phải là luật. Nhưng đúng chưa đủ, luật còn phải được ban hành bởi một định chế có thẩm quyền.

Câu hỏi về tính chính đáng cũng đặt ra cho Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập và hai công ước đính kèm khi chúng ta đã gọi nó là luật quốc tế như bây giờ. Câu hỏi đặt ra là người tuyên bố quyền đó có thẩm quyền hay không? 
Cho tới ít nhất là đến thế kỷ 18 các tôn giáo đã đóng vai trò quyền lập pháp trong các chế độ quân chủ. Mười điều giáo lệnh là bộ luật dân sự đầu tiên mà Moses nói là ông đã lên núi Sinai và được Thượng Đế ban cho mang về. Và bởi vì Thượng đế là cao nhất, là tối thượng nên mọi người phải nghe theo. Thượng Đế đã nói, và như thế là đã có sự chính đáng Cho đến thế kỷ 18 sự chính đáng thuần túy dựa trên Thượng Đế. Và các tôn giáo đóng vai trò lập pháp trong xã hội. Cho đến ngày hôm nay hiến pháp của Hoa Kỳ vẫn nói Thượng Đế sinh ra con người bình đẳng với nhau và vì thế phải có quyền ngang nhau.
Cuộc cách mạng Pháp 1789 là cuộc cách mạng chống chế độ quân chủ, nhưng đồng thời cũng là cuộc cách mạng ít nhiều chống lại Thiên Chúa Giáo. Nó phủ nhận vai trò tối cao của Thượng đế, phủ nhận sự tuân lệnh Thượng đế. Vì thế trong bản tuyên ngôn được gọi là "Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền" họ nói là các đại biểu của nhân dân Pháp họp thành đại hội với nhau và quyết định như vậy. Họ cho rằng các đại biểu của nhân dân có quyền quyết định. Thế nhưng như vậy có ít nhất hai giới hạn: 
- Thứ nhất là nếu đại hội này có thể quyết định như vậy thì đại hội khác cũng có thể quyết định khác đi
- Thứ hai là nếu một đại hội nhân dân Pháp đã chấp nhận bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền thì một dân tộc khác như dân tộc Việt Nam, dân tộc Congo, dân tộc Bỉ cũng có thể có một bản tuyên ngôn khác, và như vậy không có giá trị phổ cập.
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập mà chúng ta đang kỷ niệm lúc này - Bản Tuyên ngôn đã được ký kết đêm hôm 10/12/1948 - lấy sự chính đáng dựa trên đại diện của các dân tộc, của cộng đồng các quốc gia đại diện cho toàn thể nhân loại để khẳng định các quyền cơ bản của con người. Tức là đông đảo các quốc gia tự nhận là đại diện của nhân loại - nếu không phải là tất cả nhân loại thì cũng là phần lớn của nhân loại- lấy quyền nhân danh nhân loại để ban hành các quyền cho cá nhân. Đó là nền tảng chính đáng. Có lẽ cũng vì thế bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập có một sự chính đáng mà không ai có thể phủ nhận.
Sự chính đáng của bản Tuyên Ngôn Nhân quyền phổ cập là do các đại biểu của cộng đồng các quốc gia đại diện cho toàn thể nhân loại tuyên bố nên nền tảng chính đáng của nó có lẽ là rộng nhất và phù hợp nhất trong lúc này.
TQT: Xin cảm ơn ông Nguyễn Gia Kiểng.
NGK: Xin cảm ơn ông Trần Quang Thành.

8/12/15

Dân oan 3 miền Bắc-Trung-Nam biểu tình đòi công lý sang ngày thứ năm

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trần Quang Thành (Danlambao) - Ngày 8/12/2015, nhiều dân oan từ 3 miền Bắc-Trung-Nam đã biểu tình sang ngày thứ năm trước trụ sở tiếp dân của đảng cộng sản và Nhà nước ở số 1 Ngô Thì Nhậm, quận Hà Đông, Hà Nội để đòi công lý.
Bà con đã mang theo các biểu ngữ “Đảng Cộng sản còn chế độ công an trị, người dân còn mất quyền làm người”, “Trả lại quyền tư hữu đất đai cho người dân” và các tấm bảng lớn tố cáo các quan chức cộng sản tham nhũng, cướp đoạt ruộng đất, tài sản của người dân; đả đảo công an tra tấn, bức cung người dân vô tội; yêu cầu trả tự do cho Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh, Hồ Duy Hải, những tử tù bị kết án oan sai.
Sau đây là một số hình ảnh cuộc biểu tình do chị Trương Thanh Quang, dân oan tỉnh Tiền Giang ghi lại.



Trần Quang Thành
danlambaovn.blogspot.com

Tranh luận

Năm XL (Danlambao) - Vừa mới đạp mấy cuốc xích lô mệt muốn đứt hơi, uống ly trà đá rồi vô Thôn coi có tin và bài nào mới tập đánh vần cho đỡ ghiền. Lướt qua các tựa và tác giả, Năm XL không thể tưởng tượng bài ĐMHCM... của anh Người Đưa Tin (NĐT) có trên 1200 "còm". Dĩ nhiên bài của NĐT rất được bà con trong Thôn yêu chuộng nhưng trên 1200 "còm" thì phải nói là kinh khủng. Năm XL nghĩ chắc NĐT ĐMHCM nên các còm sỹ mới hăng say viết lời bình, theo chị Hải Ý là bom tấn.
Về nội dung của bài viết thì già Hồ nếu được bật dậy sẽ rượt hoặc lạy NĐT vì làm bể mánh hết trơn. Tuy nhiên, ở phần bình luận thì Năm XL tá hỏa tam tinh khi đọc lời bình của một số còm sỹ. Xin phép Dân Làm Báo cho XL được tâm tình đôi chút với quý chú cô bác, anh chị và các bạn trong Thôn với tinh thần xây dựng; mong quý chú cô bác đừng nghĩ là Năm XL trịch thượng. Xin cám ơn sự thông cảm và độ lượng của quý bạn.
Năm XL tưởng mình đang lạc giữa trận địa chiến, pháo kích tứ phía, bom nổ tơi bời, dân tình hoảng loạn. Trời đất, đọc khoảng 100 còm đầu... hổng có một còm nào liên quan chút xíu nào đến bài chủ, ráng đọc xuống nữa và dưới nữa. Chạy đi rửa mặt coi, bộ mệt rồi đọc lộn bài hay máy có virus sao trời? Ủa đúng là ĐMHCM mờ, hơn 1200 còm đọc mệt xỉu, bắt/nhấn chuột chạy rụng đuôi mới biết là... phe ta đánh lạc/trúng phe mình. Người ngấn lệ đòi "giả từ vũ khí", kẻ xung phong châm thuốc bồi, đôi bạn nài nỉ khuyên can,... hỉ nộ ái ố đầy đủ. Thu dọn "chiến trường", phe ta tả tơi, phe mình thương tích, tưởng đang coi lại khủng bố Paris, phe địch (DLV) ngồi rung đùi vì lâu lâu được "tọa sơn quan hổ đấu". Năm XL coi ốm vậy chớ yếu lắm nên sợ ra gió, loạng quạng miểng văng, thôi đành ngậm ngùi rút dù cho an toàn.
Tranh luận là điều cần thiết cho tư tưởng Dân chủ nhưng đôi khi chúng ta đi quá xa rồi quên mất tôn trọng người đang cùng ta trao đổi (gần Chùa kêu Phật bằng anh) và có người nóng giận quơ được cái nón cối của chú bộ đội nào lang thang trên mạng đem tặng luôn cho nhau. Chẳng lẽ nón cối đang là mốt thời thượng, không tốn tiền mua nên cứ cho không biếu không? Người "được" tặng hổng chịu nhận, người "thích" tặng cứ ịn vô đầu thế là phải vô thẩm mỹ viện phẫu thuật may ra mới lấy nón cối ra được. Chúng ta nghĩ đây chỉ là ảo nhưng thực sự với lương tâm và trách nhiệm thì nick của ai đó vẫn muốn nói/viết lên suy tư của mình với đất nước, đúng tinh thần TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM, khác với loài cs chỉ biết lo cho bộ lông của chúng như loài thú. Trong tranh luận nên và phải tôn trọng nhau.
Chúng ta chê cs là độc tài gian ác nên chúng ta cố gắng tranh đấu không mệt mỏi vì một đất nước Việt Nam Tự Do - Dân Chủ thì lẽ dĩ nhiên chính chúng ta phải có tinh thần dân chủ hơn ai hết. Vậy nguyên tắc dân chủ là gì, XL nghĩ là tất cả đều hiểu. Chúng ta hãy bình tĩnh, lắng đọng tâm hồn đôi phút để cùng suy tư và sẽ tự hiểu mình phải làm gì cho xứng đáng với tiền nhân đã có công dựng và giữ nước. Nếu chúng ta tự hào với quá khứ thì phải làm sao cho đúng với niềm tự hào chớ không thể nói tôi đã từng và cũng chẳng chứng minh được điều gì khi hiện nay chưa làm gì cho Tổ quốc. Trong hàng ngũ đấu tranh/quan tâm có nhiều lứa tuổi, vị trí xã hội, xuất thân, trình độ văn hóa,... từ đó có những cách diễn đạt hoặc suy tư khác nhau, điều đó không đồng nghĩa là tôi hơn anh, giỏi hơn anh hoặc sáng suốt hơn anh vì có học thức hoặc địa vị cao hơn. Bổn phận và trách nhiệm trước đất nước ai cũng như nhau. "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau" là sự nhắc nhở của tổ tiên, chúng ta hãy cố gắng đừng làm mẹ Việt Nam mãi đau lòng. Khi cộng thù còn đó thì chúng ta hãy gạt bỏ những bất đồng không đáng có trong anh chị em, đồng lòng đánh đuổi loài cộng nô ra khỏi đất nước. Trong đấu tranh hãy biết thương yêu và thông cảm cho nhau.
Như đã nói ở trên, tranh luận là cần thiết vì từ tranh luận mới tìm ra những ưu điểm để phát huy và hạn chế mặt tiêu cực, do đó chúng ta tranh luận chớ không cãi lộn. Có lần XL cũng tranh luận gay gắt với một còm sỹ nhưng sau đó lại thân nhau hơn các còm sỹ khác vì đánh giá đúng vấn đề. Chúng ta đấu tranh cho chúng ta hay vì đất nước? Có lẽ một hoặc cả hai. Rất nhiều quý bạn trong Thôn có cuộc sống xa Việt Nam, ổn định trên đất nước Tự do - Dân chủ nhưng mãi đau đáu nhìn/quan tâm về quê hương đất nước. Điều đó nói lên nỗi niềm gì? Chẳng ai ép bức các bạn, chẳng có quyền lợi vật chất nào khi bạn đi đấu tranh. Nếu có thì đó là tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc thôi thúc các bạn và quyền lợi thiêng liêng của máu đỏ da vàng cho con cháu và đất nước mai sau. Nếu chúng ta vì đất nước thì sẽ nhẹ nhàng coi thường cái "tôi" của mình để hòa mình vào giòng chảy, quét trôi rác rưởi cs.
Trong chúng ta có người thắc mắc là tại sao cs nhìn đâu cũng thấy kẻ thù? Câu trả lời quá đơn giản "tại vì cs là lũ bán nước cầu vinh, đem đất nước dâng hiến cho giặc và còn xây lăng bắt dân thờ giặc ở Ba đình nên sợ dân lật đổ" phải không bạn? Có lẽ "bịnh" của cs dễ truyền nhiễm nên một số anh chị em chúng ta cũng mắc bịnh nhìn đâu cũng thấy Việt cộng? Chúng ta hãy khoan dung độ lượng với nhau sẽ thấy đời sẽ đẹp hơn và ngày Tự Do = Dân Chủ trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ đến sớm hơn. Mong lắm thay!
09.12.2015

Chưa trả nợ, không được chết!

Nguyễn Văn Tuấn - Bà có một cái tên rất ư là hiền lành: Nguyễn Thị Lê. Bà quê ở xã Hương Phong, Hiệp Hoà, Bắc Giang. Bà là người bị tàn tật hồi còn nhỏ, và thuộc hộ nghèo. Bà mới qua đời vào đầu tháng 11 năm nay. Nhưng chính quyền địa phương… không cho bà chết. Họ không chịu làm giấy chứng tử cho bà.
Lí do chính quyền địa phương không kí giấy chứng tử là vì bà còn nợ (1). Số tiền nợ là 1.7 triệu đồng (tức khoảng 85 USD). Bà nợ thuế đất nông nghiệp, nợ tiền đóng góp an ninh quốc phòng, nợ tiền ủng hộ đồng bào lũ lụt, quĩ bảo trợ trẻ em, nợ quĩ đền ơn đáp nghĩa, nợ quĩ khuyến học, nợ quĩ hội xuân, v.v. Nên nhớ là bà Lê thuộc diện hộ nghèo của xã, nên bà lấy tiền đâu mà đóng cho mấy cái quĩ đó.
Nhưng chính quyền địa phương thì cứ như là cái máy. Họ nhất định không cho phát loa thông báo cái chết của bà, không cho mượn xe tang, không làm giấy chứng tử. Thật khó tưởng tượng nơi nào mà chính quyền hành xử với người dân như thế. Hi vọng đây chỉ là trường hợp cá biệt, không đại diện cho hệ thống nhà Nước hiện nay. Người mình có câu “Nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng cái chính quyền này đã mất cái đạo đức đó quá lâu rồi, nên họ hành xử như là một cái bộ máy Mác Lê Mao? Nếu đúng thế thì đây là một chứng từ về sự tàn phá truyền thống dân tộc của cái hệ tư tưởng Mác Lê Mao.
Đọc về cái chết của bà Nguyễn Thị Lê và những thứ thuế, phí mà bà còn “nợ” làm tôi nhớ đến lời lên án chế độ thực dân pháp của ông Hồ Chí Minh. Trong bản cáo trạng thực dân Pháp ông viết hơn 70 năm trước có những câu như “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân […] Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu […] Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng […] Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng” (2). Ôi, những lời cáo trạng hùng hồn này sao mà hợp thời thế!
Tôi đoán rằng nếu ai đó hỏi cái chính quyền xã Hương Phong tại sao họ hành xử như thế với bà Lê, chắc chắn họ sẽ trả lời: làm đúng qui định, theo đúng qui trình. Họ có thể rất tự hào vì đã làm đúng qui định, và thế là được tưởng thưởng. Nhưng đó là câu nói đầu môi, câu nói thời thượng của các quan chức Nhà nước ngày nay. Đó cũng là một cách biện minh cho những hành động bất chính, những hành vi tàn nhẫn, những quyết định vô cảm, và sự bất tài của họ. Đó cũng là câu nói cho thấy họ là cái máy, chứ không phải con người (bởi con người thì phải có tình cảm).
Đọc bài này làm tôi nhớ đến chuyện ở Úc. Dạo đó, Nhà nước chuyển sang hệ thống quản lí bằng điện toán, nên tất cả giấy đòi nợ, trợ cấp xã hội, v.v. đều do máy tính làm. Đến ngày thì máy tính in ra hàng triệu thư và gửi đến cho đương sự. Dĩ nhiên, hệ thống này rất hiệu quả vì giảm nhân viên và tiết kiệm ngân sách. Nhưng có một vụ mà báo chí làm ồn ào, là giấy đòi nợ được gửi cho bà cụ mới qua đời. Số tiền mà thư đòi nợ là … 1.5 đôla! Thế là gia đình của bà cụ lên đài truyền hình nói về sự vô cảm của Nhà nước, của cái xã hội mà họ gọi là “máy”. Sự việc ồn ào đến độ bà bộ trưởng Bộ An sinh xã hội phải đứng ra xin lỗi.
Nếu chính quyền xã Hương Phong và vị Bộ trưởng Bộ Lao động - thương binh xã hội muốn chứng tỏ họ văn minh và có đạo đức, họ nên chính thức xin lỗi gia đình bà Nguyễn Thị Lê.
Nguyễn Văn Tuấn
====

Thanh Âm bất diệt, vượt quá Sự Chết..

Phan Nhật Nam

altNhật Trường Trần Thiện Thanh là người nghệ sĩ sống nổi trôi theo cùng với vận nước và cuộc chiến đấu bi tráng của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến 1960-1975 nơi Miền Nam . Thế nên, dẫu thuộc về thế hệ trẻ tuổi lớn lên sau 1975, không kinh nghiệm, liên hệ với cuộc chiến vừa qua. Theo diễn tiến thứ tự thời gian, qua các nhạc phẩm thì chúng ta gần như có đủ một bức tranh tổng thể cho cả miền Nam, lịch sử chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 đến ngày tàn cuộc 30 tháng 4 năm 1975.
 
Nhật Trường –Trần Thiện Thanh đã viết về người lính với những dòng nhạc ngợi ca, lời thơ trữ tình, biểu hiện những ước mơ nhân bản. Những nhóm từ ngữ: “Anh không chết đâu anh.. Nhớ anh trời làm giông bão.. Người yêu của lính.. Từ khi anh thôi học, từ khi anh khoác áo trellis..” đã trở thành ngôn ngữ quen thuộc của người Miền Nam trong đối thoại, tiếp xúc khi nói về những sinh hoạt, cảnh sống thực tế. Phá Tam Giang vùng Quảng Trị-Thừa Thiên được biết ra, nói tới nhiều hơn không phải chỉ qua những lời thơ (đã trở thành quen thuộc như ca dao)… “Yêu em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ. Sợ Phá Tam Giang..” nhưng đã được hiện đại hóa, thông tục hóa bởi Chiều Trên Phá Tam Giang – Nhạc phẩm Trần Thiện Thanh phổ thơ Tô Thùy Yên trải dài khắp Miền Nam qua tiếng hát Nhật Trường. Và lẽ tất nhiên, những giòng nhạc này đã bị cắt đứt bởi những người đã đoạt chiếm miền Nam. Nhưng nay, ba-mươi-bẩy năm hơn sau ngày 30 tháng Tư, 1975 cuộc tập họp đông đảo của hàng ngàn khán thính giả là một thực chứng: Người Nghệ Sĩ luôn sống mải trong chúng ta. Nhật Trường Trần Thiện Thanh quả thật đã… “Không Chết Đâu Anh” như dòng nhạc bất tận về “Người Anh Hùng Mũ Đỏ tên Đương” mà anh đã một lần tha thiết dựng nên.
 
Nhật Trường-Trần Thiện Thanh đã xây dựng những ca khúc, hát nên tiếng lời ca ngợi Người Lính với một tấm lòng – Tấm Lòng của Bằng Hữu. Bởi Tình Chiến Hữu. Điều đáng nói trước tiên là anh đã thực hiện công việc cao quý kia không phải do yêu cầu từ những cơ quan tâm lý chiến trong hay ngoài quân đội, do một nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền, nhưng bởi thôi thúc của Bổn Phận – Bổn Phận được xác định như một Nhiệm Vụ Tự Nguyện – Nhiệm vụ của một Người Lính đối với Chiến Hữu còn sống hay đã chết. Và qua nhiệm vụ tự nguyện nầy, bằng tài năng kỹ thuật điêu luyện, cao độ (thật ra chỉ là mặt hiện thực từ, của “ý thức tình nguyện tận hiến” làm nền tảng), Trần Thiện Thanh đã viết nên, kể lại câu chuyện vô vàn về đời sống, lần yêu mến thiết tha, khi chia ly cuộc tình, buổi gục chết bi thảm.. của những đơn vị con người trong muôn một nơi Miền Nam – Những nhân vật ở đời sống bình thường (của mỗi chúng ta) nhưng đã phải kinh qua những tình huống, điều kiện sống vô vàn nguy biến suốt một cuộc chiến cực độ khắc nghiệt – Người Lính Miền Nam – Nhân vật hằng bị xuyên tạc, mạ lỵ bởi một kẻ thù thâm độc, cũng như từ tập đoàn “người bạn đồng minh” quá đỗi thực tế đến độ nhẫn tâm.
 
Chúng ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm, nếu không có con đê vững chắc bảo vệ dậy nên từ giòng nhạc, tiếng hát của những Chiến Sĩ Văn Hóa-Văn Nghệ nhiệt tâm như Nhật Trường-Trần Thiện Thanh thì ắt hẳn ngày nay chúng ta (cùng những thế hệ Người Việt trẻ tuổi ở hải ngoại cũng như trong nước) đã là những đối tượng bị tác động một cách dễ dàng thuần thục do chính sách vận động, tuyên truyền phát xuất từ nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội.
Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã sống đủ cơn cào xé đau thương chung của Miền Nam ngay từ ngày 30 tháng 4, 1975, và cùng cả nước sau ngày uất hận kia với tâm chất trung hậu mẫn cảm của người Người Nghệ Sĩ – Lần lăng nhục dài lâu chỉ chấm dứt vào năm 1993 – Khi anh ra khỏi nước trở lại cùng chúng ta và thế giới âm nhạc đã bị người Cộng Sản thô bạo đóng chặt từ 1975 ở Việt Nam.
 
Đồi 31 ở mặt trận Hạ Lào, tháng Hai, 1971.. Đại quân Miền Nam gồm: Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn I Bộ Binh, Lữ Đoàn I Thiết Kỵ, và Liên Đoàn I Biệt Động Quân cùng vượt biên giới Lào-Việt tiến đánh vùng hậu cần Tchépone của cộng sản Bắc Việt trên đất Lào. Lữ Đoàn 3 Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 3, và 8 giữ mặt Bắc của trục tiến quân. Vị trí Đồi 31 của Tiểu Đoàn 3 Dù được Pháo Đội B3 Pháo Binh Dù do Đại Úy Nguyễn Văn Đương chỉ huy yểm trợ. Vòng đai cực Bắc của Biệt Động Quân bị tấn công trước; tiếp vị trí Đồi 30 của Tiểu Đoàn 2 Dù bị công phá.. Cuối cùng, chỉ còn lại Căn Cứ Đồi 31 giữa vòng vây của một sư đoàn Bắc Việt (tỷ lệ 1 chống 15). Ngày 25/2, Đồi 31 bị tràn ngập, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ và toàn ban tham mưu lữ đoàn đồng bị bắt, căn cứ chỉ còn khẩu pháo cuối cùng, Đại Úy Đương hạ ngang nòng bắn thẳng vào toán quân cộng sản theo xe tăng T54 ào lên đồi chiếm mục tiêu, và ông gục ngã với khẩu pháo cuối cùng bị phá hủy. Trần Thiện Thanh dựng nên chân dung bi tráng hùng vĩ của Người Lính… “Anh không chết đâu anh.. Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu. Nghe trong đêm kêu gào từng tiếng súng pháo đến mau. Và tiếng súng.. Tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi mau.. Đi mau!! Anh không chết đâu em.. Anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua.. Trong những tiếng reo hò kia kia.. Lẻ loi tiếng súng anh nhiệm mầu.. Ôi tiếng súng sau cùng đó.. Anh còn nghe tầm đạn đi không anh…” .
 
Ngôn ngữ, cấu nhạc bi hùng của khúc hát đã thăng hoa về lần quyết tử lẫm liệt của Đại Úy Nguyễn Văn Đương, và những chiến binh, pháo thủ của Lữ Đoàn 3, Tiểu Đoàn 3 Dù, pháo đội B3 nơi Đồi 31; cũng như toàn thể những người lính của các đơn vị, Bộ Binh, Biệt Động Quân, TQLC, Thiết Giáp, Pháo Binh đã gục ngã nơi chiến điạ Hạ Lào… Không có tinh thần hiệp sĩ hiến thân của Người Lính không thể viết nên tiếng lời cực độ cảm khích nầy. Không có tấm lòng từ nhân xót đau của Người Nghệ Sĩ không thể cấu tạo nên giòng nhạc bi tráng thắm thiết như trên…
 
Quê hương nồng nàn âm sóng biển, mùi muối mặn ấy đã nuôi lớn, phát triển nên tâm chất sung mãn, nhân ái của người nghệ sĩ, nên sau nầy dẫu khi xa khuất, trên đường hành quân, nơi những vùng đất khổ quê hương.. Giọt mồ hôi khô trên môi vẫn âm vang mùi muối thơ ấu ngày xưa, và trước mắt thoáng hiện vô hồi.. “Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài. Gió lên từng chiều vàng.. “ Người nghệ sĩ đã mang quê hương theo cuộc lữ của mình…
 
Khoảng giữa thập niên 1960, Nhật Trường-Trần Thiện Thanh từ giã học đường để trở thành người lính, rồi cũng từ đó Nhạc Lính của ông ra đời. Với những bài ca gần gũi, phản ảnh tâm trạng của người trẻ tuổi vừa xa cuộc sống bình yên, nhưng vẫn còn nguyên tính thơ mộng nhân bản của tuổi mới lớn.. Nhưng những người lính trẻ đầy tính thơ mộng trong Tình Thư Của Lính dần tiếp cận chiến tranh… và họ chạm dần đến biên giới cuối cùng của Sự Chết vào một thời điểm không thể nào quên. Chiến trận Mậu Thân, Tết 1968 đỗ xuống toàn Miền Nam với những cái chết được xem như tai ương không bề tránh thoát.. Từ lần chết bi thảm oan khốc của ngàn người dân vô tội bị chôn sống nơi Trường Gia Hội, Bãi Dâu, Khe Đá Mài, Núi Ngũ Tây ở Huế.. đến cái chết bất ngờ giữa đêm Giao Thừa khi đang thắp hương, cúi lạy trước bàn thờ nơi Hàng Xanh, trong Chợ Lớn, ở Xóm Mới, Gò Vấp.. Thế nên, đến khi bài hát Rừng Lá Thấp của Trần Thiện Thanh vang lên, người dân thấm hiểu nên điều cao quý: Hóa ra họ đã sống sót được từ máu xương Người Lính. Miền Nam đã tồn tại, vượt qua trận lửa là do lần hy sinh không hề được xưng tụng từ ngàn vạn người lính vô danh – Những Người Lính chết khắp nơi suốt Miền Nam, mà nay, vừa nằm xuống không đâu xa, nơi chân Cầu Bình Lợi, trong đám lá lục bình sùi sụt bùn hôi, ở cửa ngỏ Sài Gòn đường đi Thủ Đức, Lái Thiêu… “Sao không hát cho người đánh giặc trên cầu.. Khi bùn lầy còn pha sác áo xanh. Trong khói súng xây thành, mắt quầng thâm mất ngủ.. Sao không hát cho những bà mẹ từng đêm ngóng con xa.. Hay hát cho những người vừa gục xuống chiều qua”?
 
Trần Thiện Thanh không chỉ viết lời ai điếu bi tráng riêng cho Đại Úy Vũ Mạnh Hùng của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến – Đơn vị đã chận địch tại Hàng Xanh, Cây Thị, Cầu Sơn, Cầu Bình Lợi qua Rừng Lá Thấp, mà sau đó đã dựng lại phút giây khốc liệt của Phước Thịnh, Đại Úy Trần Duy Phước, Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù nơi chiến địa Tây Ninh trong Giấc Ngủ Trên Đồi Xanh. Anh cũng đã cùng Đại Úy Phi Công Trần Thế Vinh bay lên cao vào nơi bất tận trong Bay Lên Cao Đi Anh.. qua cái chết bão lửa khi con tàu lao xuống bắn cháy chiếc xe tăng cộng sản thứ 21 nơi chiến trường Trị-Thiên tháng Tư, 1972. Trần Thiện Thanh cũng sống đủ với người chết xác liệm ba lần, Đại Úy Thiết Giáp Nguyễn Ngọc Bích nơi chiến trường La Vang, Quảng Trị trong nhưng ngày Hè đỏ lửa quê hương.. Những người tuổi trẻ không trở lại với cuộc đời sau lần đi khuất lẫm liệt.
 
Trên Đỉnh Mùa Đông là một ca khúc hợp soạn giữa Trần Thiện Thanh cùng người em ruột của ông, Thiếu Úy Trần Thiện Thanh Toàn, một sĩ quan trong QLVNCH, mà tựa đề đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh xử dụng trong vở nhạc kịch cùng tên. Tác phẩm nầy đã làm tuôn chảy bao nước mắt cảm xúc từ khối đông khán giả mà vai nữ chính trong vở nhạc truyện Trên Đỉnh Mùa Đông luôn được giao cho nữ ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Thanh Lan được đánh giá là nghệ sĩ diễn xuất sống động thích đáng nhất bên cạnh Nhật Trường – Do từ mối đồng cảm thâm sâu giữa nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ sáng tác – Giải thích hiện tượng nầy không khó đối với trường hợp của Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, bởi như chúng ta hằng nhận ra: Chỉ do từ Phẩm Chất Nghệ Sĩ – Những Nghệ Sĩ Thật Sự tài năng luôn tạo nên mối đồng cảm chân tình giữa họ và khối đông gồm: Những người trình diễn – Những khán thính giả.
 
Nam Lộc kể tiếp câu chuyện bi thảm có thật (như muôn vàn câu chuyện tan vỡ, chia ly, tử biệt trong chiến tranh, nơi Miền Nam): Thiếu Úy Phạm Thái gặp gỡ Mộng Thường trên chuyến bay Air VN sau khi mãn khóa sĩ quan Đà Lạt về Sàigòn trình diện Bộ Chỉ Huy BĐQ, trước khi lên đường tác chiến. Tình yêu nảy nở dần theo thời gian giữa hai người tuổi trẻ.. Liên Đoàn BĐQ của Phạm Thái trách nhiệm gánh nặng chiến đấu tại mặt trận An Lộc ngay từ giờ mở đầu chiến trận, những ngày tháng 4 năm 1972. Phạm Thái bị thương và ghi nhận là mất tích. Tin người yêu tử trận về đến Sài Gòn khiến Mộng Thường bàng hoàng đau đớn tột độ. Nhưng bỗng có một ngày Phạm Thái lại rạng rỡ trở về tìm đến với người yêu trong hình hài toàn vẹn. Anh đã được một Bà Xơ cứu thoát và dấu trong nhà thờ cho đến khi bình phục. Phạm Thái trở lại An Lộc, được vinh thăng Trung Úy, anh viết thư báo tin người yêu, Mộng Thường đi xe đò lên dự buổi lễ gắn lon, nhưng định mệnh nghiệt ngã, chiếc xe đò trúng mìn cộng sản tan nát thành mảnh vụn. Mộng Thường vĩnh viễn ra đi về thế giới bên kia, bỏ lại nỗi đau đớn tận cùng của người yêu, chàng sĩ quan trẻ mang tên Phạm Thái. Nhạc phẩm Tình Thiên Thu, Nguyễn Thị Mộng Thường được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết nên để tiếc thương hình bóng Mộng Thường cùng mối tình đã chết theo cuộc ly biệt đau thương trong thời chiến.
 
So sánh với những người viết nhạc cùng thời về Chủ Đề Lính, thì có lẽ ít ai để ý đến nhiều khía cạnh trong cuộc đời và thân phận người lính bằng Trần Thiện Thanh, và đó cũng là lý do để những bài nhạc của anh đã làm cho cả một hậu phương đang thờ ơ bỗng trở nên biết yêu thương, kính phục người lính; thúc dục người lính hãnh diện hơn đối với cuộc sống quân ngũ của bản thân và đồng đội. Anh được mệnh danh là “Nhạc Sĩ của Lính” bởi ảnh hình người mặc quân phục, nét sắc, sinh hoạt của người lính tràn ngập hầu như toàn diện trên các nhạc phẩm.. Trần Thiện Thanh viết về đủ các quân binh chủng.. Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Không Quân, Hải Quân.. Mỗi bài đều mang những nét đặc sắc của những người lính trong đơn vị binh chủng ấy, như bài Hoa Biển, đã trở thành bài hát thuộc lòng của những người thủy thủ.. Hai bài hát viết vào thời Tết Mậu Thân 1968 là bài Bà Tư Bán Hàng chuyện của một bà mẹ tự hào có những người con đi lính trận, và một bài khác là bài Chị Ba Hàng Xanh, chuyện một người đàn bà bình thường nhưng đã dũng cảm cầm dao chống lại những kẻ có vũ khí khi toán bộ đội cộng sản tràn vào khu xóm trong giờ phút Giao Thừa thiêng liêng cổ tuyền dân tộc. Hình như ít ai biết được Trần Thiện Thanh là tác giả bản Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hành Khúc – Khúc quân hành nung lòng chiến đấu của đội ngũ chiến binh kiệt liệt của Quân Lực Miền Nam – Đơn vị bộ binh chận giặc nơi vùng địa đầu đất nước qua lằn ranh Khu Phi Quân Sự nam Sông Bến Hải.
 
Mùa hè 1966, rừng núi Tây Nguyên, thủ phủ Pleiku bày tràn cảnh tượng chiến tranh.. Đại pháo ngày đêm ầm vang xé núi, dội rung thành phố, và khoảng không gian luôn bị chia cắt bởi những đoàn phi cơ với đôi cánh sắt màu xám bạc vùn vụt xé ngang bầu trời, để lại những âm động rì rầm đe dọa… Thị xã Pleiku trở nên là một ”Thành Phố Lính” điển hình với những người lính đội nón sắt, lưng đeo giây đạn mệt nhọc di chuyển khắp nơi; xe nhà binh, chiến xa chạy ngang dọc bốc bụi mù đỏ chạch, hay kéo lầy bùn ố bẩn vào con đường phố chính.. Trong khung cảnh chiến tranh đè nặng xuống vùng thủ phủ Tây Nguyên, Trần Thiện Thanh đã mô tả, sống cùng chiến tranh – người lính qua nhãn giới rộn rã của tình yêu bất diệt luôn hiện diện với con người.. Điển hình thời điểm sáng tác nầy, 1965-1966 chúng ta có thể kể ra ca khúc Tuyết Trắng để làm dấu mốc khởi sự.
 
Nếu ngày trước, qua Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn được diễn ngâm bởi Đoàn Thị Điểm, chúng ta có hình tượng người đi chinh chiến: Áo chàng đỏ tựa ráng pha. Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in. Chàng từ đi vào nơi gió cát. Đêm trăng nầy nghỉ mắt phương nao.. Thì nay, qua Tuyết Trắng, Trần Thiện Thanh đã mô tả nên một hoạt cảnh hào hùng nhưng không kém phần lãng mạng, thơ mộng của Việt Nam thời binh loạn. “Phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên.. Ngã nghiêng cánh bay, con tàu khép lại một vùng tuyết trắng ngần…”. Từ trên cao, giữa tầng mây lớp lớp, Người Nghệ Sĩ hiện sống giữa bầu trời, trên mặt đất quê hương, để từ đấy viết nên lời ngợi ca hồn hậu rất hiện thực mà cũng tràn đầy nhân tính.. (qua lần thay lời cho người phi công đang lái con tàu trong một một phi vụ tác chiến..) để nói về nỗi thương nhớ đối với một người yêu khi con tàu lao vào giữa vùng mây bảo. “Khi nắng chiều buông, không gian chợt tối.. Xóa nhòa vùng tuyết trắng mênh mông…” – Mà thật sự cũng là một bẫy chết có thể xẩy ra bất cứ lúc nào – Bởi đạn phòng không của bộ đội cộng sản (những đơn vị nặng chính quy Miền Bắc) rất dễ dàng bắn hạ chiếc phi cơ quan sát mỏng manh mà người bạn phi công đã bất chấp luật lệ an phi chấp thuận cho Nhật Trường tháp tùng
 
Chúng ta cũng cảm nhận được “sức mạnh nhân bản” của ca khúc (dẫu chẵng phải là một tuyệt tác hàng đầu nghệ thuật), nhưng đã tồn tại trên bốn-mươi năm, và chắc chắn ngôn ngữ, thanh âm, thuần hậu của Trần Thiện Thanh… “Mây dâng thật thấp, mây vương lụa trắng… mây pha mầu nắng…” sẽ tiếp tục tồn tại như khối tuyết vân tinh khiết, vĩnh cữu có khả năng xóa mờ những “chân mây đỏ máu in hình nòng súng cao xạ vươn lên trên trời cao!!”.. Loại hình tượng tràn đầy “ác tính” trong những bài hát của những người cầm quyền cộng sản ở Hà Nội luôn “giáo dục và huấn luyện” những người gọi là “nghệ sĩ nhân dân” phải cố công viết nên thành.
Theo nhận định của Việt Dzũng, trong những ca khúc phổ thơ của những tác giả Nhất Tuấn, Kim Tuấn, Du Tử Lê.. nơi Miền Nam , thì nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh phổ thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên từ bài thơ bi thiết sâu lắng Chiều Trên Phá Tam Giang là một trong những ca khúc phổ thơ có giá trị nhất. Đặc biệt với kỹ thuật song tấu ở phần nhạc mở đầu bài hát. “Nhớ ôi là nhớ… ôi là nhớ đến bất tận…”. Nhưng bài hát không chỉ có giá trị là thế, nó còn mở ra cho người nghe những ấn tượng, biểu hiện mà Phá Tam Giang đã tạo dựng nên trong lịch sử, văn học.. Và hơn thế nữa, bài hát nhắc nhở cho chúng ta, khán giả hôm nay nơi hải ngoại về một ngày trọng đại của quê hương.. Mùa Hè 1972 thế trận giữ nước Miền Nam bước vào một giai đoạn quyết định với những chiến thắng lẫm liệt khắp ba vùng: Kontum được giữ vững; An Lộc được giải tỏa, và nơi vùng Hỏa Tuyến, Chiến Dịch Lôi Phong đang khai diễn với hai mũi tiến công thần tốc cùng tiến về thị Xã Quảng Trị do hai đại đơn vị kiệt liệt nhất của quân lực cộng hòa đảm nhiệm: Sư Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức những cuộc “Đi và Sống với Chiến Trường”có sự tham dự của những văn nghệ sĩ tên tuổi của Sài Gòn.. Một buổi chiều Tháng 6, 1972 một chiếc trực thăng xuất phát từ Đà Nẵng bay lên căn cứ Hương Điền của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sau đó theo Phá Tam Giang bay dọc ra hướng Bắc hướng Cổ Thành Quảng Trị. Một trong ba hành khách trên trực thăng – Tô Thùy Yên sau khi về lại Sài Gòn đã viết nên những lời thơ tinh tế cô sắc.. Chiếc trực thăng bay là trên mặt nước. Như cơn mộng nhanh. Phá Tam Giang, phá Tam Giang, Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát.. Ngó xuống cảm thương người lỡ bước, Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi.. Nhìn xuống cảnh vật tàn tạ. Nhìn thấy con người tan tác.. Người thi sĩ thấm hiểu ra cốt lõi bi thảm phi lý của chiến tranh: Ví dầu người bắn rụng ta.. Như tiếng thét. Xé hư không bặt im.. Chuyện cũng thành vô ích. Ví dầu ngươi gục. Vì bom đạn bất dung.. Nào có chi đáng kể! Chuyển qua Phần thứ Hai, bài thơ mô tả nỗi buồn thảm của phận người, và sự bất lực của tình yêu dẫu là mối tình thắm thiết chân thật.. Và Trần Thiện Thanh đã gắn thêm âm sắc kỳ ảo của cấu nhạc vào nỗi buồn bã của Chiều Trên Phá Tam Giang… “Anh chợt nhớ em.. Nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ… Giờ nầy thành phố chợt bùng lên. Em giòng lệ vẫn rát chảy tuôn. Nghĩ đến một điều anh không rõ.. Nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ.. Hãy nghĩ tới anh.. Hãy nghĩ tới anh. Đến một người đi giữa chiến tranh…”. Quả thật, từ tình yêu “mộng mơ” trong Tình Thư Của Lính đầu thập niên 60 đến tình yêu của người lính đang đối mặt với cái chết giữa chiều nắng vàng hoang sơ trên Phá Tam Giang ngày Hè 1972 đã có một bước rất lớn – Bước của tận Khổ Đau. Cũng là bước của thật Yêu Thương. Nhật Trường hiện thực bước nhảy vọt kỳ diệu nầy trong âm nhạc thắm thiết Trần Thiện Thanh.
 
Cũng vào thời điểm Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã đánh một trận khốc liệt, cũng lẫy lừng nhất trong quân sử VNCH, tuy nhiên đơn vị thiện chiến mệnh danh là Song Kiếm Trấn Ải này đã bị thương vong hơn bốn trăm chiến binh, cùng để lại nơi đồi Charlie xác thân người anh cả của tiểu đoàn: Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo.
 
Nhân lần gặp gở với cá nhân tôi, Phan Nhật Nam (người viết bút ký Mùa Hè Đỏ Lửa) vào một buổi cuối năm 1972 tại Sài Gòn. Trần Thiện Thanh có nhận xét: “Ông (PNN) viết đọc nghe ghê quá – Đoạn viết trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ở Quảng Trị.. Viết về tiếng lửa lép bép thịt da người nung chín!!”. Tôi thành thật trả lời: “Sợ viết như thế cũng chưa đủ. Còn nhiều điều ghê gớm, đau thương hơn nữa..” Khi trở lại quán nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi (góc đường Lê Lợi-Công Lý), Trần Thiện Thanh ngõ ý muốn viết một ca khúc căn cứ trên những nội dung Mùa Hè Đỏ Lửa. Tôi ngần ngại.. “Sách tôi viết theo lối phóng sự chứ đâu phải thơ để phổ nhạc.. Lại toàn chuyện súng đạn, chết chóc.. Tuy nhiên nếu muốn thì ông lấy thử đoạn nói về Anh Bảo, chương “Người Ở Lại Charlie”. Và ca khúc đã thành hình với tiếng lời vang dội núi sông, thăm thẳm trong lòng người hơn ba-mươi năm qua, hiện vẫn còn tác động mạnh mẽ người nghe (trong cũng như ngoài nước).
 
Bi kịch không riêng đối với những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo – Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền Nam hiện thực qua hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa Con Người Lính. Và hôm nay ba-mươi-bẩy năm sau ngày mất quê hương, Nỗi Đau kia hằng mới vì Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung, cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn của Tình Yêu trong đời sống trần thế giới hạn của nhân sinh.
 
Chúng tôi xin dùng lời nhận xét của chính mình, cá nhân Phan Nhật Nam, người khách đã đến theo lời mời của ban tổ chức chương trình để kết luận mà không sợ mang tiếng đã nhận định quá độ về Người và Việc đối với một buổi sinh hoạt ca nhạc: “..Nếu không có Nhật Trường-Trần Thiện Thanh thì ai trong chúng ta biết đến một người gục chết nơi Rừng Lá Thấp ở chân Cầu Bình Lợi vào ngày đầu xuân năm 1968 tên gọi Đại Úy Vũ Mạnh Hùng thuộc Tiểu Đoàn 3 Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến?! Nhưng dẫu sao người chết trẻ ấy còn cho rõ một tính danh, một cấp bậc, về một đơn vị, nơi một địa điểm không xa đường phố trung tâm Sài Gòn.. Vào cùng lúc suốt cuộc chiến dằng dặt mười–lăm năm, hằng này, hằng giờ tại mỗi hẻm núi, sâu rừng thẳm, trên mỗi thước bùn lầy, kinh rạch nơi Miền Nam, hằng trăm, hằng ngàn con người – Những người còn rất trẻ ngã xuống không tiếng lời trăn trối, không hồi kèn truy điệu, tiễn biệt với lượng máu tự thân thấm xuống mạch đất quê hương nhỏ giọt, im lìm.. Không có Nhật Trường. Không có Trần Thiện Thanh nào ai biết Charlie, Delta.. là ở những nơi nào.. Vì thật sự đấy chỉ là những cứ điểm quân sự nhỏ nhoi, vô danh tính bên sông Pô Kơ, cạnh Đường 14, lối lên Dakto, Daksut xa xôi. Nhật Trường – Trần Thiện Thanh đã đưa những nơi chốn heo hút, nguy biến kia vào trí nhớ người Miền Nam luôn nhớ nước, cũng đồng thời nhắc nhở cho mỗi chúng ta biết rằng, khi đang sống yên lành ở Sài Gòn, Nha Trang, Đà Lạt, Cần Thơ là lúc được bảo vệ bởi muôn vạn người lính vô danh – Những Người Quyết Tử cho Tổ Quốc Quyết Sinh – Hành vi hiến tế cao cả không hề tuyên công mãi sau 30 tháng Tư, 1975, người Miền Nam (của tất cả Việt Nam) khi bước chân xuống thuyền vượt biên mới nhận ra: Họ đã không còn Người Lính Bảo Vệ – Bởi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị bức tử cùng lần sụp vỡ Miền Nam.
 
Và cuối cùng, khi lao mình vào sóng lớn biển khơi với con tàu mỏng manh nhỏ bé, tất cả những người vượt biển, hoặc xuyên rừng rậm vượt biên trong suốt một thập niên 70-80 chắc hẳn không vì những nguồn lợi vật chất nơi nước Mỹ, Canada, Australia thúc dục.. Khối người cao thượng đó – Chính là mỗi chúng ta đã hiện thực một chọn lựa linh thiêng không hề nói ra lời – Hoặc Chết hoặc được sống Tự Do. Tương tự như thế, sự có mặt của mỗi khán giả hôm nay trong buổi sinh hoạt mang chủ đề Anh Không Chết Đâu Anh bao gồm một giá trị thầm kín vĩnh cửu – Mỗi Người Việt thật mang sẵn một sứ mạng cao quý: Họ chính là nhân tố, là nguồn sức mạnh thực hiện cuộc chiến đấu cho Tự Do – Một cuộc chiến chưa hề kết thúc. Không bao giờ chấm dứt. Cao hơn cái chết. Vượt quá cái chết.
 
Phan Nhật Nam