26/5/15

Hòa giải bằng Hiệp định

 Hòa giải bằng Hiệp định


Trần Gia Phụng (Danlambao) - Sau kinh nghiệm hòa giải năm 1945, những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, quy tụ trở lại chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, ở thế chẳng đặng đừng liên kết với Pháp năm 1949, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam, chống Việt Minh cộng sản. Chiến tranh kéo dài đến năm 1954, và kết thúc bằng Hiệp định Genève ngày 20-4-1954, chia hai Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở phía bắc, thường được gọi là Bắc Việt Nam (BVN); Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10- 1955, ở phía nam, thường được gọi là Nam Việt Nam (NVN).
Hòa giải bằng Hiệp định Genève 
Danh xưng chính thức của hiệp định GenèveHiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, nghĩa là hiệp định Genève chỉ là một hiệp định có tính cách thuần túy quân sự, hai bên ngưng chiến đấu, tập trung ở hai vùng khác nhau và hiệp định nầy không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam. 
Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam cùng các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào và Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954 và cùng nhau bàn thảo bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương"
Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng: “Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó." (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53.) 
Điểm đặc biệt là sau khi soạn thảo xong bản tuyên bố nầy, chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng rằng "đồng ý". Bảy phái đoàn nầy tuy đồng ý, nhưng không ký vào bản tuyên bố, và chỉ trả lời miệng mà thôi. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nam Á 2002, tr. 2642. Có thể tìm trong Google bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp.) Một văn kiện quốc tế không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. 
Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương" ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của mình. Tuy nhiên, chính phủ QGVN vẫn tôn trọng Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và thi hành việc chia hai nước Việt Nam theo đúng thỏa thuận quốc tế. 
Nếu để cho Nam Việt Nam (NVN) yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn NVN với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH hay Bắc Việt Nam (BVN) với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà BVN thực sự lo lắng.
Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm. Không kể cuộc tranh chấp ở Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ đã từng giúp chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa tiễu trừ đảng CS ở lục địa, và nay đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan (Taiwan), chống Trung Cộng. Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh của chính Trung Cộng.
Vì Liên Xô và Trung Cộng đều chống Hoa Kỳ, nên cả hai hậu thuẫn cho BVN mở cuộc chiến xâm lăng NVN. Bắc Việt Nam đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, vừa để khích động lòng yêu nước của dân chúng BVN chống lại NVN, vừa để phù hợp với chủ trương chống Hoa Kỳ của Trung Cộng và Liên Xô, 
Như thế, rõ ràng các lý do “thống nhất đất nước” và “chống Mỹ cứu nước” chỉ có tính cách biểu kiến bên ngoài, dùng làm chiêu bài động binh, trong khi lý do thật sự được nhà nước BVN che đậy là tham vọng lớn lao của đảng Lao Động (LĐ) tức đảng Cộng Sản, muốn đánh chiếm toàn bộ Việt Nam, bành trướng chủ nghĩa CS đồng thời thi hành nghĩa vụ quốc tế, như lời Lê Duẫn nói, đánh NVN là “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. Kế hoạch tấn công NVN đã được đảng LĐ chuẩn bị trước khi ký hiệp định Genève ngày 20-7-1954, thấy rõ trong kế hoạch Liễu Châu đầu tháng 7-1954.
Trước khi hiệp định Genève được ký kết, tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bí mật gặp gỡ Hồ Chí Minh, chủ tịch VNDCCH, đưa ra kế hoạch là trước khi rút người ra BVN theo quyết định của Hiệp định Genève, đảng LĐ gài cán bộ ở lại NVN, đồng thời phân tán và chôn giấu võ khí ở lại NVN để chuẩn bị chiến đấu về sau. (Về hội nghị Liễu Châu, mời đọc Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề tiếng Việt là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27, "Hội nghị Liễu Châu then chốt".)
Như thế, ngay trước khi ký hiệp định Genève vào ngày 20-7-1954, phía cộng sản đã chủ tâm sắp đặt trước kế hoạch trường kỳ mai phục ở NVN, chuẩn bị lực lượng tiếp tục chiến tranh. Ngoài chuyện gài cán bộ đảng viên lẫn trốn trong dân, đảng LĐ còn có cách cài người rất thâm hiểm là cho cán bộ đảng viên đảng LĐ vội vàng cưới vợ trước khi tập kết ra Bắc. Những người vợ ở lại NVN và con cái từ các cuộc hôn nhân nầy sinh ra, sẽ tiếp tay cho cán bộ CS khi họ trở về hoạt động. 
Trong khi đó, để kiếm cớ gây chiến, đảng LĐ tức đảng cộng sản BVN lại đổ lỗi cho phía NVN không tôn trọng hiệp định Genève, trong khi chính hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến mà thôi và không đưa ra giải pháp chính trị. Còn giải pháp chính trị được dư tính trong bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương", thì không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, không có giá trị pháp lý. Lý do có thể là phía CS (Trung Cộng, CSVN) tại Liễu Châu đã quyết định tiếp tục cuộc chiến, nên vận động không ký vào bản tuyên bố cho dễ hành động về sau nầy.
Đó là cách hòa giải bằng hiệp định Genève của CSVN. Tạm dừng để lấy sức, rồi tiếp tục chiến tranh. Cách hòa giải nầy đưa đến việc BVN tái phát động cuộc chiến năm 1960, và dùng viện trợ của khối CS quốc tế, nhất là Liên Xô và Trung Cộng, tấn công NVN.
Hòa giải bằng Hiệp định Paris
Chiến tranh Việt Nam lọt vào cao điểm chiến tranh lạnh toàn cầu. Liên Xô, Trung Cộng giúp đỡ, viện trợ cho BVN. Ở thế yếu, NVN phải nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ, viện trợ. Điểm khác nhau quan trọng là Liên Xô và Trung Cộng gởi quân viện cho BVN, và BVN sử dụng quân đội BVN và du kích NVN để chiến đấu ở NVN. Liên Xô chỉ gởi chuyên viên ở hậu phương chứ không ra chiến trường. Ngoaøi quaân vieÄn, töø thaùng 6-1965 ñeán thaùng 3-1968, TQ gôûi sang BVN 320,000 quaân, truù ñoùng ôû caùc tænh vaø thaønh phoá phía baéc Haø NoÄi, ñieàu khieån caùc suùng phoøng khoâng, söûa chöõa ñöôøng saù, caàu coáng, ñöôøng xe löûa, baûo veÄ caùc tænh phía baéc, nhaèm giuùp BVN keùo heát löïc löôïng xuoáng taán coâng NVN. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Carolina Press, 2000, tr. 135.) Về phía Hoa Kỳ, Hoa Kỳ gởi Bộ binh và Không quân trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam từ năm 1965.
Điểm quan trọng là Hoa Kỳ áp dụng chiến lược phòng thủ ở NVN chứ không đánh ra BVN bằng bộ binh như chiến tranh Triều Tiên. Hoa Kỳ chỉ gởi Không quân tấn công những hậu cứ của CS ở BVN. Cứ thủ mãi và chờ địch quân đến tấn công, đưa đến kết quả là tuy quân đội Hoa Kỳ không thua trận nào, nhưng tử trận mỗi ngày một ít; cộng nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm thành số nhiều. Mỗi ngày vài phi công thuộc Không quân Hoa Kỳ bị bắn rơi ở BVN và bị bắt làm tù binh; cộng nhiều ngày thành số đông. 
Các số liệu tử vong và tù binh tăng cao làm cho dân chúng Hoa Kỳ sốt ruột, lo sợ cho sinh mệnh của thân nhân mình, đòi rút quân về nước. Phong trào phản chiến trong nước Hoa Kỳ hoạt động mạnh mẽ, dân chúng, sinh viên biểu tình rầm rộ, làm cho đất nước Hoa Kỳ xáo trộn, khiến chính phủ Hoa Kỳ phải kiếm cách ổn định tình hình nội bộ. (Chú ý: lúc đó quân đội Hoa Kỳ còn gồm thành phần động viên. Luật động viên Hoa Kỳ bị bãi bỏ năm 1973, sau Hiệp định Paris. Ngày nay, quân đội Hoa Kỳ gồm toàn quân nhân chuyên nghiệp.) Hơn nữa, thông qua chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ bắt tay với Trung Cộng và đang muốn tách Trung Cộng ra khỏi khối CS do Liên Xô lãnh đạo. Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chiến lược, rút quân khỏi Việt Nam và kiếm cách ký hiệp định hòa bình để lấy lại tù binh.
Từ đó, Hoa Kỳ mở đường hòa đàm với BVN và đi đến hội nghị Paris. Chính phủ NVN với kinh nghiệm ê chề năm 1945 và 1954, không chịu nhượng bộ BVN, không chịu ngồi vào bàn Hội nghị Paris, nhưng Hoa Kỳ áp lực, rút quân, giảm viện trợ, nên NVN đành phải chấp nhận. Sau những cuộc thảo luận gay go kéo dài từ năm 1968 đến cuối năm 1972, cuối cùng, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris tức Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam), còn được gọi là Hiệp định Hòa bình Paris (Paris Peace Accords) được ký kết tại nơi bắt đầu, tức Trung Tâm Hội Thảo Quốc Tế (Centre de Conférences International), trong khách sạn Majestic, số 19 đường Kléber, Paris.
Hiệp định gồm 9 chương, 23 điều, có hai bản. Bản thứ nhứt giữa bốn bên VNCH, Hoa Kỳ và CHMNVN, VNDCCH. Bản thứ hai giữa hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH. Hai bản chỉ khác nhau ở phần mở đầu và điều 23, còn giống nhau từ điều 1 đến điều 22. Vì có hai bản, nên hiệp định Paris được ký kết hai lần. Lần bốn bên VNCH, Hoa Kỳ, VNDCCH và CHMNVN ký kết vào buổi sáng 27-1-1973. Lần hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH ký kết vào buổi chiều 27-1-1973. Hiệp định có hiệu lực từ 0 G. giờ quốc tế GMT đêm 27 rạng 28-1-1973, tức 8 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 28-1-1973. 
Những điểm chính của hiệp định Paris là: Ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam; Hoa Kỳ rút quân đội và cố vấn còn lại (khoảng 23,700) trong 60 ngày; Hoa Kỳ triệt phá tất cả các căn cứ trong 60 ngày; trao trả tù binh Hoa Kỳ và các tù binh khác trong 60 ngày; quân đội Bắc Việt tiếp tục đóng giữ tại chỗ ở Nam Việt Nam; rút tất cả các lực lượng ngoại nhập tại Lào và Cao Miên; cấm lập căn cứ và chuyển quân qua hai nước nầy; duy trì khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời cho đến khi nào thống nhất đất nước bằng một giải pháp hòa bình; thành lập Ủy ban Kiểm soát Quốc tế gồm có người các nước Canada, Hungary, Ba Lan và Indonesia với 1,160 thanh tra kiểm soát việc thi hành hiệp định; Nguyễn Văn Thiệu vẫn là tổng thống miền NVN cho đến khi có bầu cử; BVN tôn trọng quyền tự quyết của dân chúng NVN; không chuyển quân qua khu phi quân sự; không sử dụng võ lực để thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: Maillard Press, 1989, tr. 210.)
Rõ ràng BVN chiếm lợi thế trong hiệp định Paris so với NVN. Trong khi Hoa Kỳ rút quân, triệt phá hết các căn cứ Hoa Kỳ tại NVN, thì quân đội BVN tiếp tục đóng giữ tại chỗ ở NVN. Trong khi đó, BVN bí mật tiếp nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Cộng ở BVN, rồi bí mật chuyển vào NVN qua đường Trường Sơn và ngay cả đường vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17, trắng trợn vi phạm hiệp định Paris. Số viện trợ do Liên Xô và Trung Cộng cho BVN trong thời gian nầy tăng gấp 4 lần so với trước đây. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.) 
Hiệp định Paris quy định việc thành lập một số cơ chế để thực hiện và theo dõi việc ngừng bắn. Đầu tiên là HỘI ĐỒNG HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC (National Council of National Reconciliation and Concord). Điều 12 chương IV Hiệp định Paris ghi rằng “hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí.” Danh xưng rõ ràng là “Hòa giải hòa hợp dân tộc”, nhưng thực chất là HGHH theo kiểu CS.
Ba thành phần nêu trên đây là VNCH, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng (MTDTGP) và lực lượng thứ ba. Lực lượng thứ ba được gọi là trung lập, không theo VNCH cũng không theo MTDT. Trong thực tế, lực lượng thứ ba do CSVN ngấm ngầm tổ chức và điều động, gồm những nhà hoạt động chính trị đòi hỏi hòa bình, dân chủ mà không nhất thiết phải tán thành chủ nghĩa CS hay chủ nghĩa xã hội, nhằm cô lập chính phủ VNCH. Cách quyết định theo nguyên tắc nhất trí, có nghĩa là cả ba bên phải cùng đồng ý mới thông qua một quyết định. Nói cách khác, mỗi bên đều có quyền phủ quyết. Vậy làm sao hòa giải hòa hợp, vì ai không bằng lòng thì phủ quyết, thế là đường ai nầy đi. 
Cũng theo điều 12 nầy, HĐHGHHDT sẽ đứng ra tổ chức tổng tuyển cử nhằm bầu chọn cơ quan quyền lực cho NVN. Tuy nhiên, vì chính phủ Hoa Kỳ nôn nóng rút quân, rút tù binh nên ký hiệp định Paris, chịu để cho BVN đóng quân ở lại NVN, nên BVN tiếp tục tấn công NVN, và chiến tranh vẫn tiếp diễn. Cho đến ngày 30-4-1945, BVN cưỡng chiếm NVN, HĐHGHHDT cũng chưa thành lập được.
Như thế, chuyện hòa giải hòa hợp theo điều 12 chương IV Hiệp định Paris chỉ là một cái bánh vẽ cho Hoa Kỳ rút quân, vì trong thực tế, sau HĐHGHHDT, Hiệp định Paris còn thành lập, theo điều 18 chương VI, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (International Commission for Control and Supervision), gồm đại diện bốn quốc gia Canada (Gia Nã Đại), Hungary (Hung Gia Lợi), Indonesia (Nam Dương), Poland (Ba Lan). Ủy ban nầy cũng chẳng làm được việc gì vì thiếu sự hợp tác về phía CSVN. 
Trong khi Ủy ban QTKSGS tự do đi lại trong vùng do chính quyền NVN kiểm soát, thì Ủy ban bị ngăn cản khi đi vào những vùng CS hoạt động. Ngày 7-4-1973, hai trực thăng của Ủy ban chở nhân viên đến Khe Sanh và Lao Bảo để quan sát và kiểm soát sự xâm nhập của CS theo đường Trường Sơn, liền bị quân CS bắn rơi một chiếc, gây tử thương cho phi hành đoàn và 7 nhân viên. Các chuyến bay ở Lộc Ninh cũng bị quân CS hăm dọa. Sau khi một nhân viên Canada bị CSVN bắt giữ, phái đoàn Canada rút lui vào cuối tháng 7-1973, Iran (Ba Tư) được cử thay thế. Tuy Ủy ban tiếp tục hoạt động cho đến năm 1975, nhưng hoàn toàn bất lực. (Webster's New World Dictionary of the Vietnam War, tt.. 180-181.)
Kết luận 
Sau cuộc hòa giải nội bộ năm 1945, người Việt theo chủ nghĩa dân tộc có được kinh nghiệm ê chề với CSVN. Trong hai giai đoạn 1954 và 1973, người Pháp rồi người Hoa Kỳ, do chủ tâm rời bỏ Việt Nam, nên dễ dàng thỏa mãn những yêu sách của CSVN để CSVN nhanh chóng ký kết hiệp định giúp hai nước nầy ra đi cho rồi, trong khi đối với CSVN, ngưng chiến chỉ là những giờ giải lao và các hiệp định đó chẳng qua chỉ là những tờ giấy loại bị CSVN xé bỏ dễ dàng. Năm 1954, CSVN ký Hiệp định Genève để dưỡng sức chuẩn bị tiếp chiến tranh. Năm 1973, CSVN ký Hiệp định Paris để Hoa Kỳ rút quân, bỏ rơi và ngưng viện trợ cho NVN, rồi CSVN nhận thêm quân viện của Liên Xô và Trung Cộng, tiếp tục tấn công và đánh chiếm NVN năm 1975.
Với những kinh nghiệm lịch sử như thế, bằng những hiệp định quốc tế, CSVN ký, nhiều nước ký và nhiều nước làm chứng, mà CSVN vẫn vi phạm trắng trợn, xé bỏ dễ dàng, thì còn ai dám tin CSVN và hòa giải hòa hợp với CSVN?
(Toronto, 24-05-2015)

Khi lãnh đạo tôn giáo tôn thờ tội ác

 Khi lãnh đạo tôn giáo tôn thờ tội ác


Trần Trung Đạo (Danlambao) - Nhìn bức tượng Hồ Chí Minh ngồi chễm chệ giữa chánh điện, xem buổi lễ mừng sinh nhật của họ Hồ cùng lúc với Đức Thế Tôn thị hiện, đọc những lời nịnh bợ đảng CS một cách trơ trẻn của các lãnh đạo “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”, một người Phật tử có chút nhận thức nào cũng không khỏi lấy làm hổ thẹn trước tình trạng tha hóa trầm trọng của hàng ngũ lãnh đạo “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”.
Đọc lại lịch sử đạo Phật sau khi Đức Bổn Sư nhập diệt để lần nữa nhận ra "Phật Giáo Việt Nam" đang suy tàn tương tự.
Vườn Lộc Uyển (Sarnath) là một trong những Phật tích thiêng liêng nhất của đạo Phật vì đó là nơi Đức Bổn Sư đã giảng những bài pháp đầu tiên dẫn tới thời cực thịnh của Phật Giáo Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ bảy, nhưng sau đó Phật Giáo Ấn Độ suy tàn. Ngày nay, di tích Vườn Lộc Uyển chỉ là những đống gạch vụn trong ý nghĩa tinh thần lẫn vật chất. Hàng loạt lý do dẫn tới sự suy tàn của Phật Giáo trong đó có vai trò của đạo Bà La Môn, sự tàn sát của đạo quân Hồi Giáo nhưng một trong những lý do mà chính Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhiều học giả Phật Giáo đồng ý đó là sự thoái hóa và biến chất của hàng tăng sĩ Phật Giáo thời đó.
Trong tiểu luận Vì sao Phật Giáo suy tàn tại Ấn Độ của nhà nghiên cứu Phật Giáo D.C. Ahir (1928-2012) đã viết: “Chúng ta phải thừa nhận rằng chính những tín đồ Phật Giáo lãnh phần trách nhiệm lớn cho số phận đáng buồn của tôn giáo của họ... Ðức Phật là một vị thầy tôn giáo đầu tiên ở Ấn Ðộ, hay nói đúng hơn là toàn thế giới, cổ vũ những đệ tử của mình đi và đi khắp nơi vì hạnh phúc và lợi ích của nhiều người... Nhưng bất hạnh thay, các tăng sĩ về sau đã không giữ những tiêu chuẩn dành cho họ. Khi các tu viện trở nên giàu có, thì hoạt động chính của họ được coi là đào sâu việc nghiên cứu từ chương thay vì truyền bá Giáo Pháp, tăng sĩ đánh mất sự giao hảo gần gũi với quần chúng, và tương quan giữa tăng sĩ và cư sĩ bị thụt lùi. Các vị Tỳ Kheo trở nên xao lãng và thụ động đối với những mục đích thực tiễn. Ðiều nầy làm cho Phật Giáo suy yếu.”
Đức Đại Lạt Ma, qua tác phẩm Câu chuyện Tây Tạng: Những cuộc trò chuyện với Đức Dalai Lama (The Story of Tibet: Conversations with the Dalai Lama) của Thomas C. Laird, cũng đã giải thích một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy tàn của Phật Giáo là từ các lý do nội tại Phật Giáo: “Tôi nghĩ rằng trong trường hợp Tây Tạng cũng thế, y hệt như trường hợp Ấn Độ, có xu hướng xem xét những nguyên nhân bên ngoài. Khuynh hướng xem xét trước tiên những tác động ngoại lai đã mọc rễ sâu trong đầu con người và khó loại bỏ. Chúng ta chẳng thể làm được gì nhiều về những người khác, về những tác động ngoại lai. Nhưng chính chúng ta, nếu chúng ta không tu hành tốt, không giữ gìn giới luật, thì tôn giáo chúng ta trở thành giả dối. Đây là sự thật. Vậy đây đúng là lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ và Tây Tạng”.
Trong tam bảo Phật, Pháp, Tăng, Tăng là những vị mang giáo pháp của Đức Phật đến với con người và do đó Tăng sĩ cũng là những vị trực tiếp có ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đối với tầng lớp cư sĩ Phật Tử. Trong suốt bốn mươi lăm năm gieo rắc hạt giống từ bi, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni dành chuyến hoằng pháp cuối cùng từ thành Vương Xá đến xứ Kusinara để nhắc nhở ba điểm bất di bất dịch của một tu sĩ Phật Giáo: Giới, Định, Huệ. Đi tu để cầu giải thoát cho mình và cứu độ cho đời. Người Phật tử kính trọng tăng không phải chỉ vì chiếc y các thầy đắp mà còn vì hạnh nguyện cao cả các thầy đã chọn.
Từ khi được đảng CSVN thành lập ngày 7 tháng 11 năm 1981 tại chùa Quán Sứ Hà Nội và được xếp vào một trong 37 thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” chỉ là một đoàn thể xã hội giống như các đoàn thể khác trong mặt trận như Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Châm cứu Việt Nam, Hội nghề cá Việt Nam, Hội Làm vườn Việt Nam, Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam v.v... Một tôn giáo có lịch sử hai ngàn năm truyền thừa và đã đóng góp một phần không nhỏ cho mảnh đất hình chữ S này còn tồn tại trên bản đồ thế giới, được đặt vào vị trí ngang hàng với một hội làm vườn, cắt cỏ nhưng không một lãnh đạo “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” nào phàn nàn hay thắc mắc.
"Huân chương Hồ Chí Minh" 
Sự tuân phục, phụ thuộc của hàng ngũ lãnh đạo “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” vào đảng CS trầm trọng đến mức nhiều văn kiện từ một bài văn, bài báo bình thường cho đến đạo từ quan trọng nhân đại lễ Phật Đản của Pháp Chủ tối cao cũng không quên dành một phần lớn để ca ngợi công ơn cao dày của đảng CS. Đạo từ của Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” công bố nhân mùa Phật Đản Phật Lịch 2556, tháng 5 năm 2012 là một bằng chứng.
Thông điệp Phật Đản lẽ ra là một dịp để nhắc đến công ơn của Đức Phật đã thị hiện trên thế gian để cứu vớt chúng sinh bị đắm chìm trong ô trược, soi rọi ánh sáng từ bi trí tuệ vào nhận thức con người đang lạc loài trong tăm tối vô minh, khơi mạch suối tình thương chảy vào thung lũng hận thù giết chóc. Nhưng không, Đạo từ của Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ, vỏn vẹn chỉ một trang nhưng phân đoạn dài nhất được dành để ghi ơn Đảng Cộng Sản Việt Nam trao tặng cho giáo hội “huân chương Hồ Chí Minh”, các huân chương và bằng khen khác:
“…Trong suốt 30 năm xây dựng và phát triển, Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu Phật sự trên tất cả các lĩnh vực Đạo pháp và Dân tộc cũng như quan hệ đối ngoại Phật sự quốc tế; được Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cộng đồng xã hội đánh giá cao vị thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nhân dịp này, Đảng và Nhà nước đã quyết định trao tặng Huân Chương Hồ Chí Minh lần thứ hai cho Giáo hội, cùng một số chư Tôn đức, Cư sỹ, Phật tử có nhiều thành tựu Phật sự ích đời lợi đạo đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương Đại đoàn kết Dân tộc, Bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ và Chính quyền các cấp. Đây là minh chứng ghi nhận những đóng góp to lớn của giới Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với sự nghiệp Cách mạng của Đảng và của Dân tộc.”
Huân chương để làm gì?
Bằng khen để làm gì?
Là tu sĩ, có gì cao quý hơn vinh dự được mang họ Thích, được đắp y truyền thừa của Phật, được nương tựa vào Chánh Pháp. Danh lợi, quyền lực là một trong những giới cấm tối quan trọng của một bậc xuất gia.
Điều mỉa mai hơn, đạo từ nhằm đề cao danh lợi, đánh bóng quyền lực của một đảng vô thần lại được công bố đúng trong ngày một bậc thánh nhân ra đời chỉ để rồi 29 năm sau từ bỏ mọi quyền uy bậc nhất dành cho ngài, rời cung vàng điện ngọc, cắt mái tóc Đông cung Thái tử trả lại vua cha, khoác lên người một mảnh áo vàng và đi bằng đôi chân đất vào lòng thế gian đau khổ. Hai ngàn năm trăm năm từ ngày đại nguyện đó, trên đất nước Việt Nam có những kẻ tự nhận là con Phật, chọn ngày sinh của ngài để vinh danh, ca ngợi tầng lớp cai trị đang chà đạp lên những quyền căn bản của con người mà đức Phật đã dành 45 năm để hoằng dương giá trị. Một câu cũng đảng, hai câu cũng đảng, không một dòng nào trong đạo từ nhắc đến ý nghĩa sự ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa và bảy bước đi trên bảy đóa sen màu nhiệm.
Sự suy thoái của Phật Giáo từ cuối thời nhà Trần như cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Hoa viết trong Lịch sử Phật Giáo Việt Nam không chỉ là một bằng chứng mà còn là bài học:
“Thế mà Ðạo Phật trong đời nhà Trần, chỉ thịnh phát trong khoảng 50 năm đầu, rồi dừng lại và thoái bộ mãi. Vì hai lý do làm cho Ðạo Phật không thể tiến phát được là ở bên ngoài, sự cạnh tranh ráo riết, có nhiều khi là cả một sự đàn áp của Khổng-Giáo; và ở bên trong, giáo lý Ðạo Phật dần dần bị xen lẫn mê tín, dị đoan của những tà giáo, ngoại đạo mà các vua chúa trong đời nhà Trần rất sùng mộ.”
Hôm nay, một lần nữa, các lãnh đạo "Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam" thỏa hiệp với giới cai trị và biến đạo Phật thành một loại tà đạo mê tín dị đoan.
Tượng Hồ Chính Minh trên chánh điện Phật
Đặc tính tà đạo thể hiện qua cách chư tăng giáo phẩm đắp đại y và lạy trước tượng Hồ Chí Minh, một kẻ can tội diệt chủng qua cái chết của hàng ngàn người dân vô tội trong Cải cách Ruộng đất vô cùng bất nhân ở miền Bắc, cho cái chết thảm thương của nhiều ngàn dân Huế trong Tết Mậu Thân và cho sinh mạng của ba triệu người Việt trong suốt hai mươi mốt năm chiến tranh cưỡng chiếm miền Nam bằng bạo lực.
Về mặt giới luật, lạy một người chết, dù là ảnh, tượng, hay xác cũng phạm giới. Một tăng sĩ lạy cha mẹ ba lạy để đền đáp ơn sinh thành dưỡng dục khi xin phép xuất gia. Sau khi được cha mẹ đồng ý và đã làm lễ thí phát, tăng sĩ Phật Giáo không lạy người chết nữa dù người đó là ai. Những giới luật căn bản như thế, các tăng sĩ Phật Giáo chắc chắn đã học qua và được dạy phải sống đúng với giới luật. Các lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam dĩ nhiên biết rõ nhưng miếng bả danh vọng, lòng tham lam quyền lực đã cuốn hút họ ngày càng lún sâu vào con đường tha hóa trần tục.
Xây tượng lớn để làm gì? 
Và mới đây, để phụ họa với phong trào xây tượng các lãnh tụ CSVN, các lãnh đạo “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” cũng cho xây tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông hết sức tốn kém và hãnh diện là tượng đồng Phật Hoàng lớn nhất Việt Nam.
Xây chùa lớn, tượng đẹp để làm gì trong khi cả một dân tộc đang trầm luân trong độc tài, nghèo nàn, lạc hậu?
Trong thời đại Lý Trần, thời đại vàng son của Phật giáo Việt Nam, nhiều nhà sư đã tham gia trực tiếp vào việc trị nước chăn dân và hầu hết vua chúa không những đều là Phật tử mà còn là tổ của các Thiền tông lớn, nhưng không phải vì thế mà Phật giáo trở thành lực lượng thống trị xã hội. Trái lại, các tôn giáo khác tại Việt Nam vẫn tồn tại và có ảnh hưởng quan trọng trong mọi sinh hoạt văn hóa xã hội, thương yêu và gắn bó với nhau.
Các nhà vua thời Lý, thời Trần với quyền hạn tuyệt đối, nhưng thay vì xây dựng những đền chùa nguy nga bằng mồ hôi nước mắt của nhân dân, các ngài đã để lại cho chúng ta ngày ngay những tổ đình uy nghiêm, tôn kính nhưng với một kiến trúc vô cùng khiêm nhượng. Tại sao? Đơn giản bởi vì các ngài là những vị vua nhân từ, lãnh đạo một đất nước vừa nghèo khó, vừa phải lo chống đỡ các triều đại Bắc phương không ngừng xâm lấn. Các ngài đã biết đặt sự an lạc của dân tộc lên trên sự hưng thịnh riêng của tôn giáo mình. Các lãnh đạo Phật Giáo ngày nay đã xa rời tinh thần bao dung, từ bi và đơn giản của đức vua Trần Nhân Tông.
“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” là gì?
Phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” không đại diện cho truyền thống của một tôn giáo đã gắn liền với dòng sinh mệnh Việt Nam mà chỉ nói lên sự sợ hãi, phụ thuộc, nô lệ vào đảng CS. Đảng CS và dân tộc Việt Nam không đồng hành về tương lai mà cũng chưa hề đồng hành trong quá khứ.
Nhân dân Việt Nam muốn gì?
Nhân dân Việt Nam muốn có một cuộc sống an bình thịnh vượng trong một cơ chế chính trị dân chủ pháp trị và phát triển toàn diện phù hợp với thời đại văn minh dân chủ. Chính quyền trong cơ chế chính trị dân chủ có nhiệm vụ ngăn chận mọi hình thái độc quyền, bảo đảm công bằng xã hội và bình đẳng cơ hội cho mọi thành phần dân tộc và mọi miền đất nước, tạo dựng môi trường, điều kiện và cơ hội đồng đều để mỗi người phát huy khả năng và sở thích đặc thù, đóng góp vào việc xây dựng nền văn minh mới cho toàn dân và cho nhân loại.
Đảng CS muốn gì?
Sau hơn 80 năm qua nhiều lần thay màu đổi dạng nhưng Đảng vẫn duy trì một mục đích áp đặt quyền cai trị tuyệt đối lên toàn dân tộc Việt Nam, sống giàu sang phú quý trên mồ hôi nước mắt và xương máu nhân dân, kiểm soát mọi sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần của đời sống con người, áp dụng mọi biện pháp để tiêu diệt một cách không nương tay các hành vi chống đối, mọi tiếng nói bất đồng phát sinh từ trong lòng dân tộc. Hãy xem những hình ảnh nội thất của người đốn củi Nông Đức Mạnh và của binh nhì Lê Khả Phiêu để thấy sự xa cách giữa đời sống của hai Tổng bí thư CS và của tuyệt đại đa số còn lại của dân tộc Việt Nam. Chúng không có một chút xót thương cảm thông, chia sẻ nào dành cho đại đa số người dân đang chịu đựng trong nghèo nàn thiếu thốn. A dua theo chúng, cúi đầu tuân phục chúng là tòng phạm bán nước.
Phân tích để thấy, dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa Cộng Sản chẳng những không chia sẻ một mục đích cuối cùng chung mà còn mâu thuẫn đối kháng ngay từ trong căn bản. Do đó, về lý luận cũng như về thực tế, không bao giờ có chuyện “đảng song hành cùng dân tộc” như các lãnh đạo “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” lập đi lập lại khẩu hiệu “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội” tuyên truyền mị dân của đảng CS.
Lịch sử đạo Phật đã cho thấy, trong thời đại nào và ở đâu, các hàng tăng sĩ lãnh đạo Phật Giáo thỏa hiệp với tầng lớp thống trị, bị lôi cuốn vào vòng lợi danh và quyền lực, bàng quan trước nỗi khổ đau bất hạnh của con người, ở đó Phật Giáo không còn là đại diện cho đạo từ bi của Đức Phật. Kẻ sát nhân chỉ giết một người hay vài người, nhưng một khi các lãnh đạo tôn giáo, trong trường hợp này là “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”, bị tha hóa, toa rập với đảng CS vô thần để hủy diệt đời sống tinh thần của nhiều triệu người, những lãnh đạo Phật Giáo đó có trọng tội đối với dân tộc không khác gì lãnh đạo đảng CSVN.
26.05.2015

25/5/15

Bài ca tôi đã hát

 Bài ca tôi đã hát (phần 3) - “Đế quốc Việt Nam & CHXHCN Việt Nam ai phụ thuộc vào ngoại bang hơn ai?”


Nguyễn Thượng Long (Danlambao) - Có thể nói, trong lịch sử Việt Nam cận đại, năm 1945 là năm hội tụ những biến cố xã hội trọng đại nhất liên quan đến số phận của cả giống nòi. Từ thời điểm đó trở đi, đất nước và dân tộc đi vào trào lưu chính trị khai phóng văn minh hay là tự lạc vào mê lộ của thứ chính trị chỉ đem đến những đọa đày mà xuất phát điểm của nó là các yếu tố hoàn toàn ngoại lai, xa lạ với phẩm chất và truyền thống dân tộc? Câu hỏi đó đến nay đã quá đủ dữ liệu để trả lời. Tôi nghĩ rằng ai ai cũng nghĩ như những gì tôi sẽ viết dưới đây thôi, chỉ có điều nói ra làm gì và nói ra để được cái gì? Thì đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, một quyết định chọn lựa có thể dẫn đến những hệ lụy chết người, vậy mà nhiều người vẫn tự dấn thân vào. Phải chăng điều đó là số phận hay là tất yếu? Tôi nghĩ là cả hai.
Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên & Đế quốc Việt Nam
Có quá nhiều người Việt Nam hôm nay không biết rằng 5 tháng trước ngày ông Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại quảng trường Ba Đình 2-9-1945, thì đã có bản Tuyên Ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam với thế giới, đó là Bản Tuyên Ngôn ngày 11-3-1945 của Hoàng Đế Bảo Đại. Sau khi triều đình nhà Nguyễn tuyên hủy Hiệp Ước Patenotre và sau khi Hoàng Đế Bảo Đại chuẩn y để toàn thể các Thượng Thư lục bộ của triều đình Huế đồng loạt xin từ chức, vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập và Đế Quốc Việt Nam đã ra đời. Tư duy của người đời nay dễ dị ứng là sao quốc hiệu lại có vẻ phản cảm như thế? Ngược dòng lịch sử ta thấy khi kho tàng tiếng Việt chưa xuất hiện cụm từ “Quân Chủ Lập Hiến” thì “Đế Quốc Việt Nam” chỉ thuần túy là cách gọi tên của một quốc gia lập hiến có sự hiện diện của ngôi vua, tương tự như Thái Lan, Ấn Độ, Anh Quốc, Hà Lan, Úc... hoàn toàn không có nghĩa xấu như tên gọi Đế Quốc Mỹ sau này. Đế Quốc Việt Nam là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam độc lập với ngày Quốc Khánh là ngày 11-3-1945. 
Chính phủ đầu tiên của Đế Quốc Việt Nam do học giả Trần Trọng Kim đứng ra tạo dựng. Chính phủ này quy tụ 100% là trí thức Việt Nam ở bậc thượng thặng lúc đó, họ đã chọn Thủ đô là Phú Xuân.
Quốc kỳ là lá cờ Quẻ Ly, Quốc ca là bài Đăng Đàn Cung với lời lẽ nhân ái, bình dị, không có mùi máu người, thây người cùng sự thôi thúc khói lửa binh đao như bài Tiến Quân Ca của Văn Cao mà những người cộng sản Việt Nam trong kỳ họp quốc hội khóa I - 1946 đã chọn. Đây là lời ca của Đăng Đàn Cung: 
“Kìa núi vàng bể bạc 
Có sách trời... sách trời định phần! 
Một dòng ta - gầy non sông vững chắc. 
Đã ba ngàn mấy trăm năm! 
Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc. 
Văn minh đào tạo 
Màu gấm hoa càng đượm 
Rạng vẻ dòng giống Tiên Long. 
Ấy công gầy dựng 
Từ xưa đà khó nhọc 
Nhớ ơn dày nặng 
Lòng trung quân đã sẵn 
Cố thương nhau... thương nhau một niềm. 
 Nguyện nhà Việt Nam muôn đời thạnh trị.”
Ngôn ngữ chính thống của Đế Quốc Việt Nam là tiếng Việt, Hoàng Đế là Bảo Đại, Tổng Lý (Thủ Tướng) là Trần Trọng Kim (1883-1953)...
Nội các Chính phủ Trần Trọng Kim, từ trái sang phải: Hoàng Xuân Hãn, Hồ Tá Khanh, Trịnh Đình Thảo, Trần Trọng Kim (bị micro che mặt), Vũ Ngọc Anh, Trần Văn Chương, Trần Đình Nam, Vũ Văn Hiền, Phan Anh, Nguyễn Hữu Thi (ảnh Trung Bắc Chủ Nhật, 20.5.1945, Thư viện Quốc gia Pháp).
Vì nhiều lý do tế nhị, trong đó có lý do để tránh cho dân tộc khỏi bị cuốn vào cơn lốc của thế chiến II đang ở giai đoạn tàn lụi mà nội các Trần Trọng Kim không thành lập Bộ Quốc Phòng, mọi lo toan bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vẫn phải nhờ quân đội Nhật. Về vấn đề này, giáo sư Lê Xuân Khoa viết: 
“Chính phủ Trần Trọng Kim mang tiếng là thân Nhật, nhưng thật ra chỉ là lợi dụng cơ hội Nhật đảo chính Pháp để nắm lấy quyền cai trị, nhằm dần dần phục hồi độc lập hoàn toàn cho dân tộc. Đó là phương cách thực tế và khôn ngoan nhất mà bất cứ một chính trị gia sáng suốt nào, kể cả Hồ Chí Minh cũng sẽ chọn lựa vào lúc đó”
Đế Quốc Việt Nam ra đời và chỉ tồn tại được trong 5 tháng, từ tháng 3-1945 đến 8-1945. Tháng 8-1945 trong biến cố cướp chính quyền do Việt Minh phát động, nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim không chủ trương bạo động, không hề muốn có việc chém giết người Việt, ông Kim đã thẳng thừng từ chối lời gợi ý của tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương rằng, nếu ông Kim muốn, quân đội Thiên Hoàng lúc đó tuy đã thất thế trước đồng minh, họ vẫn dư sức giúp tiêu diệt sạch lực lượng Việt Minh lúc đó còn rất yếu. Quá tin những người cộng sản núp bóng Việt Minh sẽ đặt tổ quốc lên trên hết, dân tộc lên trên hết, Thủ Tướng Trần Trọng Kim cùng các thành viên chính phủ chủ động trao chính quyền cho Việt Minh trong ngày 23-8-1945 mà không hề có bất cứ một hành động quân sự chống đối nào. 
Rất tiếc vị Thủ Tướng đầu tiên của chính phủ quân chủ lập hiến đầu tiên của Việt Nam không hề biết thế giới quan của người cộng sản lại là cộng sản Việt Nam là “Mục Hạ Vô Nhân”, tức là chỉ có ĐCS là đỉnh cao trí tuệ, là trên hết... nên kể cả khi chưa cướp được chính quyền họ đã hoàn toàn phủ nhận sự hiện diện của Đế Quốc Việt Nam. Trong con mắt của Việt Minh thì chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ chẳng ra gì. Theo họ thì vua Bảo Đại chỉ là kẻ đàng điếm, ăn chơi vô tích sự, chính thể do ông ta tạo ra vẫn phải dựa vào Nhật Bản để tồn tại... thì đó chỉ là một chính phủ bù nhìn không thể công nhận và theo cương lĩnh chính trị của họ, chính quyền Việt Nam phải dựa trên liên minh công - nông sau này được gắn thêm cái đuôi kệch cỡm “Của Dân - Do Dân - Vì Dân” đầy huyễn hoặc. Nền học vấn của thế hệ chúng tôi vẫn đinh ninh điều đó là đúng, rằng Tuyên Ngôn độc lập ngày 2-9-1945 của ông Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình mới là number one. Thứ chính trị áp đặt vô lối đó có tôn trọng sự thật lịch sử không? Câu trả lời là không. Khi thế giới là thế giới phẳng, nhờ sự bùng nổ thông tin Internet mà nhiều giá trị tưởng rằng bất biến đã thi nhau lung lay và đổ vỡ. Người đời đã biết đến một thứ gọi là “Chính chọe” xác lập trên những trí trá, lèo lái, áp đặt, tô vẽ hết sức chủ quan của kẻ cầm quyền. Kiểu như hôm nay lãnh đạo Hà Nội nói: “Thay thế cây xanh là để môi trường sống Hà Nội ngày một tốt lên!”, nhưng thực chất đây lại là một cuộc làm ăn của đám lâm tặc thuộc đủ cấp bậc được bảo kê, ngang nhiên diễn ra giữa lòng thủ đô. 
Nhiều thập kỷ đã trôi qua, giờ đây nói nội các Trần Trọng Kim là nội các thân Nhật thì vẫn đúng, còn nói nội các Trần Trọng Kim chỉ là bù nhìn của Nhật Bản thì có quá chủ quan không, khi chỉ trong 126 ngày tồn tại (Từ 17-4-1945 đến 23-8-1945) họ đã làm được cả một núi công việc có lợi cho quốc kế dân sinh như: 
- Thả tù chính trị. 
- Thành lập tổ chức Thanh Niên Tiền Tuyến. 
- Thu hồi Nam Kỳ. 
- Cải cách hành chính. 
- Sơ thảo hiến pháp.
- Thay thế các ảnh hưởng của Pháp.
- Đưa quốc ngữ vào vị trí ngôn ngữ chính.
- Cứu đói.
Vậy mà ông Trần Trọng Kim vẫn sòng phẳng và ngang ngửa trước Tổng Tư Lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương Tsuchihashi đến như thế này: 
“Quân đội nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật…Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc đó không phải là phận sự của tôi. Tôi sẵn sàng xin lui” (Lệ Thần Trần Trọng Kim). 
Tôi nghĩ rằng nếu như chính trường Việt Nam ngay từ những ngày tháng 8-1945 trở đi được vận hành bởi những những tập thể có những dự án chính trị trong sáng, những chính khách lương thiện đủ tâm đức và tài năng lèo lái dân tộc tránh được 2 cuộc đổ máu 1945-1954 và 1955-1975 khủng khiếp nhất trong lịch sử 4000 năm mà vẫn đi đến được độc lập như hơn 40 nước cùng cảnh ngộ thuộc địa thì đến nay, nếu Việt Nam không ngang phân với Nhật Bản thì cũng không phải tủi phận ở vị trí đội sổ Asean đang bị Lào và Campuchia qua mặt và bị kẻ cuồng bạo phương Bắc không ngừng cưỡng bức như hiện nay. Rất tiếc nền chính trị của Việt Nam sau những ngày 8-1945 đã không đi vào những chính đạo dẫn đến những rạng rỡ, lại lạc bước trên những mê lộ vòng vèo chỉ dẫn đến những trớ trêu, chia rẽ, những bế tắc nhuốm mầu đọa đầy vẫn do ngoại bang chi phối. Có thể nói, chính khách Việt Nam từ 8-1945 trở đi... họ thực sự chỉ làm nhiệm vụ của những quân cờ trên bàn của các siêu cường. 
Đế quốc Việt Nam năm xưa và CHXHCN Việt Nam hôm nay... ai phụ thuộc ngoại bang hơn ai? 
Thật là một trớ trêu, 70 năm sau ngày người cộng sản Việt Nam giải thể nội các Trần Trọng Kim và coi Đế Quốc Việt Nam chỉ là bù nhìn phụ thuộc Nhật Bản... thì lúc này quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc có khác gì đâu cái tư thế ngày nào của chính phủ Trần Trọng Kim trước Nhật Bản. Tự nguyện núp dưới “Lá Bùa 16 chữ vàng và 4 tốt” đầy ma mị của Trung Quốc, mỗi lần đứng trước các ông lớn Bắc Triều, ban lãnh đạo Việt Nam hôm nay... không một ai có được, chỉ 1/3 cái khí phách của ông Trần Trọng Kim trước các võ quan Nhật Bản ngày nào qua trích đoạn trên. 
Trong con mắt của những người cộng sản, chính thể VNCH cũng chẳng tốt đẹp hơn gì "nội các bù nhìn" Trần Trọng Kim. Nhưng... hãy cùng một lần nhìn lại ánh mắt của phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ khi ông đứng trước người đồng minh Hoa Kỳ của VNCH, cũng là những kẻ đã khai tử cho chế độ này...
Người mang kính gọng đen đứng bên tay mặt ông Kỳ 
là Tiến sĩ H. Kissinger kiến trúc sư số 1 cho cái chết của VNCH 
Một cú cúi chào không bình thường 
của ôngTrương Tấn Sang, làm rầu lòng người dân Việt
Và hãy cùng đọc lại một vài xuất ngôn đình đám nhất của cuộc đua để được lòng Trung Quốc của một số ứng cử viên cho chiếc ghế TBT trong nhiệm kỳ tới, sẽ thấy tư chất bù nhìn, phụ thuộc đâu chỉ có ở nội các Trần Trọng kim và VNCH. Nếu ông Phùng Quang Thanh bầy tỏ nỗi lòng mình với Trung Quốc bằng sự xót xa hết sức vong bản, giả dối, trơ trẽn và sống sượng: 
“Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc...”
thì ông Nguyễn Tấn Dũng một người đã từng nổi tiếng là người cấp tiến, ưa Mỹ, thích phương Tây và ghét Tàu nhất, vậy mà giữa lúc Liên xô với hồ sơ Crime, Trung cộng với hồ sơ Biển Đông... đang bắt tay nhau, cảm thông và ủng hộ nhau rất bất lợi cho Việt Nam, giữa lúc quan hệ Việt-Mỹ và vấn đề vào TPP của Việt Nam đang rất tế nhị và Mỹ đang có vai trò đối trọng đủ sức làm phá sản những tham vọng của Trung cộng ở Biển Đông thì diễn văn đọc trong lễ kỷ niệm 30-4 vừa qua tại Sài gòn, ông Dũng đã làm nhiều người ngơ ngác khi ông thể hiện ông là một Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục đánh Mỹ đến cùng và quỵ lụy Tàu cũng không kém đối thủ chính trị nào. Ông Dũng đánh đi tín hiệu này cho ai đây và người đời sẽ có cảm nghĩ gì về tư thế của Việt Nam trước các siêu cường khi nghe lời miệt thị người này và lời cám ơn người khác đặt ra rất không đúng lúc của ông Dũng:

NTD đang mạt sát Mỹ
và "diễn biến" với Tàu
"Đế quốc Mỹ đã ngang nhiên áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, đàn áp tàn bạo cách mạng miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại khốc liệt ở miền Bắc. Chúng đã gây ra biết bao tội ác dã man, biết bao đau thương, mất mát đối với đồng bào ta, đất nước ta..." và "Tại buổi lễ trọng thể này, một lần nữa chúng ta chân thành cảm ơn các nước XHCN, nhất là Liên Xô, Trung Quốc".
Với người quan tâm tới thế sự, ai mà chẳng bâng khuâng và tâm tư... khi một chính khách lọc lõi như ông Dũng, người đã từng nhiều lần thoát hiểm một cách ngoạn mục trước các “Hố Đen” chính trị do các đồng chí của ông tạo ra... lại có thể có những phát ngôn hớ hênh thiếu thận trọng đến thế sao?
Chê nội các Trần Trọng Kim là bù nhìn của Nhật, miệt thị VNCH là chư hầu của Mỹ... vậy thử hỏi Việt Nam hôm nay Tự Do - Độc Lập - Tự Chủ cái gì mà ông Nguyễn Phú Trọng muốn đi Mỹ đã phải đi Tàu để quán triệt định hướng của Thiên Triều đã (!?).
Và có một hiện tượng ít người để ý là... tuy bị mang tiếng là bù nhìn của Nhật Bản, nội các Trần Trọng Kim và hậu duệ sau này của họ là Việt Nam Cộng Hòa đã không hề chủ động làm hư hao một ly, một lai đất đai biển đảo nào của tổ tiên vào tay ngoại bang, đâu có tệ hại như những thua thiệt về lãnh thổ, biển đảo luôn chỉ thuộc về phía Việt Nam trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc qua nhiều thập kỷ.
Đến đây câu hỏi “Đế quốc Việt Nam và CHXHCN Việt Nam ai phụ thuộc vào ngoại bang hơn ai?” đã có câu trả lời thuyết phục rồi. Không biết giờ đây dưới những tầng đất sâu trên cao nguyên Đà Lạt, ông Trần Trọng Kim có khi nào cựa mình mà rơi lệ trước cảnh “Quốc Thổ trầm luân!”, có chút hối hận nào cho việc đã quá dễ dàng trao quyền cho Việt Minh 70 năm về trước? Và ông có biết thất bại của ông cũng là thất bại của một chính phủ 100% là trí thức ở bậc thượng thặng. Đây cũng là một lần trí thức Việt Nam mất điểm nghiêm trọng nhất trên chính trường nước nhà.. (Còn tiếp).
Sài Gòn một chiều tháng 4-2015
Nguyễn Thượng Long
Nơi ở: Ngách 102/12 Đường Văn La - Phú La - Hà Đông, Hà nội.
- Điện thoại: 0433521066 & 01652323836.
Đón đọc: Bài ca tôi đã hát (Phần IV) - “Chính trị thớ lợ & Trí thức xu thời”

Phải thoát cái gông cùm Trung Cộng để dân tộc sống còn

 Phải thoát cái gông cùm Trung Cộng để dân tộc sống còn


Lê Hải Lăng (Danlambao) - Nếu quan sát tinh tế sự kiện đã và đang xúc tiến cho thấy Trung Cộng dùng bốn mũi dùi chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự để thực thi mộng bành trướng xuống phía Nam mà Việt Nam là cái diện chính trong mưu đồ xâm lược. Ngoại giao 4 tốt, 16 chữ vàng hai đảng anh em xiết chặt là con dao ĐCSVN tự đâm vào yết hầu dân tộc.
Về chính trị bọn hoạt đầu thời cơ trục lợi, bọn tay sai cài cắm làm lũng đoạn chia rẽ mọi cơ cấu từ trung ương tới địa phương. Về kinh tế bị lệ thuộc từ giao thương phân phối vô kiểm soát tới xây dựng phát triển càn bậy không đúng tiêu chuẩn, thực chất vì tham nhũng trong mọi đấu thầu. Tình trạng con đường theo Trung càng ngày càng đi vào ngõ cụt vì chính Bắc kinh phải đối đầu với tệ nạn tham nhũng nhất là trong quân đội. Phải gặp khó khăn trong việc kiểm soát làn sóng bạo động Tân Cương. Đã và đang gặp khủng hoảng chính trị Hồng Kông. Bị chống đối nặng nề một số nhược tiểu châu Phi khi dân địa phương nhận ra bộ mặt thực dân kiểu mới. Tốn nhiều công sức chi phí cho gián điệp và phô trương quân sự để chinh phục Đài Loan nhưng gặp thất bại não nề.
Thử hỏi tại sao ĐCSVN cứ vẫy vùng trong cái ao TC đục ngầu tanh tưởi máu?
Nói tóm lại kể từ khi ĐCSVN cai trị từ Bắc chí Nam đảng không có cả tâm lẫn tầm, không có tài lẫn trí trong quốc sách trị nước bình thiên hạ. ĐCSVN đi từ sai lầm này tới sai lầm khác, cứ sai lại đòi sửa cứ sửa rối lại sai chạy theo vòng tròn luẩn quẩn trong cái hệ thống chỉ biết đạp đổ mà chẳng biết xây dựng. Xã hội băng hoại trong mọi lãnh vực người cầm quyền cứ quy trách niệm lớp người đi trước hoặc là phủi tay đổ thừa chiến tranh. Nhưng không một ai tự nhận đảng không có năng lực lèo lái để chịu rút vào bóng tối. ĐCSVN còn ngồi trên đầu trên cổ nhân dân ngày nào là trừ gần 3 triệu đảng viên ra, không những đại đa số chịu cảnh nghèo đói lạc hậu mà còn bị ĐCSVN đưa đẩy tới họa diệt vong dưới thủ đoạn và âm mưu hai đảng gọi nhau là một nhà.
Cái gai nhọn cản bước tiến dân chủ hóa là một trọng tội ít ra trong lúc này khi giặc đã xây quân sự trên đảo, đã lợi dụng nhà cầm quyền địa phương sơ hở vì lợi nhuận cá nhân. Giặc âm thầm đóng chốt như Vũng Áng, Cửa Việt, Bình Dương, Bô Xít Tây Nguyên… Giặc áp đảo những kẻ sắp về vườn (lame duck) đi gặp gấp dàn cảnh tiếp đãi trọng thị để kẻ tay sai ngu muội cúi đầu ký hàng chục văn kiện bất lợi cho tương lai nước Việt.
Đất nước không đi lên được khi ĐCSVN tạo ra hàng trăm cánh tay nối dài hội, đoàn, tổ chức làm cái việc tuyên truyền củng cố thế lực cho đảng, bóp nghẹt mọi ngỏ ngách trí thức có khả năng khai phá sáng tạo. Ngay cả tới hàng ngũ báo chí chỉ làm một việc là cái loa mớm từng chữ của đảng thải ra cho nhân dân đọc. Làm sao có xiển dương hoằng pháp giáo huấn đạo đức khi đảng đưa hàng ngàn vạn công an mặc áo thầy tu giảng kinh Phật. Làm sao học được bác ái công bằng của Chúa khi đảng đưa du côn đập phá nhà thờ Thái Hà còn bắt giáo dân bỏ tù. Đặt câu hỏi vì đâu phi công tiếp viên đi nước ngoài buôn lậu trộm cắp. Tại vì ai hái ra tiền không tốn mồ hôi cho những người siêu mẫu chân dài bán dâm. Vì cơ quan cai trị nào mà bà mẹ hy sinh bằng cách tự tử viết giấy để lại cho chồng xin được cái hộ nghèo nuôi con. Tại cái chính sách mạnh ai nấy cướp nào khi một người đàn bà cởi truồng trước cổng cửa quyền khóc than mất đất, mất nhà chịu cảnh lang thang rách đói.
ĐCSVN hãy tự soi gương mà “định hướng” cái tội lỗi của mình. Người dân không cần đảng to mồm “định hướng xã hội chủ nghĩa” không tưởng để “sống mãi trong sự nghiệp” cái nhà tù “vĩ đại” có 3 triệu đảng viên “quang vinh” ngồi chễm chệ ngai vàng bệ ngọc bằng dùng thủ đoạn lừa dối và bạo lực để hút máu nhân dân... Người dân muốn theo xu thế thời đại chạy theo vận hành văn minh thế giới là xóa tan áp bức độc tài xây dựng tiến trình cho “TỰ DO” DÂN CHỦ”. Chỉ có chính quyền do dân ứng cử do dân bầu có tam quyền phân lập kiểm soát nhau mới có cơ hội phục hưng đất nước thịnh vượng. Lúc đó những tài năng con dân nước Việt khắp năm châu không cần ai kêu gọi hòa hợp hòa giải mà tự động về nơi chôn nhao cắt rốn góp sức phát triển mà không sợ bị thế lực đảng độc tôn đánh cướp. Quốc gia sẽ đóng vai trò vị trí mạnh trên chính trường thế giới khi có nhà nước do dân bầu, có đủ chứng cớ lịch sử để minh thị quốc tế Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Nhìn qua Miến Điện khi chính quyền độc tài quân phiệt thấy cái nguy cơ Trung Cộng. Họ đã biết hy sinh quyền lợi phe nhóm bằng cách cải đổi chính trị và mở rộng giao thương ngoại giao phát triển kinh tế theo chiều hướng kết hợp với Nhật, Âu, Mỹ. Nhờ cái thế đứng trên chân bốn kiềng. Họ đã từ từ thoát ra ảnh hưởng xích hóa trong tầm tay bọn bá quyền Bắc Kinh. Vậy chẳng lẽ nước Việt Nam cứ để hết thợ hoạn heo này tới cai cạo mũ cao su kia cai trị kiểu 4 tốt 16 chữ vàng, đi chầu dâng đất dâng biển trong bóng tối như Hội nghị Thành Đô. Chẳng lẻ 90 triệu dân chịu làm thân phận nô lệ Bắc thuộc lần thứ hai.
Trong bối cảnh hiện tại. Nếu nhà cầm quyền cứ khăng khăng đặt lợi ích hai đảng trên hết thì chính đảng vô hình chung đưa hai tay dâng trọn đất nước cho giặc mà giặc không tốn một viên đạn. Đã quá lúc phải nhìn vào thực trạng nước đã phủ lên chân rồi chứ không phải mới đến chân mà nhảy.
Thế thì nhảy thế nào để đổi thế cờ khi đã chịu tạm thời mất mã thua pháo. Phải dùng song xa (xe) chống tượng (voi) để cứu vãn tình thế. Không thể vơ cáo vơ cấu tuyên bố lưng chừng là không liên kết với một nước này để chống lại một nước khác. Chẳng lẻ các cường quốc Đức, Ý, Nhật, Anh trong khối G7 (Giant 7) có căn cứ quân sự Mỹ đóng trên đất của họ là chống lại các nước láng giềng đó sao.
Nói gần nói xa Việt Nam phải tạo thế liên minh chặt chẽ với các nước tiên tiến văn minh song song với việc thực thi quyền tự do dân chủ công bằng cho nhân dân mà ĐCSVN đã độc tôn độc tài cai trị hơn nửa thế kỷ. Tại sao cứ ôm chân cái tên TC chuyên môn ăn cắp kỹ thuật người khác đổ mồ hôi xương máu phát minh. Tại sao phải khăn quàng đỏ khi cuộc cách mạng văn hóa đã giết hàng triệu người và đạp đổ mọi di sản văn hóa. Giới cầm quyền biết mặc áo complet đi giày da “tư bản giẫy chết” thì phải sống và làm như thế mới được. Phải biết sách lược của các nước phương Tây tiêu biểu như Mỹ là vì quyền lợi chung mà dẹp bỏ tư thù trong quá khứ. Hơn ai hết Việt Nam cần tạo thế kiềng năm chân và đặt nặng trọng tâm vào cái dù Mỹ. Mỹ là con chim đầu đàn của khối NATO 28 nước. Mỹ là nước tài trợ nhiều nhất cho chí phí Liên Hiệp Quốc đóng trên phần đất của mình. Mỹ là nước đứng đầu ngọn sóng trong vụ Nam Tư khi cái sân sau của Châu Âu không tự giải quyết được. Khi TC to mồm chống chọi Mỹ đã thả bom Tòa đại sứ TC rồi sau đó lại đổ thừa là CIA cung cấp lộn bản đồ.
Quay qua chuyện Trung Đông. Sau 8 năm chiến tranh với Iran. Thay vì Saddam Hussein làm ăn với Mỹ như Saudi Á Rập, Jordan… có lợi đôi bên. Saddam đã tăng cường sức mạnh quân sự muốn làm vua trong vùng. Chuyện oái oăm thay chính ông Donald Rumsfeld trao bằng tưởng thưởng Saddam thời TT Reagan cũng là chính ông làm Bộ trưởng quốc phòng hạ bệ Saddam. Số phận Iraq ra sao đó là bài học cho ĐCSVN nhìn xa trông rộng quan thầy khi TC đối diện đương đầu làm chủ biển Đông với Mỹ. Trung Cộng muốn thống lĩnh Châu Á mà biển Đông là hiện tượng tương tự Kuwait.
Có phải chăng Mỹ để TC xây xong quân sự trên đảo mới dùng đệ tứ quyền nhà báo tự do quay phim trưng bằng chứng quảng bá cho quốc tế biết. Như vụ CuBa khi Xô Viết chuyển vận và đặt dàn phóng hỏa tiễn Mỹ đã có trong tay phóng ảnh chụp từ phi cơ thám thính tình báo U-2. Khi trưng bằng chứng đã để LHQ thấy rõ mà Xô Viết không thể phủ nhận chối cãi mà đành đoạn chịu tháo gỡ.
Trong phạm vi bài này cũng nên đề cập lại một vài trường hợp ngoại giao của Mỹ đôi khi khó tiên liệu. Lúc Mỹ đưa bà Đại sứ April Glaspie thiếu kinh nghiệm ngoại giao làm Đại sứ Iraq. Saddam tưởng chừng Mỹ coi nhẹ chuyện ông âm mưu chiếm Kuwait (cung cấp 5% lượng dầu thế giới tiêu thụ). Trong cuộc hội ý giữa bà Đại sứ và Saddam bà đã thẳng thừng trả lời: “Không có ý kiến về tranh chấp giữa Á Rập với Á Rập cũng như tranh cãi giữa Iraq với Kuwait.”
Từ đó Saddam hiểu lầm là Mỹ bật đèn xanh đứng ngoài nhìn Iraq dàn quân lên biên giới thâu tóm Kuwait. Thực sự Saddam tính toán sai lầm đến chết người.
Nhìn lại cảnh tượng biển Đông và Senkaku (Diaoyu). Mỹ đã công bố rõ rệt là không đứng về phía nào trong tranh chấp nhưng muốn ổn định hòa bình khu vực. Trong cái chiến thuật tằm ăn dâu và thái độ hung hãn miệng nói Phật tay giật cướp của TC, bắt buộc Phi và Nhật không thể ngồi yên mà tăng gia quốc phòng liên kết tập trận với Mỹ và đồng minh trong khu vực.
Mỹ đứng ngoài vòng tranh chấp nhưng Mỹ không thể để yên TC thực hành đường lưỡi bò chín đoạn. Lâu nay Mỹ coi đại dương là huyết quản trao đổi giao thương hoàn cầu. Không một nước nào khống chế tự do hàng hải kể cả Liên sô trong thời chiến tranh lạnh.
Quyền lợi thương mại thế giới mà Mỹ có chân trong G7, G20… Chờ xem TC có nuốt dược khúc xương biển Đông như Saddam muốn nuốt Kuwait thập niên 1990 không.
Việt Nam cần phải cải cách đa đảng đa nguyên để củng cố sức mạnh dân tộc đương đầu với Trung Cộng. Lá bài đã lật ngửa. Bộ mặt chứa đầy tham vọng liếm biển Đông trong đó có Hoàng sa, Trường Sa của Việt Nam đã lộ rõ chân tướng Trung Cộng miệng nói hòa bình an ninh khu vực tay lại khuyếch trương bành trướng quân sự để chiếm lĩnh. Việt Nam trong thế chẳng đặng đừng. Hãy dẹp bỏ kiêu ngạo chiến thắng người Việt giết người Việt trong quá khứ. Hãy quay lại khúc phim cái bè lũ giặc Hán từ khi bị dạy bài học tháng 2 -1979 tới bây giờ chúng đã đánh cướp đất đai biển đảo và phá hoại kinh tế, môi trường đến độ cả nước luân lý đạo đức mất đất sống chỉ vì cái quyền lợi gắn bó 2 đảng anh em.
Hãy nhìn vào “chân dung quyền lực” của siêu cường lãnh đạo thế giới mà tự kiếm tìm con đường dân chủ hóa đất nước để được ngồi dưới cái ô dù Mỹ mà bao nhiêu nước kết hợp làm ăn lợi lộc chung. Đó là thế tất yếu của Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại.
Phải thoát cái gông cùm Trung Cộng để dân tộc sống còn.

Ngày 24 tháng 5 năm 2015

40 Năm Quốc Hận - 40 Năm Đấu Tranh



Phỏng Vấn Ông Võ Đại Tôn
40 Năm Quốc Hận - 40 Năm Đấu Tranh

​​
Hữu Nguyên (huunguyen@saigontimes.org)
LGT: Trong suốt cuộc chiến chống cộng trước và sau 1975, người Việt yêu nước ở khắp mọi miền của tổ quốc, đã chứng kiến không biết bao nhiêu tấm gương anh hùng, bất khuất, trong đó, có những vị đã vị quốc vong thân, vĩnh viễn nằm xuống trong lòng đất lạnh, có những vị can đảm tuẫn tiết không chịu đầu hàng, có những vị âm thầm chiến đấu trong lao tù, có những vị ngược xuôi bôn ba, gìn vàng giữ ngọc, nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh trong suốt bốn chục năm kể từ 1975... Trong số những tấm gương anh hùng đó, chúng ta không thể không nhớ đến Ông Võ Đại Tôn, người đã sáng lập Liên Minh Quang Phục Việt Nam ngay từ những tháng năm đầu mất nước, đã từng về VN trực tiếp chiến đấu với kẻ thù CS, từng bị kẻ thù bắt cầm tù suốt thời gian hơn 10 năm, nhưng trước sau vẫn giữ được khí tiết của một người lính VNCH, sự minh mẫn của một kẻ sĩ giữa lao tù CS, và đặc biệt đã thắp sáng ngọn lửa yêu nước và niềm tin son sắt vào chính nghĩa, qua cuộc họp báo quốc tế lịch sử tại Hà Nội cách đây ngót 40 năm. Nhân dịp tưởng niệm 40 năm Ngày Quốc Hận 30-4, chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả nguyên văn bài phỏng vấn Ông Võ Đại Tôn, trong niềm hy vọng, với tấm lòng sắt son của những người Việt yêu nước, quý vị sẽ thấy được trong tâm tư, nguyện vọng và niềm tin của Ông, có cả tâm tư, nguyện vọng và niềm tin của chính mình.


Ông Võ Đại Tôn và hai vị Chủ Tịch CĐNVTD Úc Châu, LS Võ Trí Dũng (bên trái) và Ông Nguyễn Thế Phong, trong một cuộc biểu tình chống cộng tại Úc

Hữu Nguyên: Chúng tôi chân thành cám ơn Ông đã chấp thuận trả lời phỏng vấn nhân dịp Tưởng Niệm 40 Năm Ngày Quốc Hận 30.4. Câu hỏi đầu tiên, trong những ngày của tháng Tư cách đây 40 năm, Ông đang làm gì, ở đâu và có những suy tư gì đặc biệt?
Ô. Võ Đại Tôn: Ngay từ đầu tháng 3 năm 1975, tôi đã nhận lệnh công tác đặc biệt tại Cần Thơ, Quân Đoàn 4, và sau khi lệnh đầu hàng của Tổng Thống cuối cùng của VNCH (Dương Văn Minh) ban ra vào cuối tháng 4, tôi đã về lại Saigon, ngụy trang là thường dân chen chúc trên xe đò, chứng kiến sự sụp đổ toàn diện của miền Nam, trong hoảng loạn và trong uất hận. Xuyên suốt thời gian phục vụ trong quân đội, hoặc biệt phái ngoại ngạch, trong các công tác tình báo và làm việc trực tiếp với hồi chánh viên và thẩm vấn tù binh VC, cũng như xuyên qua lịch sử Dân Tộc kể từ ngày có chế độ cộng sản tại miền Bắc, tôi biết rõ sự tàn ác và xảo quyệt của người cộng sản VN trong việc sẽ trả thù người dân và quân cán chính miền Nam sau khi họ cưỡng chiếm được. Vì lẽ đó, tôi đã tìm đường vượt biển ngay từ ngày 1.5.1975, từ Saigon ra Vũng Tàu.
Gia đình tôi đã được đi chung ghe đánh cá cùng hơn 50 người, vượt biển qua Mã Lai, đến được bến bờ tự do vào tháng 7 năm 1975. Chuyến đi vô cùng gian nan, sau lần bị kẹt lại vì máy ghe hư phải chờ sửa chữa, may mắn thoát được, nhưng chuyện này còn dài không thể kể hết ra đây và cũng không phải là đề tài phỏng vấn của quý anh hôm nay. Những người cùng đi chung ghe với tôi, hiện nay đang định cư tại Brisbane, tiểu bang Queensland, Úc Châu và chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Suy tư về tháng Tư Đen Quốc Nạn, thì đối với tôi đó là ngày đau thương nhất với nhiều kỷ niệm đau buồn cho bản thân, đại gia đình dòng họ, anh em đồng đội, và trên hết là Dân Tộc. Nhưng tôi đã riêng tâm nguyện là từ những suy tư đau thương đó, tôi phải vùng dậy để mong đóng góp công sức nhỏ nhoi của mình vào việc tiếp tục phụng sự lý tưởng Tự Do Dân Chủ cho quê hương, cho đến hơi thở cuối cùng.
Hữu Nguyên: Từ Mã Lai Ông và gia đình đã đến Úc trong hoàn cảnh nào? Có những kỷ niệm đặc biệt gì trong chặng đường này?
Ô. Võ Đại Tôn: Khi ghe chúng tôi đến Mã Lai vào ngày 26.7.1975, được tạm cư trên đảo Pulau Perhentian, Trengganu, miền Bắc Mã Lai, và sau đó vài tháng thì những người đi chung ghe với tôi đều được chấp nhận cho đi định cư tại Úc. Riêng tôi và gia đình được đưa về thủ đô Kuala Lumpur vì tôi được nhận làm việc tại Bộ Quốc Phòng Mã Lai, học tiếng Mã, phục vụ trong ngành quân báo. Sau gần một năm làm việc, từ một người tỵ nạn cộng sản trắng tay đã được công việc làm thích hợp, được hưởng lương cao và phụ cấp nhà cửa xe cộ đầy đủ, sung túc, nhưng chung quanh không có người đồng hương nào cả. Hơn nữa, khi vượt thoát ra đi, lìa xa Tổ Quốc, tôi luôn mang trong lòng hoài bão sẽ có ngày trở về lại quê hương, tiếp tục đấu tranh chống cộng, chứ không phải ra đi để thụ hưởng tự do và đời sống mới phong phú cho riêng mình và gia đình nơi xứ người. Vì lẽ đó, tôi và gia đình lại xin đi định cư tại Úc và đã được chấp nhận vào tháng 6.1976. Đến Úc, tôi có công việc làm ngay, nhưng rồi cũng bỏ để đi nhiều nơi trên thế giới, thành lập các phong trào kháng chiến phục quốc, tìm đường về lại quê hương vào năm 1981, như quý anh đã biết. Bỏ lại vợ con bơ vơ nơi xứ người, tuy thiếu bổn phận với gia đình nhưng tôi đã giữ vẹn được lời thề phục quốc, không thẹn với lương tâm. Tuy không thành công cụ thể như mong ước, nhưng tôi không hề cúi mặt. Câu chuyện về lao tù, họp báo tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 1982, công cuộc tiếp tục chống cộng (chống cái ác) của tôi sau này thì quý anh đã biết rõ, tôi không muốn nói nhiều vì sẽ có người cho là tôi tự đề cao. Tôi đã hứng chịu quá nhiều oan khiên rồi. Tôi có làm cho tôi một câu thơ để mỗi ngày đọc lên như là lời tâm nguyện đối với quê hương: “Dù là bụi, xin vuông tròn hạt bụi. Lăn theo đường Tổ Quốc của ta đi”. Tôi chỉ có tâm nguyện duy nhất là được làm một người con trung hiếu với Mẹ Việt Nam.


Tại Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận đầu tiên ở Sydney, Ông Võ Đại Tôn (đầu chít khăn tăng, đứng bên trái) đang tố cáo CSVN vi phạm Hiệp Định Paris, xâm lăng Miền Nam

Hữu Nguyên: Được biết, Ông là người đầu tiên tại hải ngoại thành lập các tổ chức Kháng Chiến Phục Quốc, và cũng là người đầu tiên và duy nhất tại Úc Châu đã trở về quê hương để chiến đấu chống cộng vào năm 1981. Ông cũng là người có cơ hội đi nhiều quốc gia, gặp gỡ nhiều cộng đồng người Việt. Như vậy, Ông đánh giá sức mạnh đấu tranh của người Việt tại Úc nói riêng và hải ngoại nói chung, trong 40 năm qua như thế nào? Và sức mạnh đấu tranh đó sẽ phát triển ra sao trong 40 năm tới?
Ô. Võ Đại Tôn: Thưa quý anh, vì công tác đấu tranh liên tục, chia sẻ trách nhiệm với các đoàn thể bạn cùng chung mục tiêu, và với chủ trương “Kết hợp Lòng Người - Giải Trừ cộng sản - Quang phục Quê hương” của tổ chức Liên Minh Quang Phục Việt Nam của anh em chúng tôi (trước đây là Chí Nguyện Đoàn Hải Ngoại Phục Quốc tại Hoa Kỳ và Âu Châu, và Lực Lượng Dân Quân Yểm trợ Phục Quốc tại Úc Châu), tôi đã đi hầu hết các quốc gia có người Việt tỵ nạn cộng sản định cư, luôn cả có lần đã qua tận Mạc Tư Khoa sau khi ở tù về. Đối với câu hỏi này, xuyên suốt một giai đoạn dài 40 năm tại hải ngoại, xin phép cho tôi được dài dòng một chút vì nếu ngắn gọn quá thì không nêu rõ được nét chính trong bức tranh toàn diện.
Tôi cố gắng tóm lược, trong thập niên 1975-1985 là giai đoạn bùng dậy của các phong trào kháng chiến phục quốc tại khắp năm châu trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vết thương còn đỏ máu, lòng hận thù còn sôi sục, tuổi trẻ còn hăng say, số lượng những người tham gia vào các công tác chống cộng có thể nói là lên đến đỉnh cao nhất trong lịch sử lưu vong. Hầu như người Việt tỵ nạn cộng sản nào cũng tự nguyện tích cực tham gia toàn thời hoặc bán thời vào các công tác đấu tranh chống cộng. Không ai thờ ơ đứng bên lề. Đã có những người trở về quê hương để kháng chiến phục quốc. Tiếng hô đả đảo cộng sản trong các cuộc biểu tình mà người tỵ nạn tự động tìm đến tham gia, không cần mời mọc, vang dậy nhiều góc trời hải ngoại. Những đêm tôi chứng kiến lễ tuyên thệ Phục Quốc tại các nơi tôi đã đi qua, mỗi lần cả trăm thanh niên quỳ khóc trước bàn thờ Tổ Quốc, nguyện thề dâng hiến đời mình cho Tổ Quốc Tự Do. Người ngoại quốc cũng đã từng chứng kiến với sự kính trọng và khâm phục tinh thần chống cộng mãnh liệt của đồng hương chúng ta khắp nơi, kể luôn cả vùng trời Úc Châu này. Tại đây, Hiệp Hội Các Quốc Gia Bị Cộng Sản Chiếm Đóng (Captive Nations) đã long trọng mời chúng tôi là những người tỵ nạn đầu tiên đến Úc, - sau khi chứng kiến cuộc biểu tình Quốc Hận đầu tiên tại Sydney (1977) - với đoàn người chít khăn tang im lặng diễn hành qua các đường phố - sau khi chứng kiến đoàn cựu quân nhân VNCH đi diễn hành (gồm 25 người) lần đầu tiên trong ngày Anzac Day 25.4.1977 - sau khi nghe chúng tôi đi thuyết trình tại các cộng đồng di dân bạn và các trường học - làm Hội Viên chính thức của Hiệp Hội. Đảng Tự Do tại Úc đã tổ chức một buổi lễ long trọng và cảm động tại Bankstown Town Hall (1978) để trao lại cho chúng tôi lá quốc kỳ VNCH mà họ còn lưu giữ được sau ngày mất miền Nam. Khi Luật Sư David Clarke (hiện nay là Thượng Nghị Sĩ Quốc Hội NSW) trao lá quốc kỳ VNCH cho chúng tôi, cả hội trường đồng loạt đứng dậy, và đồng hương tỵ nạn CS tự động hát quốc ca VNCH trong nước mắt. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh xúc động này. Hiện nay, chúng tôi vẫn còn lưu giữ lá quốc kỳ này, đặt tại Nhà Thờ Quốc Tổ trong tổ chức của anh em chúng tôi. Sau đó, lần lượt nhiều tổ chức đấu tranh bạn công khai hoạt động, cộng đồng ngày càng vững mạnh và đoàn kết, theo đà tăng trưởng của số lượng đồng bào chúng ta đến định cư tại Úc. Các nhóm Sinh Viên Đoàn Kết thân Cộng đã phải tan hàng, không dám xuất đầu lộ diệnTinh thần chống cộng của đồng hương chúng ta dâng lên mãnh liệt khắp Úc Châu. Tại các quốc gia khác trên thế giới cũng đều hừng hực lửa đấu tranh trong cộng đồng tỵ nạn.
Sau này, theo thời gian và đời sống nơi xứ người, luôn cả những trở ngại mà tôi sẽ nêu ra một cách tổng quát sau, nên số lượng người tham gia trực tiếp vào công cuộc đấu tranh chống cộng tại hải ngoại có phần giảm đi so với thời gian đầu như tôi vừa trình bày (thập niên 1975-85), nhưng phẩm chất lại được trui rèn và nâng cao hơn trong tinh thần và kinh nghiệm của những người còn đang tiếp tục con đường đã chọn qua Lẽ Sống.
Nói về 40 năm sắp tới thì thế hệ của chúng tôi sẽ không còn nữa, nhưng tôi tin tưởng mãnh liệt, với xu thế dân chủ của thời đại, với chu kỳ lịch sử, với tội ác của cộng sản ngày càng được phơi bày qua kỹ thuật thông tin hiện đại, với Lòng Dân, nhất định chế độ cộng sản sẽ không còn tồn tại lâu dài trên quê hương chúng ta. Nhất định Thiện sẽ thắng Ác. Muốn sớm thấy được ngày hạnh phúc Tự Do Dân Chủ và Tình Người thực sự của Dân Tộc, mỗi người và mọi người con dân nước Việt phải tự thức tỉnh lương tâm để cùng Toàn Dân chiến đấu về mọi mặt, để tự cứu lấy quê hương; chứ không phải chỉ khoanh tay ngồi chờ và ủy nhiệm cho một số người tại hải ngoại và quốc nội tiếp tục cuộc hành trình còn lại. Đây là Cuộc Chiến Đấu của Lòng Người và Cuộc Chiến Đấu của Toàn Dân. Lấy Nhân Nghĩa thắng hung tàn, lấy Trí Nhân thay cường bạo.
Hữu Nguyên: Xin Ông cho biết, những điểm mạnh, yếu đối với các phong trào đấu tranh tại Việt Nam trong 40 năm qua? Và theo Ông dự đoán, triển vọng 40 năm tới, tình hình Việt Nam sẽ có những biến chuyển quan trọng gì?
Ô. Võ Đại Tôn: Thưa quý anh, tại quốc nội, mấy chục năm trước, chế độ cộng sản đã bưng bít thông tin toàn diện, dùng bạo lực để cai trị và củng cố đảng của họ, nhưng ngày nay, nhờ vào kỹ thuật thông tin hiện đại, và giao lưu toàn cầu,bức màn sắt bịt kín của họ đã bị phá thủng, đặc biệt là tâm lý sợ hãi trong lòng quần chúng bị áp bức đã không còn như xưa. Lòng Dân đã được thể hiện quyết liệt qua các cuộc biểu tình dân oan khiếu kiện, các nhà đấu tranh trong nước đủ mọi thành phần; đặc biệt là giới trẻ đã và đang đứng lên đòi hỏi cho quyền sống và lẽ sống của dân tộc. Tất cả các đồng bào dũng cảm trong nước đều được sự tin yêu và yểm trợ của cộng đồng NVTD hải ngoại và thế giới Tự Do. Nhiều đốm lửa đã được nhen nhúm và nhất định sẽ tập hợp trở thành một cơn bão lửa, một trận cuồng phong sẽ phá sập chế độ phi nhân, đốn hèn với bao tội ác đang được phơi bày ngày càng rõ nét.
Về điểm yếu, tất nhiên trong cuộc chiến đấu nào cũng gặp phải trở ngại, riêng trong cuộc đấu tranh chống cộng quyết liệt này, nếu chúng ta đồng tâm hiệp lực, mỗi người đều ý thức trách nhiệm, thì sẽ vượt qua được những trở ngại ấy. Trở ngại, hoặc điểm yếu căn bản, riêng tôi nhận thấy, thuộc về Tâm Lý nhiều hơn là chiến thuật. Chế độ cộng sản đang vùng vẫy, gia tăng trấn áp để mong tồn tại thêm một thời gian nữa trước xu thế dân chủ của thời đại và trước Lòng Dân không còn tin tưởng những chiêu bài mị dân. Về tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN luôn cả đại đa số đảng viên các cấp đã và đang phơi bày bộ mặt thật đầy dối trá, tham nhũng và bạo lực, “ác với dân, hèn với giặc Tàu”.
Họ sử dụng ngón đòn thâm hiểm nhằm thỏa mãn Tâm Lý hưởng thụ của con người để mong vượt thoát mọi chống đối. Trong nước, họ tạo ra một xã hội vật chất, sa đọa, tranh đua thụ hưởng mọi mặt trong mọi tầng lớp dân chúng và đặc biệt với thế hệ trẻ, để con người chỉ biết lo kiếm tiền bằng mọi cách để vui chơi mà quên đi sự chống đối về chính trị, có nghĩa là chống lại việc làm sai trái của đảng cộng sản. Chưa lúc nào nền Đạo Lý Nhân Bản của Tổ Tiên bị băng hoại như ngày hôm nay dưới chế độ cộng sản. Tổ Quốc thật sự đang lâm nguy.
Đối với cộng đồng hải ngoại, CSVN sử dụng mọi chính sách để ve vuốt, khuyến dụ, khuynh loát hàng ngũ đấu tranh, bằng cách “mở cửa” cho về thăm quê hương, vui chơi thỏa thích, che giấu sự đàn áp một cách xảo quyệt, dùng tiền bạc hàng chục tỷ đô la mỗi năm mà đồng hương chúng ta gửi về để trang trí thêm mặt nổi cho chế độ, và dội ngược ra lại hải ngoại để mua chuộc, nuôi dưỡng những phần tử trở cờ, đánh phá sự đoàn kết cộng đồng. Tâm Lý thương nhà nhớ nước trong lòng những người đã lìa xa Tổ Quốc mấy chục năm qua đã được VC ve vuốt nồng hậu, tiếp đón ân cần, giao lưu dễ dàng... Tất cả đều được sử dụng như là một ma thuật để củng cố chế độ. Chúng ta đã rơi vào bẫy của “điểm yếu Tâm Lý” đó, của con người bình thường trong mọi xã hội, và gián tiếp hoặc trực tiếp làm suy yếu sức mạnh đấu tranh chống cộng toàn diện, hải ngoại cũng như quốc nội. Ngoài ra, còn có yếu tố thời gian 40 năm dài, thế hệ cựu quân cán chính chống cộng của chúng ta từ nguồn gốc VNCH cũng sẽ bị mỏi mệt vì tuổi già sức yếu, hệ lụy lao tù, hoặc không còn tồn tại nữa. Thế hệ tuổi trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh, không hiểu rõ hiểm họa cộng sản, riêng với thế hệ trẻ từ hải ngoại, nhìn quê hương cội nguồn như là một xứ lạ, nếu có về là chỉ đi du lịch như một người ngoại quốc, tiền đồ Dân Tộc chỉ là điều không mật thiết đối với cuộc sống hàng ngày !
Về viễn ảnh Việt Nam trong vòng 40 năm tới, tôi đã thưa ở phần trên. Hy vọng có dịp sẽ trở lại trong một chuyên đề phỏng vấn để được trình bày chi tiết hơn, như là một tham luận chính trị. Điều duy nhất tôi có thể khẳng định là với Lòng Dân và với sự chuyển mình của Lịch Sử Dân Tộc, không có một chế độ phi nhân bạo tàn nào có thể tồn tại lâu dài. Dân Tộc chúng ta nhất định sẽ giải trừ được chế độ công sản và quang phục quê hương về mọi mặt. Tất cả đều tuỳ vào sự thức tâm, trách nhiệm và bổn phận của mỗi người và mọi người dân Việt, trong cũng như ngoài nước.
Hữu Nguyên: Do hoàn cảnh đặc biệt của gia đình Ông cũng như sự từng trải của ông, một người bôn ba khắp năm châu bốn biển tiếp tục cuộc đấu tranh chống cộng, chắc chắn Ông biết được nhiều bí mật liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam trước 1975, cũng như công cuộc phục quốc sau 1975. Nay sau 40 năm kể từ ngày Quốc Hận 30.4.1975, xin Ông chia sẻ một vài bí mật có giá trị như là những bài học lịch sử và ý nghĩa cho cuộc đấu tranh hiện nay?
Ô. Võ Đại Tôn: Cá nhân tôi chỉ là thuộc cấp thừa hành trong quân đội cũng như chính quyền VNCH trước 30/4/1975, cho nên không thể trong một vài phút hoặc một vài trang giấy nêu lên những điều mà quý anh gọi là “bí mật”. Tôi chỉ xin nêu ra một điều có thể nói được bây giờ, còn những chuyện khác, luôn cả công cuộc phục quốc sau 1975, xin khất lại những dịp sau. Tôi đã viết bài thơ “Mẹ VN ơi, chúng con vẫn còn đây”  vào năm 1972, trước khi hòa đàm Paris chấm dứt và ba năm trước ngày miền Nam bị cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 phổ nhạc có lẽ quý anh đã nghe nhiều lần trong các sinh hoạt cộng đồng hải ngoại. Trong bài thơ có câu (nguyên văn):“Mẹ lòng đau, phương Bắc chiếm phương Nam”. Tôi không cần thiết phải “phịa” ra ngày tháng sáng tác thơ văn của tôi làm gì, nhưng chỉ nêu ra làm ví dụ về điều tôi đã nghe nói trước, qua tiếp xúc, và qua việc nhận lệnh thi hành một vài công tác đặc biệt từ những vị có thẩm quyền, luôn cả việc tiếp xúc với một vài cố vấn Mỹ liên hệ lúc bấy giờ. Xin nhấn mạnh lại một lần nữa, tôi chỉ là cấp thừa hành, chỉ được nghe và ghi nhớ một vài điều về “mệnh nước” của chúng ta, thế thôi. Tôi không dám lộng ngôn để kể lại hoặc viết ra những điều trọng đại đã thuộc về lịch sử.
Hữu Nguyên: Được biết, trong những ngày này của 35 năm trước, Ông được mời qua Pháp tham dự và phát biểu trong buổi lễ Ngày Quân Lực VNCH, 21.6.1980, tổ chức tại Paris dưới quyền chủ tọa của Trung Tướng Trần Văn Trung. Ngày 19.7.1980, sau khi Ông đi qua Hoa Kỳ để cắt máu tuyên thệ Trở Về Quê Hương tại Los Angeles, thì Chiến Dịch Người Về được phát động và các Ủy Ban Yểm Trợ được thành lập khắp nơi. Cùng lúc đó, chiến dịch phao tin đồn nhảm, đánh phá Ông và báo Trắng Đen cũng xảy ra tràn lan. Hậu quả, đến tháng 2 năm 1981, khi Ông là người đầu tiên trở về quê hương chiến đấu phục quốc thì chưa một Ủy Ban Yểm Trợ nào đóng góp được tiền bạc ủng hộ ông. Nguyên nhân vì đâu có những đánh phá ác liệt như vậy?
Ô. Võ Đại Tôn: Thưa quý anh, quý anh là những nhà báo, thường đi sát với quần chúng trong mọi giai tầng xã hội để tìm hiểu dư luận, phân tách tin tức, viết bài bình luận... thì có lẽ hơn ai hết, quý anh đã biết rõ về ý nghĩa của hai chữ “Lòng Người”. Tự nguyện làm “Cách Mạng” trong một giai đoạn còn nhiều khó khăn, kẻ thù còn theo đuổi, nhiều cá nhân còn mang đủ loại mặc cảm, ganh ghét đố kỵ, vô chính phủ, thì việc kêu gọi giúp đỡ “Người Về” lúc bấy giờ đã bị xuyên tạc là “ảo tưởng”, “điên khùng”, lừa bịp, không thức thời vận. Tuy tinh thần chống cộng vẫn còn mãnh liệt nhưng “Lòng Người” như con chim bị đạn, kèm theo việc đánh phá nhất định của kẻ thù chung, thì chúng tôi đành phải chấp nhận đương đầu với nhiều sự việc phủ phàng, vượt qua nỗi cô đơn để quyết chí hoàn thành tâm nguyện của mình trong Lẽ Sống.
Những Đấng Thiêng Liêng tối cao trong nhân loại, như Đức Giê-Su và Đức Phật, chỉ đi rao giảng Tin Lành, truyền bá đạo sống Từ Bi Bác Ái cho chúng sinh, mà Quý Ngài còn bị con người đóng đinh trên thập giá, còn bị ném đá vào gốc bồ đề, còn bị xuyên tạc mạ lỵ, huống hồ chúng tôi chỉ là cát bụi, tự nguyện vươn mình lên làm viên gạch lót đường, thì chuyện bị dèm pha, đánh phá, chửi bới cũng là lẽ thường tình trong xã hội con người. Ngay cả đến bây giờ, cá nhân tôi cũng còn là nạn nhân của nhiều điều mạ lỵ, oan khiên. Những nhà đấu tranh đang bị khốn cùng trong nước cũng đang bị xuyên tạc, bôi bẩn. Nhưng tôi luôn luôn tin tưởng vào sự sáng suốt và công tâm của đại đa số đồng bào thầm lặng. Làm việc nước phải chấp nhận tất cả, ngay cả cái chết để tròn đạo nghĩa với Tổ Quốc.
Quý anh mỗi ngày có thể nghe được hoặc đọc được những điều tiêu cực này trong xã hội và trên mạng lưới thông tin. Theo tôi nghĩ, và đã tự rút ra cho mình nhiều kinh nghiệm sinh tồn, nếu chúng ta còn có lương tâm trong sáng, còn có hành động vì chính nghĩa, còn biết đau niềm đau của Tổ Quốc, còn biết nép mình theo cuộc hành trình chân chính của Dân Tộc, còn biết đến Lẽ Sống và Đạo Sống của dân tộc, không tranh giành quyền lợi riêng tư và hư danh, không lừa bịp ai, thì xin chấp nhận những phũ phàng đó trong đời để tiếp bước theo lý tưởng đã chọn. Nỗi đau cá nhân thật quá nhỏ bé đối với nỗi nhục lớn của dân tộc. Nản lòng và bỏ cuộc là tự thua. Chỉ có thế thôi. Chỉ nên sợ một điều là nếu chúng ta không thành tâm hành động đúng theo nguyện vọng của Toàn Dân thì sẽ bị chính Dân Tộc đào thải, khinh miệt chúng ta.
Hữu Nguyên: Trong bài viết “Tiếng vọng hoàng hôn” của Ông được phổ biến trên mạng lưới thông tin toàn cầu và đã được báo Saigon Times đăng lại cách đây 5 năm, khi đề cập đến việc Ông bị VC bắt ngày 23.10.1981, trên đường về quê hương phục quốc, Ông cho rằng đó là “một tai nạn bất ngờ”. Nhưng trong một bài báo do tác giả Sedgwick Tourison (có tên Việt là Tùng), thuộc phòng quân báo Hoa Kỳ (Defense Intelligence Agency) kể lại buổi nói chuyện giữa Ông và tác giả, Ông đã cho biết là chuyến trở về quê hương của Ông đã bị lộ vì một Việt kiều ở Thái Lan tên là Chung. Xin Ông cho biết rõ thêm về sự kiện này?
Ô. Võ Đại Tôn: Xin cám ơn quý anh cho tôi cơ hội làm sáng tỏ thêm về việc này. Trước hết, xin kể lại một mẩu chuyện vui liên quan đến tác giả Sedgwick Tourison này. Tên Việt Nam của Ông ta là Trần Văn Tùng, tác giả nhiều cuốn sách giá trị phân tách sử liệu vừa được giải mã liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong đó có cuốn “Secret War - Secret Army”, cũng có đề cập một đôi dòng về cá nhân tôi. Ngày tôi ra khỏi ngục tù cộng sản vào cuối năm 1991 về lại Úc, và đi Hoa Kỳ vào năm 1992 để tri ân đồng bào, tôi đã đến Hoa Thịnh Đốn, ngụ tại nhà một thân hữu. Vào một buổi chiều, trong lúc tôi vắng nhà, có điện thoại reo lên và vợ tôi bắt chuyện với người đầu dây. Giọng người đàn Ông nói tiếng Việt rành rọt:
- Xin phép bà cho tôi thưa chuyện với Ông Võ Đại Tôn.
- Thưa, nhà tôi đi vắng. Xin Ông cho biết quý danh.
- Thưa bà, nhờ nói lại với ông, tôi là Tourison tức là Trần Văn Tùng đây, xin hẹn Ông ngày mai lúc 10 giờ sáng tại quán cà phê Mimosa, tôi có món quà đặc biệt để tặng ông.
- Ủa, Ông là người Mỹ phải không?
- Thưa bà, tôi là người Mẽo chứ không phải Mỹ (cười). Tôi là bạn cũ của Ông nhà.
- Sao Ông nói tiếng Việt sõi thế, tôi thực sự không ngờ!
- Thưa bà, tôi nói tiếng Việt nhưng là giọng Bùi Chu Phát Diệm đấy ạ, vì thầy của tôi là người Bùi Chu di cư vào Nam đấy ạ.
Câu chuyện còn dài, nhưng tôi kể ra như vậy để mô tả thêm về Ông bạn Trần VănTùng này. Khi gặp nhau, Ông ta có tặng cho tôi mấy tấm ảnh chụp trại tù Thanh Liệt nơi tôi đã bị giam cầm hơn 10 năm ở Hà Nội, và nói: “Chúng tôi biết Ông bị giam ở đây!”...
Về lộ trình của tôi về nước năm 1981, không phải bị lộ vì một Việt kiều ở Thái Lan, có lẽ Ông ta viết lại câu chuyện không rõ. Tên của Việt kiều này là Trung (Nguyễn Chí Trung) chứ không phải là Chung. Khi tôi còn tạm trú ở Bangkok, chờ ngày vào mật khu kháng chiến Lào Tự Do của Tướng Vang Pao, tôi được một vài nguồn tin riêng cho biết đương sự (trước 1975 có làm việc tại tòa đại sứ VNCH ở Thái Lan) thân cộng. Tôi có đến nhà của đương sự ở một vài ngày, nhưng sau đó thì dọn đi chỗ khác ngay, và không liên lạc gì với đương sự suốt cả thời gian tôi tạm trú ở Bangkok và cho đến ngày tôi lên đường.
Ngày giờ xuất phát và lộ trình qua Cao Miên lần thứ nhất và qua Hạ Lào lần thứ hai, không ai biết ngoài tôi, và tôi đã thay đổi thường xuyên các hướng đi để tránh địch. Và khi tôi bị sa cơ là do Lào Cộng vây bắt chứ không phải Việt Cộng. Thật là khôi hài và ngây thơ nếu có ai nghĩ rằng VC "dàn trận” suốt biên giới Lào- Cao Miên- Việt - mấy ngàn cây số, 24/24 giờ hàng ngày hàng tháng để chờ “bắt” tôi, trong khi họ không biết tôi sẽ đi đường nào và đi lúc nào? Như tôi đã nói, khi bị sa cơ, thất bại, thì có kẻ đàm tiếu lúc trà dư tửu hậu hoặc vì ganh ghét đố kỵ nào đó - luôn cả VC - thêu dệt thêm nhiều chuyện để xuyên tạc, mạ lỵ, và kẻ thù thì “đề cao” sức mạnh bao vây của họ, “không để lọt bất cứ một tên phản động nào!” Đây chỉ là “mẹo vặt tuyên truyền xảo trá”. Tôi đã viết rõ sự việc này trong cuốn hồi ký “Tắm Máu Đen” của tôi rồi. (Xuất bản tại Úc năm 1992, tái bản tại Hoa Kỳ năm 2000).


Ông Võ Đại Tôn tại cuộc họp báo lịch sử ở Hà Nội ngày 13.7.1982

Hữu Nguyên: Một trong những sự kiện quan trọng trong cuộc đấu tranh chống cộng suốt 40 năm qua, cũng như trong cuộc đời của Ông, là cuộc họp báo tại Hà Nội vào ngày 13.7.1982, Ông đã can đảm và bình tĩnh, tuyên bố những lời son sắt: "Tôi sẽ không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ tôi, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi, tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi sẵn sang chấp nhận bất cứ bản án nào mà chế độ CS dành cho tôi”. Thưa Ông, bây giờ, sau thời gian hơn ba thập niên, Ông nghĩ những lời tuyên bố đó đã có những ảnh hưởng tích cực gì đối với bản than ông, với chiến hữu của ông, cũng như với người Việt trong và ngoài nước?
Ô. Võ Đại Tôn: Thưa quý anh, tuổi đời của tôi đang ở vào buổi hoàng hôn, tôi vẫn luôn tâm nguyện một điều duy nhất là được làm một viên gạch lót đường cho thế hệ trẻ bước lên và tiến thẳng về đài vinh quang của Tổ Quốc trong Tự Do Dân Chủ, Nhân Bản và Tự Chủ. Ba mươi ba năm về trước, ngày 13.7.1982, tôi đã đơn độc đứng trước sự bao vây của cả một chế độ đang ở trên đỉnh cao quyền lực sau khi cộng sản Bắc Việt vừa chiếm được miền Nam, Liên Xô và Đông Âu chưa sụp đổ, tôi biết được lẽ tử sinh của đời mình. Có lẽ quý anh và quý vị ở ngay trong nước hoặc ở ngoài, không thể hoặc ít cảm thông được giây phút căng thẳng tinh thần và tâm lý của tôi phải đương đầu với bạo lực toàn diện. Nếu quý anh coi lại cuộn phim do ký giả Mori Watanabe (đài truyền hình Nhật Bản NHK) lén đem ra được hải ngoại về cuộc họp báo tại Hà Nội, quý anh và quý vị sẽ thấy trong một vài giây phút, tôi đã ngước mặt lên trần nhà, nước mắt tôi đã chảy ra. Đấy là giây phút tôi cầu xin vong linh của mẹ tôi giúp cho tôi được chết trong danh dự, trong tinh thần bất khuất, trọn trách nhiệm của một người lính VNCH, một người dân biết tròn đạo nghĩa, một người con không làm tủi nhục gia phong, một người chồng người cha giữ vẹn lời thề. Tôi đã phải trải qua gần một năm ròng, dùng mọi phương cách, mới đánh lừa được người cộng sản vốn đầy bản chất xảo quyệt, để được ra họp báo quốc tế, và tôi biết tôi chỉ có được một hai phút, bất ngờ chớp thời cơ, để nói lời tâm nguyện cuối cùng. Tôi đã âm thầm suy nghĩ ngày đêm, là nếu tôi chỉ la to lên “Đả đảo cộng sản!” thì cái chết của tôi, nếu bị tử hình, cũng chẳng đi tới đâu, vô ích. Tôi cần gửi lại một điều tạm gọi là thông điệp cuối cùng của một người tù trước giờ nhất định sẽ bị trả thù tàn bạo nhất, kể cả tử hình. Vì lẽ đó, tôi đã nhanh chóng tuyên bố những lời nói trên, trong vòng 2 phút, rồi chấm dứt. Thản nhiên chờ đợi bất cứ một bản án nào, trước một chế độ đầy bạo lực. Những lời tôi tuyên bố là rút gọn từ những bài học Văn Hiến Dân Tộc, về Nhân Dũng Trí Tín, tinh thần bất khuất mà Tiền Nhân đã dạy cho tôi qua dòng máu Dân Tộc. Bây giờ, tôi vẫn tiếp bước theo thông điệp đó để tuân theo Lẽ Sống và Đạo Sống của một công dân bình thường trước cơn quốc nạn. Và, anh em chiến hữu trong tố chức của chúng tôi đã hiểu được Tâm Nguyện đó.
Còn đối với người Việt trong và ngoài nước, thì thú thật với quý anh, tôi không dám nghĩ đền bất cứ ảnh hưởng nào cả, vì lẽ tôi chỉ là một người dân đang cố nép mình theo quý vị trên con đường chính nghĩa của Dân Tộc. Xin hãy dạy tôi, hãy nâng tôi đứng dậy và giúp tôi được làm tròn bổn phận và nghĩa vụ của một người Dân Việt bình thường trong cơn quốc nhục hiện nay của dân tộc.
Hữu Nguyên: Trong cuộc đời của mỗi người Việt tỵ nạn thường có những cuộc hội ngộ kỳ diệu. Ông không những là một người tỵ nạn, còn là một chiến sĩ phục quốc, một người sống trong lao tù cộng sản hơn 10 năm, rồi sau khi ra tù, tiếp tục bôn ba khắp các quốc gia có người Việt hải ngoại sinh sống để giữ lửa đấu tranh. Xin Ông kể lại một vài duyên hội ngộ kỳ diệu có ý nghĩa trong cuộc đời tranh đấu của ông?
Ô. Võ Đại Tôn: Thưa quý anh, duyên hội ngộ gọi là kỳ diệu đầu tiên là lúc tôi ra khỏi máy bay Qantas bước vào phi trường Sydney, sau hơn 10 năm lao tù từ Hà Nội, tôi đã thấy vợ con tôi và quý vị đồng hương cùng anh em chiến hữu của tôi ào đến ôm tôi, nghẹn ngào. Tôi tuởng như mình đã từ địa ngục được đầu thai vào kiếp sống mới. Sững sờ và bấn loạn tâm hồn. Đứa con trai duy nhất của đời tôi, lúc tôi ra đi chỉ mới lên 2 tuổi, bây giờ đã trở thành một thiếu niên, tôi không nhận ra vì tôi đã sống trong xà lim tăm tối với sự mơ tưởng về hình ảnh của một đứa bé thơ. Con tôi không nói gì cả, có lẽ cũng ngỡ ngàng, không biết tôi là ai, nhưng cháu đã khóc. Nước mắt tự nhiên chảy ra từ máu chung dòng.


Hình chụp Ông Võ Đại Tôn trước khi về VN phục quốc (trái) và sau khi ra tù trở lại Úc.

Và vợ tôi, ánh mắt đã ngời lên mừng tủi, nhưng không dám nhìn thẳng tôi vì hình hài của tôi quá tang thương tiều tụy. Và tôi cũng nghe trong đám đông đồng hương tiếng khóc gào của một bà cao niên, mà hiện nay tôi thỉnh thoảng vẫn gặp lại bà ngoài phố: “Trời ơi, sao mà gầy ốm quá vậy, Ông Tôn ơi”. Tiếng khóc của tình Dân Tộc ban cho tôi thêm sức sống. Còn bao nhiêu hội ngộ kỳ diệu nữa, không thể kể hết, khi tôi như từ cõi chết trở về.
Riêng đối với người ngoại quốc, tôi đã có một hội ngộ kỳ diệu, tưởng như là chỉ xảy ra trong tiểu thuyết. Đấy là vào năm 1993(Liên Bang Sô Viết đã sụp đổ) khi tôi qua Mạc Tư Khoa cùng với quý vị trong phái đoàn Liên Châu đấu tranh cho Nhân Quyền. Sau phần thuyết trình của tôi, chị Irina là giám đốc đài phát thanh Mạc Tư Khoa Tự Do, người Nga nói tiếng Việt thông thạo, đến gặp tôi và nói “Có người muốn gặp anh tại phòng khách”. Chị Irina giới thiệu tôi với một ký giả người Nga, tên là Palov. Ông ta chợt ôm chầm lấy tôi và khóc. Tôi chưa biết chuyện gì thì Ông ta đã vội nói bằng Anh ngữ trong nước mắt: “Tôi đã thấy Ông trong buổi họp báo quốc tế tại Hà Nội năm 1982. Tôi nghĩ là Ông đã chết rồi. Không ngờ lại gặp nhau ở đây. Lúc ấy tôi là tùy viên báo chí trong đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội, và có tham dự buổi họp báo của ông. Ông có biết không, ngay sau khi Ông tuyên bố những lời chống đối Hà Nội, cuộc họp báo đã phải bế mạc lập tức, ai cũng bàng hoàng. Chúng tôi đã tham dự một phiên họp kín sau đó với Bộ Nội Vụ Hà Nội, có cả Ông đại sứ Liên Xô được mời dự họp. Ai cũng biểu quyết phải đem Ông ra bắn ngay ở chợ Đồng Xuân vào sáng hôm sau, nhưng Ông đại sứ của chúng tôi đã đề nghị cứ giam giữ Ông lại để tiếp tục khai thác. Chúng tôi không còn biết tin tức gì về Ông cả. Sau đó thì tôi về lại Mạc Tư Khoa cho đến bây giờ đã hơn 10 năm rồi, chúng tôi không còn là cộng sản nữa, và tôi đã nghĩ là Ông đã chết rồi. Chị Irina có mời tôi đến tham dự buổi thuyết trình về Nhân Quyền hôm nay, tôi nghe có tên ông, tôi không tin, cho nên đến để xem có thực là Ông không. Không ngờ là Ông còn sống!”...
Chúng tôi đã nghẹn ngào nói chuyện với nhau. Và trước khi từ giã, Ông ta có tặng cho tôi một cuốn sách dịch ra Việt ngữ “Người Việt đất Việt” trong đó có một chương viết về buổi họp báo của tôi tại Hà Nội do các ký giả Nga Sô viết lại, gọi tôi là “anh hùng”. Tôi có chụp hình chung với ký giả Palov và chị Irina, lưu niệm cuộc gặp gỡ hi hữu này, và có in trên trang bìa cuốn Video “Cờ Ta Bay trên thành phố Mạc Tư Khoa” ghi lại chuyến đi của tôi.
Hữu Nguyên: Trong suốt 40 năm qua, bên cạnh hình ảnh người lính bất khuất Võ Đại Tôn còn có hình ảnh nhà thơ đấu tranh Hoàng Phong Linh với những bài thơ vang vọng đầy hào khí. Nay sau 40 năm nhìn lại, trong hai hình ảnh này, Ông thấy hình ảnh nào thể hiện đúng tâm tư, nghị lực, hoài bão của Ông hơn cả? Nếu mô tả về Võ Đại Tôn Hoàng Phong Linh một câu ngắn gọn, Ông sẽ mô tả như thế nào?
Ô. Võ Đại Tôn: Thưa quý anh, tôi không muốn nói nhiều về “cái tôi” riêng tư tầm thường của mình. Chỉ xin mượn lời của nhà thơ Phùng Quán để thưa: "Mỗi khi tôi ngã lòng, tôi vịn Nàng Thơ mà đứng dậy!”. Nàng Thơ của tôi là những Lời Viết Cho Quê Hương. VĐT-HPL, nhị trùng bản ngã, đều là con của Mẹ Việt Nam, suốt đời chỉ mong được giữ vẹn đạo Hiếu-Trung.
Hữu Nguyên: Câu hỏi cuối cùng. Chúng tôi được biết, trong cuốn hồi ký thẩm vấn tù binh Việt Cộng của Ông Sedgwick Tourison, tác giả có viết tặng Ông bằng Việt ngữ “Kính biếu Võ Đại Tôn, anh hùng Quân Lực VNCH”. Ông Tourison còn có nhận xét thêm: "Những người anh hùng như Võ Đại Tôn thì rất quý. Sự đóng góp của họ không nhất thiết phải ở ngoài mặt trận khu rừng già. Ngồi viết ra những kinh nghiệm của mình đôi khi hiệu quả hơn”. Phải chăng cuốn hồi ký “Tiếng Vọng Hoàng Hôn” của Ông đang viết sẽ là tập hợp những kinh nghiệm đấu tranh, những bài học quý giá được Ông rút tỉa trên con đường đấu tranh?
Ô. Võ Đại Tôn: Thưa quý anh, tôi không dám nhận hai chữ “anh hùng” mà bất cứ ai đã có lòng thương mến tặng cho tôi, vì tôi tự cảm thấy ngượng ngùng khi biết mình chưa làm được gì cả cho Tổ Quốc. Tôi đã xuất bản hai cuốn hồi ký:"Tắm Máu Đen” (đường về quê hương và 10 năm trong ngục tù CS Hà Nội) và “Tuổi Thơ và Chiến Tranh” (chiến tranh tại quê tôi, Quảng Nam, 1945-1950). Bây giờ tôi đang viết gần xong cuốn hồi ký dài “Tiếng Vọng Hoàng Hôn” - có lẽ là cuốn hồi ký cuối đời - về công cuộc kháng chiến phục quốc tại hải ngoại từ 40 năm qua. Xin quý anh đón đọc khi tôi xuất bản.
Hữu Nguyên: Một lần nữa cảm ơn thì giờ quý báu của Ông. Và kính chúc Ông mãi mãi xứng đáng là người con Trung Hiếu của Mẹ Việt Nam Tự Do, đúng như tâm nguyện duy nhất của Ông...

Ô. Võ Đại Tôn: “Dù là bụi, xin vuông tròn hạt bụi. Lăn theo đường Tổ Quốc của ta đi”.... Chân thành cám ơn quý anh về buổi phỏng vấn hôm nay, cầu chúc cho nhau Tâm Rộng Nghĩa Sâu, Chí Bền Dạ Sáng trong việc đóng góp công đức vào đại cuộc Cứu Nước của Toàn Dân nhằm giải trừ cộng sản, quang phục quê hương.
Hữu Nguyên (huunguyen@saigontimes.org)