28/6/15

Tìm sinh lộ hay chịu chết dần trong vòng vây Đại Hán

 Tìm sinh lộ hay chịu chết dần trong vòng vây Đại Hán



Lê Hải Lăng (Danlambao) - Lấy sự sống còn của hai đảng "anh em" cùng chủ thuyết mà quên đi Tổ quốc là một dấu hỏi to tướng cho lãnh đạo cộng sản đang ngồi trên thuyền đất nước. Nhìn chuyện xảy ra để tránh lập lại vết xe đổ cho quyền lợi chung dân tộc là điều tối cần. Chuyện ở đời người ta thường nói không ai thương mình bằng mình.
Thử đặt câu hỏi hằng triệu gia đình miền Bắc có thân nhân bị đem nướng vào cuộc chiến "đánh tới người Việt cuối cùng" có đáng không khi các nước khác trong vùng cũng được trao trả độc lập không đổ giọt máu. 
Thử đặt câu hỏi tại sao phải dùng súng đạn Nga Tàu để gây cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam cho các thế lực ngoại vi làm chiến trường thử vũ khí và trao đổi trên bàn hội nghị. Nga thí nghiệm rồi đem về khối Warsaw. Mỹ thí nghiệm rồi đem về khối NATO. Tàu Cộng làm ngư ông đắc lợi khi Đặng Tiểu Bình đi Mỹ ký nhiều khế ước giao thương với Mỹ rồi tuyên bố dạy cho VN một bài học. 
Thử đặt câu hỏi vì tình láng giềng, cộng sản quốc tế ra sao mà tên tôi tớ ĐCSVN bị đánh 6 tỉnh biên giới trong lúc Nga khoanh tay đứng nhìn Tàu Cộng dạy VN một bài học. 
Hàng ngàn, vạn đống xương khô người dân người lính trong cuộc chiến năm 1979 tới bây giờ biển đảo bị xâm chiếm ngang ngược, đất liền bị cướp qua ép buộc ngoại giao. Một cái nhìn chuyện đã xảy ra để tự đặt câu hỏi mà tự trả lời. 
ĐCSVN gieo bao tại hoạ điêu linh thống khổ lên đầu lên cổ dân qua cuộc CCRĐ, đàn áp triệt tiêu trí thức qua Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, bắt bớ giam cầm vụ án xét lại, gây cảnh đói khổ cho nhân dân miền Bắc, tạo hiện tượng gia đình ly tán xung công vào chiến trường miền Nam, xé bỏ Hiệp định Geneve 54, lừa dối thế giới bằng thủ đoạn lập ra cái MTDTGPMN tạo chiến tranh phá hoại để cưỡng chiếm vùng đất tự do dân chủ cho sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản quốc tế. ĐCSVN trong các chiến dịch Mậu Thân, Mùa hè đỏ lửa 72 đã tàn sát hàng ngàn đồng bào vô tội. Những cảnh giật mìn phá đường, đốt nhà, pháo kích vào trường học, pháo trực tiếp vào các đoàn người dân di tản tránh vùng lửa đạn xảy ra không chút chùn tay. ĐCSVN sau tháng Tư 1975 đã gây biển máu cho dân miền Nam mà ai cũng biết qua vụ đánh tư sản, đổi tiền cướp của, đuổi dân đi kinh tế mới để chiếm tài sản, lừa gạt học tập 10 ngày rồi đưa hàng triệu quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà vào các trại tù mọc lên khắp đất nước. 
Chính sách ngoại giao hầu hạ và kinh tế lệ thuộc Tàu cộng do ĐCSVN điều hành đưa đến tình trạng mất nhiều hơn được. Chính sách công an trị càng ngày càng gây mầm mống phản kháng ngầm trong lòng dân chúng. Tệ nạn tham nhũng cộng thêm nhiều sai lầm do hệ thống đảng độc tài gây ra làm một số đảng viên thức tỉnh quay lưng lại tạo phản ứng dây chuyền ngày càng có con số. Chuyện phe phái xâu xé cũng cố tranh giành địa vị lợi ích trong một chế độ độc tài là một cơ hội tốt cho Tàu Cộng lèo lái. Quan chức cấp lãnh đạo thường hay nói bộ phận không nhỏ làm nguy hại đảng, nhưng chính bộ phận không nhỏ đó nằm trong hệ thống của một bộ phận đảng lớn làm nguy hại đất nước. Lo cho nước mất nhà tan không lo ông chúa đảng lại lo mất ghế mất đảng. 
Cho nên nhân dân cũng như đảng viên tỉnh ngộ thức thời chống lại cái đảng độc tài tham nhũng đục khoét tài nguyên đất nước và bán nước đưa dân tộc vào vòng nô lệ diệt vong là điều kiện tất yếu. ĐCSVN giỏi gây cảnh chết chóc. ĐCSVN giỏi có mưu mẹo độc tài cai trị dân mình. ĐCSVN giỏi làm tay sai dâng đất nhượng biển cho Tàu Cộng để được yên ổn đục khoét tận cùng xương tủy nhân dân Việt Nam. 
Hãy nhìn vào cả triệu người quân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà bị xúc vào tù trả thù để biết thế nào là máu mũ đồng loại. Hãy nhìn cái chết tức tưởi của chính sách tuỳ thuộc viện trợ khi bị cúp. Người Tàu không thương người miền Bắc. Người Mỹ cũng chẳng yêu người miền Nam. Họ hành xử vì quyền lợi của họ trên vị thế quyền lực quốc tế mà thôi. Nhìn lại chuyện hạm đội Mỹ đứng ngoài nhìn trận hải chiến Hoàng Sa giữa Việt Nam Cộng Hoà và Trung Cộng 1974 mà đặt câu hỏi “Kissinger đi đêm” bởi vì lợi ích ai. 
Nhìn chuyện xảy ra để đo lường diễn biến tới nằm trong tầm tay. Người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại qua 40 năm nay họ đã trách cứ Mỹ bỏ rơi và họ đã quy tội ĐCSVN cướp giết VNCH để cho Tàu Cộng dùng thủ thuật quyền lợi hai ĐCS để thôn tính VN bằng chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế.
Người Việt nước ngoài tranh đấu mà có lần ông cựu Phó thủ tướng Vũ Khoan xem là như cái khe nước khô cạn. Ông đã lầm to. Nhờ cộng đồng chia năm xẻ bảy mạnh ai nấy chống cộng trong khả năng của mình cho nên ĐCSVN không thể dùng Nghị quyết 36 mà cầm đầu lãnh đạo quy về một mối. Cũng vì thế mà ĐCSVN càng đàn áp đồng bào trong nước đòi tự do dân chủ bao nhiêu thì tiếng nói hải ngoại lại càng mạnh lên ảnh hưởng tới chính sách các nước đối với VN. Nhờ vậy mới có những giải thường quốc tế về nhân quyền, giải tự do ngôn luận... cho người tranh đấu trong nước. 
Nhờ cộng đồng không có Quân đội nhân dân, công an nhân dân, ủy ban nhân dân, toà án nhân dân do độc nhất ĐCSVN lãnh đạo, cho nên họ là những người tự nguyện có trách nhiệm lo cho số phận dân tộc. Họ chia rẻ nhóm nhưng họ đã làm cho Chủ tịch, Thủ tướng phái đoàn cộng sản VN phải đoàn kết nối đuôi nhau chui cửa hậu khi xách bị ăn xin Mỹ, Úc...
Nhờ cộng đồng không bị ĐCSVN khống chế đàn áp bắt bỏ tù như dân trong nước biểu tình chống Trung Cộng, cho nên họ đã đứng trước toà đại sứ, lãnh sự Tàu cộng la hét chống đối bọn cướp đất biển VN gây tiếng vang báo chí quốc tế truyền đạt. Họ chia rẻ từng nhóm như nhiều người phê bình. Nhưng đó là điểm mạnh vì nếu có nhóm ra băng nhạc bị mua chuộc thì cũng có nhóm ra băng nhạc khác chống cộng hăng say. 
Bất kỳ hội đoàn tổ chức hải ngoại nào làm sao tránh khỏi bàn tay Nghị quyết 36 nhúng vào phá hoại qua báo đài ĐCSVN tài trợ. Cho nên luận điệu chụp mũ nhau xảy ra là thường tình. ĐCSVN đã lầm to khi sinh hoạt cộng đồng nằm trong đất nước tự do dân chủ chuyện tranh cải chống chọi nhau về chính kiến không bị ai bắt bỏ tù như trong nước. ĐCSVN đã hoàn toàn thất bại trên mặt trận tuyên truyền lôi kéo tập thể tỵ nạn trong khi có 3, 4 triệu người Việt khắp 5 châu mà đảng hàng năm tổ chức hội ngộ cái Việt Kiều yêu nước về quê chỉ đếm số người trên mười ngón tay. Trải qua 40 năm người Việt hải ngoại vẫn kiên cố nối tay nhau tìm sinh lộ tự do dân chủ nhân quyền cho quê hương đất nước Việt Nam thoát khỏi họa diệt vong, trong lúc ĐCSVN một mực giữ độc tài độc tôn chịu để dân tộc chết dần trong vòng vây đại Hán. 
ĐCSVN đã thành công khi đè đầu cởi cổ trên 90 triệu dân để đảng sống trên vinh quang rực rỡ. Nhưng ĐCSVN đã hoàn toàn thất bại trong chính sách độc tài cai trị dẫn tới xã hội đạo đức luân lý đảo điên, lòng người vô cảm, đưa kinh tế xuống bờ vực thẳm, bế tắc ngoại giao vì đu dây. ĐCSVN lèo lái con thuyền CHXHCNVN “định hướng” nhưng thực chất không có phương hướng. Khi bị ngoại xâm biển đảo đất liền tới chỗ nào thì mới gở rối chỗ đó hoặc lấp liếm để “đảng lo” rồi ký bán nhượng trong bóng tối. 
ĐCSVN có đảng quyền cai trị, có chính phủ, có nhà nước, có quốc hội do đảng tự lập ra. Vì thế ĐCSVN không có nhân dân làm hậu thuẩn. Tìm sinh lộ sống cho dân tộc hay chịu chết trong quỹ đạo Tàu Cộng. Hơn lúc nào hết 70 năm dưới thể chế độc tài đã quá đủ bài học. Đất nước cần có tự do dân chủ để đủ khả năng chống chọi lại sự áp đặt nô lệ do giặc phương Bắc gây ra. 
Chuyến đi Mỹ du của ông trưởng đảng CSVN sắp tới là chuyến đi mà Mỹ muốn kéo VN ra khỏi quỹ đạo Tàu Cộng nhiều hay ít về Biển Đông còn tuỳ thuộc vào cách hành xử của người sắp về vườn tỉnh ngộ, thức thời mà nhìn vào viễn ảnh con cháu đời sau dưới hoạ diệt vong cuả kẻ thù truyền kiếp nghìn năm. 
27.06.2015

Video: CA trại 6 (Nghệ An) đánh đập dã man nhiều người dân

 Video: CA trại 6 (Nghệ An) đánh đập dã man nhiều người dân

 Tuyên Quang: 'Bốc thẳng' cụ bà 90 tuổi để cướp đất



Bạn đọc Danlambao - Sau tiếng quát 'bốc thẳng lên' của viên côn an chỉ huy, 4 người trong đoàn cưỡng chế lập tức xông đến nắm chặt tay, chân một cụ bà 90 tuổi rồi khiêng đi như một con vật.

Theo facebook Tiến Vũ, vụ việc xảy ra vào sáng ngày 22/5/2015 tại thôn Đa Năng, xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. 
Trong video, người đàn ông to cao mặc áo trắng là ông Chu Văn Trường đang cố sức 'giành giật' bà mẹ ruột 90 tuổi của mình từ tay lực lượng côn an đông đảo.
Ông Trường là một cựu chiến binh từng chiến đấu chống quân xâm lược Trung Cộng tại chiến trường khốc liệt Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Được biết, đây là mảnh đất do gia đình ông Chu Văn Trường bỏ công khai phá. Tuy nhiên, các quan tham địa phương đã dùng quyền lực cướp trắng khu đất này để chia cho người khác.
Người ra quyết định cướp đất chính là ông Lê Hồng Quang, chủ tịch ủy ban huyện Sơn Dương. 
Quá bất bình trước hành vi này, người dân xã Tú Thịnh đã kéo đến phản đối việc cướp đất. Hậu quả là nhiều người dân đã bị lực lượng CA khống chế và bắt giam 24 tiếng.

28/6/2015


Bạn đọc Danlambao - Ngày 25/6/2015, nhiều người dân khắp nơi đã đổ về trại giam số 6 (Thanh Chương, Nghệ An) để chào đón một dân oan Dương Nội là ông Trịnh Bá Khiêm mãn hạn tù. 

Khi đến nơi, tất cả mọi người bị CA ngăn chặn không cho vào. Phía trước cổng trại giam khoảng 1km, CA ngang ngược đặt tấm biển 'Khu vực cấm vào'.
Trước hành vi mờ ám này, những người đồng hành cùng dân oan Trịnh Bá Khiêm đã tổ chức một cuộc biểu tình đòi người trước trại giam.
Ngay lập tức, CA trại giam đã huy động hàng chục côn đồ kéo đến bao vây và đánh đập dã man mọi người, trong số đó có cả người già và phụ nữ.

Những người bị đánh gồm có: Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, Mai Thanh, Trương Văn Dũng, Nguyễn Tường Thụy... Anh Trịnh Bá Tư, con trai ông Trịnh Bá Khiêm bị đánh đến mức đổ máu khắp mặt.
Sau cùng, CA đã phải để ông Trịnh Bá Khiêm rời khỏi trại giam để ra về cùng mọi người.
Hiện nay, vợ ông Trịnh Bá Khiêm là bà Cấn Thị Thêu vẫn đang bị giam giữ tại trại giam số 5 Thanh Hóa.

Trước chuyến thăm Mỹ của TBT Trọng, Trung Cộng đưa giàn khoan HD 981 trở lại Biển Đông

 Trước chuyến thăm Mỹ của TBT Trọng, Trung Cộng đưa giàn khoan HD 981 trở lại Biển Đông


Hoàng Trần (Danlambao) - Trung Cộng vừa huy động giàn khoan HD 981 quay trở lại Biển Đông giữa thời điểm chuyến thăm Mỹ của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chuẩn bị diễn ra vào đầu tháng sắp 7 tới.

Thông tin này vừa được cục an toàn hàng hải Trung Cộng chính thức xác nhận. Theo đó, giàn khoan khổng lồ HD 981 sẽ hoạt động tại vị trí 17°03.75N 109°59.05E, cách Đà Nẵng khoảng 200 km.
Đây là khu vực nằm ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
HD 981 trở lại Biển Đông 
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Trần Công Trục, cựu trưởng ban biên giới chính phủ CSVN cho hay, dựa trên toạ mà Trung Cộng công bố thì vị trí giàn khoan 981 nằm trong vùng chồng lấn ngoài cửa vịnh Bắc Bộ.
Theo ông Trục, nhà cầm quyền CSVN đã từng đề xuất đàm phán phân chia ranh giới khu vực này, nhưng phía Trung Cộng vẫn phớt lờ.
“Họ không chấp nhận đề xuất của Việt Nam dù hô hào và kêu gào gác tranh chấp cùng khai thác”, ông Trần Công Trục nói.
Phía Trung Cộng tuyên bố trong lần hạ đặt này, giàn khoan HD 981 sẽ tiến hành thăm dò dầu khí trong vòng 2 tháng, từ 25/6/2015 đến ngày 20/8/2015.
Tất cả các tàu bè khi đi qua Biển Đông cũng bị Trung Cộng ngang ngược ra lệnh ‘cấm’ đến gần giàn khoan trong phạm vi 2km.  
Răn đe Nguyễn Phú Trọng 
Động thái trên diễn ra giữa thời điểm ông Nguyễn Phú Trọng chuẩn bị có chuyến thăm Mỹ từ ngày 7 đến 9/7/2015 sắp tới. 
Đây cũng được coi là chuyến đi đầu tiên của một tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam đến nước cựu thù Hoa Kỳ.
TBT Nguyễn Phú Trọng dù đã chấp nhận đầu hàng vô điều kiện, nhưng đó vẫn là chưa đủ đối lòng tham không đáy của cộng sản Bắc Kinh - những kẻ vẫn luôn có dã tâm chiếm trọn đất nước Việt Nam.
Việc đưa giàn khoan HD 981 quay trở lại Biển Đông là một mưu đồ xâm lược có chủ đích, đồng thời cũng để răn đe bộ chính trị CSVN đang vô cùng khiếp nhược.
Trước hành vi doạ nạt như trên, liệu chuyến đi của ông Trọng có thể diễn ra như dự kiến hay không vẫn còn là câu hỏi khó nói trước.
Cách đây 1 năm, khi Trung Cộng giàn khoan HD 981 vào Biển Đông, ông Trọng cũng đã bị Tập Cận Bình từ chối tiếp khi nhỏ ý sang Bắc Kinh để ‘đàm phán’.
Phải đến tháng 7/2014, giàn khoan này mới được rút đi vì bão. Các diễn biến sau đó đã cho thấy thái độ đầu hàng vô điều kiện từ bộ chính trị đảng CSVN trước Trung Cộng.
Sau 1 năm, HD 981 đã quay trở lại, còn đảng CSVN vẫn tiếp tục là một tập đoàn bán nước hèn với giặc ác với dân.

CSVN xây thì ít cất thì nhiều (Xây Cất)

 CSVN xây thì ít cất thì nhiều (Xây Cất)


Cánh Dù lộng gió (Danlambao) - Câu nói này trên cửa miệng ngao ngán của người miền Nam từ khi có ngày Quốc Nạn 30/4/1975. 
Từ khi chiếm được miền Nam đến nay CSVN đã mất gốc vô sản chân chính, mọi cán bộ đảng viên đều lo vun vén cho cá nhân, bản thân gia đình mình. Vơ được gì thì vơ, vét được gì thì vét, vét không được thì cướp. Vì thế dân gian có câu, "Con ơi ghi lấy lời Cha, Cướp đêm là giặc, Cướp ngày là Quan".
Mọi thứ cướp được chia nhau từ trên xuống dưới theo hệ thống nấc thang, lớn ăn lớn, bé ăn bé, Khi đã nằm trong nấc thang đó nếu muốn giữ ghế thì bắt buộc phải ăn để ngậm miệng, không ăn tức là không cùng vây cánh sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi ngay, không khéo còn toi mạng "liêm khiết" nữa chứ đừng nói. 
Chúng ăn cướp của người Dân có bài bản, nào là Nghị Quyết, nào là Thông Báo, nào là Nghị định, nào là Quyết Định, Thông Tư liên tịch v.v... chẳng qua đó cũng chỉ là những lệnh lạc chúng vắt óc ra để moi tiền của người Dân. 
Dân đen chỉ biết cắm đầu cắm cổ nghe phán rồi thi hành những lệnh trên mà chúng kêu bằng đã ban hành, có ý kiến chúng cũng bịt tai không nghe. 
Kiểu gì nhà Nước cũng nắm đàng chuôi, còn Dân đen chỉ biết nắm đàng lưỡi dao, khi chúng tuốt một cái là đứt tay, đổ ruột. 
Dân miền Nam nhớ trót đời 5 Quyết Định, đổi tiền, kêu gọi Sĩ Quan đi tù, đem Dân bỏ chợ trên vùng Kinh Tế Mới rừng thiêng nước độc, đánh Tư Sản, và Hợp Tác Xã, cái gì nhà Nước cũng quản lý từ cây kim sợi chỉ đều phải xếp hàng mua tiêu chuẩn. Đó là thời bao cấp. 
Sang đến thời cởi trói mở cửa thì sao? CSVN ra sức làm Cái Bang đi ăn xin các Nước phương Tây, xin viện trợ không hoàn lại càng nhiều càng tốt, chí ít cũng phải được vay với lãi xuất ưu đãi dài hạn chả chậm, tiền này chúng lấy cớ là xây dựng các công trình công cộng, hạ tầng cơ sở, làm đường, cầu cống, xây trường học bệnh viện, nhưng những hạ tầng cơ sở này xây thì ít mà được cất thì nhiều, vì chia ra nhiều khâu phải bôi trơn, đến khi hoàn tất công trình thì công trình đó xe Ben quẹt nhẹ tự nhiên đổ sụp xuống chủ công trình không có lỗi, không phải bồi thường như đập thủy điện nào đó ở Quảng Nam vừa rồi. Tại sao vậy, vì từ trên xuống dưới đã được cất kỹ quá nửa công trình. 
Thời @ CS này, chúng chỉ nhắm xây tượng đài thật to, thật hoành tráng để giở quẻ cất. Vì "Cất&Cướp" là nghề của chúng. 
Trang bị cho Quốc Phòng chúng còn cất bạo hơn nữa, mua những tàu ngầm, máy bay hàng Second Hand về tân trang lại báo giá hàng mới chia nhau cất tiền, bỏ túi, mặc cho tàu ngầm Kilo lặn mất tăm không trồi lên hay máy bay chúi đầu xuống đất mất luôn hộp đen. 
Ngay cả đất đai, biển đảo tổ quốc mà chúng còn xà xẻo bán dần cho giặc thì còn thứ gì trên đời mà chúng không dám đớp, thật xứng với 2 từ "Cất&Cướp". 
Ngày 26/06/2015

Quê hương tôi cứ mãi điêu linh (Kỳ 4)

 Quê hương tôi cứ mãi điêu linh (Kỳ 4)


Giải mật: Việt Cộng trả bao nhiêu nợ cho vừa lòng Trung Cộng.[1] 
Từ năm 1940 đến năm 1976, Trung Cộng sản xuất quy mô các loại vũ khí, trang thiết bị quân sự, phần lớn cung cấp toàn diện cho quân đội Việt Cộng suốt cả chiều dài cuộc chiến tranh Việt Nam đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Theo tài liệu Trung Cộng đã cho Việt Nam vay hơn 260 tỷ đô la không lãi tạo điều kiện thực hiện chống Pháp và chiến tranh thống nhất miền Nam Việt Nam. Trung Cộng tỏ lòng kiên quyết tích cực hỗ trợ chính sách chiến tranh của nước Việt Nam Cộng hòa Dân chủ. Sau mùa hè năm 1962, các nhà lãnh đạo Trung Cộng và Việt Cộng họp tại Bắc Kinh cùng nhau ký kết viện trợ qui ước lâu dài. Trung Quốc quyết định cung cấp cho Việt Cộng toàn bộ trang bị miễn phí trên 1,2 triệu tay súng gồm bộ binh, không quân, hải quân, pháo binh tình báo đặc công và nữ quân nhân trước văn công (sau gái giải sầu).
Năm đó, Mao Trạch Đông tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Mao nhấn mạnh: "Chúng ta cùng giúp đỡ lẫn nhau giữa tình bạn để chống kẻ thù chung, chúng tôi không thể để chết người em Việt Cộng bất cứ vào lúc nào". Năm sau vào tháng Ba, phái đoàn quân sự Trung Quốc do Tham mưu trưởng La Chí Tường đến thăm Việt Nam, thảo luận kế hoạch "hai quân đội Trung-Việt phối hợp chiến đấu", một tháng sau Trung Cộng gửi thiết bị vũ khí đến Việt Nam và cung cấp hậu cần, đạt đến mục tiêu thỏa thuận qui mô quân sự chưa từ có.
Vào đầu năm 1964 Hoa Kỳ bắt đầu lên kế hoạch mở rộng tăng viện cho Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam). Mao Trạch Đông đứng trước tình hình quân sự mới tại Việt Nam, ông kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa Dân chủ (miền Bắc) đoàn kết chặt chẽ hơn với nhân dân Trung Quốc và hai chính phủ thường xuyên gặp gỡ tại Bắc Kinh hay Hà Nội. Đầu tiên Hồ Chí Minh chủ động đề xuất gửi đặc sứ BCT/Trường Chinh đến Bắc Kinh ký kết vũ khí bổ sung cung cấp cho chiến tranh, trong cuộc đàm phán Hồ Chí Minh quyết định trao cho Trung Cộng toàn quyền quản lý "Vịnh Bắc Bộ", đổi lấy vũ khí của Trung Quốc phải tăng cường tung ra hết nỗ lực đổ vũ khí vào chiến trường Việt Nam. Ngày 13 tháng 8, Mao Trạch Đông bí mật tiếp Lê Duẩn đề xuất sửa chữa lại một hoặc hai sân bay lớn tại tỉnh Vân Nam chuẩn bị không quân chiến đấu, không thể sử dụng không quân trên đất Việt Nam. Trung Cộng cam kết bổ sung và chuyển giao một bộ phận không quân chiến đấu, tiếp theo chuyển giao Air Division, Simao hai bộ phận chống máy bay cho cho Việt Cộng.
Từ phải: Hoàng thân Souphanouvong, Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước, Hồ Chí Minh và Hoàng thân Suvanna Phuma Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Lào. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu dẫn đầu một phái đoàn đến thăm Hà Nội, công tác đầu tiên kiển tra thực lực chiến đấu của Việt Cộng, bắt đầu đàm phán thực hiện hoạt động chung và viện trợ quân sự thiết thực hơn. Trong tháng mười hai, Trung Công và Việt Cộng đồng ký kết một liên minh thỏa thuận quân sự. Trung Cộng gửi trước 300.000 quân gồm (bốn sư đoàn bộ binh, một sư đoàn pháo binh, một sư đoàn hải quân, một sư đoàn công binh, một sư đoàn tăng thiết giáp, và hai sư đoàn tổng hợp đặc công, quân y, thông tin, vận tải, kỹ thuật bộ binh cơ giới và gái giải sầu). Quân đội Trung Cộng chiệu trách nhiệm trấn thủ những điểm yếu tại miền Bắc. Nói đúng hơn nước Việt Nam Cộng Hòa Dân Chủ trao cho Trung Cộng quản lý đất nước của mình. Do đó, quân đội nhân dân miền Bắc Việt Nam trải rộng hành quân vào miền Nam Việt Nam, triển khai đến các phần phía Nam. Với việc mở rộng chiến tranh, Trung Cộng bắt đầu cung cấp hỗ trợ miễn phí, mặt khác cung cấp vũ khi tranh bị cho MTDTGPMN Việt Nam trở thành quân thiện chiến và quy mô tương đương với quân đội miền Bắc Việt Nam. Theo thống sơ bộ, từ năm 1962-1966 Trung Quốc gửi viện trợ cho Hồ Chí Minh hơn 2 triêu vũ khí khác nhau, hơn 25.400 pháo binh đủ loại, 30 triệu đạn pháo, hơn 90 triệu viên đạn đủ loại, 1400 tấn chất nổ, 2,7 triệu bộ quân phục, vải 1400 vạn mét, và một số lượng lớn các màn chống muỗi, dép cao su, thực phẩm thiết yếu, giao thông vận tải và thiết bị truyền tin, liên lạc. Trung Cộng tích cực rót mạnh mẽ vũ khí và quân đội vào chiến trường miền Nam Việt Nam, hy vọng đối đấu chống lại chiến thắng Việt Nam Cộng Hòa, Trung Cộng buộc Việt Công không được thụ động bởi chính sách viện trợ chiến tranh không hạn chế và cả viện trợ kinh tế dồi dào cho Việt Cộng.
Ngày 03 tháng 8, Moscow công bố một báo cáo tóm tắt. Lập trường và thái độ đối với Việt Cộng có thể không hối tiếc. Trong khi đó Việt Cộng cần đồng minh trong khối xã hội chủ nghĩa, cho nên gian bàn tay ra xin viện trợ, sẽ quyết định chuẩn bị chiến tranh trước mùa hè năm 1964, trên thực tế chỉ có Trung Cộng cung cấp nhiều nhất những loại vũ khí và trang thiết bị, kể cả thực phẩm, giao thông vận tải và các hỗ trợ khác cho Việt Cộng miền Bắc Việt Nam. Kết quả Việt Cộng hoàn toàn phụ thuộc viện trợ Trung Quốc.
Việt Cộng thừa thãi vũ khí và tay súng.
Ngày 9 tháng 11 năm 1964, Phạm Văn Đồng và phái đoàn đại biểu chính phủ thăm Liên Xô, cầu viện kinh tế, quân sự để đạt được một đồng thuận nghĩa vụ Quốc tế công sản, phía Liên Xô đã ban hành tuyên bố chung, lần đầu tiên Liên Xô cam kết cung cấp việt trợ quân sự và tài chính cần thiết cho Việt Cộng. Đầu tháng 2 năm 1965 Thủ tướng Liên Xô Alexei Kosygin Nikolayevich thăm Hà Nội, thảo luận về vấn đề viện trợ quân sự, Lê Duẩn ký thỏa thuận tăng cường khả năng phòng thủ và viện trợ cho Việt Cộng, từ tháng 4 năm 1965. Lê Duẩn dẫn đầu một phái đoàn đến thăm Liên Xô, các cuộc đàm phán với Liên Xô thành công, xác định cụ thể, bao gồm cả số lượng viện trợ và bổ sung quân sự. Hà Nội được Liên Xô quan tâm cung cấp một số lượng lớn những loại vũ khí phòng không. Theo ước tính của tình báo Mỹ, trong vòng một năm Liên Xô đã cung cấp thiết bị quân sự cho Việt Cộng hơn 100 triệu đô la Mỹ.
Năm 1968, viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam tăng đều đặn, mặc dù tổng số tiền viện trợ của Liên Xô năm 1967 vẫn đứng sau lưng Trung Cộng, nhưng viện trợ vũ khí quân sự cao hơn nhiều so với Trung Cộng. Năm 1968, Liên Xô viện trợ vũ khí cho Việt Nam đã đạt đến số lượng 357 triệu rúp, tương đương tổng số viện trợ tài chánh 524 triệu rúp. Liên Xô viện trợ cho Việt Cộng với tổng số 50% sản lược quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đến năm 1969 Việt Cộng-Hoa Kỳ bắt đầu đàm phán, sau chiến tranh Việt Nam cho thấy Trung Cộng và Liên Xô đứng sau sân khấu chính trị miền Bắc Việt Nam. Mặc dù số lượng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam đã giảm, nhưng vẫn ở mức 200 triệu USD mỗi năm. Từ năm 1965 đến năm 1973, Liên Xô viện trợ kinh tế cho Việt Nam tổng cộng 10 tỷ rúp và hơn 20 tỷ đô la viện trợ vũ khí.
Sau đó Brezhnev tăng cường viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Cộng, từ đó vị trí của Liên Xô thuộc vào đòn bẩy chiến tranh hiệu quả đáng kể. Nói cung Trung Cộng và Liên Xô viện trợ càng cao nhân dân Việt Nam chết càng nhiều cao hơn núi!
Ngày 22 tháng 3 năm 1965, tiếp phái đoàn quân sự Liên Xô thăm Hà Nội, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng báo cáo thành quả chiến tranh, về cơ bản cần viện trợ trang bị vũ khí chiến đấu và thiết bị kỹ thuật mới của Liên Xô, tăng cường càng nhiều càng tốt, so với số lượng vũ khí Trung Cộng, Liên Xô quyết định xây dựng cho Việt Cộng một quân đội chính quy hiện đại, cung cấp các điều kiện và đảm bảo cho chiến tranh, theo sau Trung Cộng leo thang cung cấp viện trợ vũ khí trực tiếp tạo ra sức mạnh mới cho Việt Cộng. Tuy rằng Trung Cộng ít hơn so với Liên Xô, nhưng tư tưởng cách mạng Cộng sản và tinh thần chủ nghĩa quốc tế của Mao Trạch Đông trội hơn, đẩy Hồ Chí Minh tiếp tục chiến đấu chống lại miền Nam Việt Nam, Trung Cộng không ngần ngại nỗ lực viện trợ lâu dài. Thật vậy, đối với Việt Cộng, viện trợ của Trung Quốc trực tiếp và kịp thời gian tính của chiến tranh. Đến tháng 5 năm 1966, viện trợ của Trung Cộng, bao gồm bộ phận chống máy bay, tổng cộng 23 triệu viên đạng đại pháo.
Tháng 8 năm 1966, Mao Trạch Đông gặp Hồ Chí Minh và phái đoàn chính phủ MTDTGPMN, Mao phát biểu: "Quân đội Giải phóng miền Nam Việt Nam trong chiến khu không có màn, áo mưa, lương thực, thuốc là, tôi thấy rằng cần gửi gấp đến đó cho họ". Trong nguồn cung cấp viện trợ cho Mặt Trận Dân Tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, tăng khẩu phần lưng thực nén, thịt lợn, đóng hộp, cá muối, bột trứng, áo mưa, màn chống muỗi và các thiết bị y tế. Chu Ân Lai tuyên bố: "yêu cầu viện trợ cho Việt Nam là nhiệm vụ hàng đầu của chúng tôi cần phải thực hiện cho quý đồng chí phía Nam".
Đầu tháng 4 năm 1965, Lê Duẩn đề nghị phái đoàn chính phủ Trung Cộng gửi thêm quân sang Việt Nam để hỗ trợ các yêu cầu chiến trường. Vào tháng 6 Trung Cộng thỏa thuận "gửi thêm quân đội" hỗ trợ cho Bắc Việt Nam, cho đến hết tháng 3 năm 1968 mới kết thúc, Trung Cộng viện trợ bổ sung lực lượng phòng không cho Việt Nam, lực lượng quốc phòng xây dựng đường sắt, lực lượng 32 Biệt đội, tổng cộng 11 triệu binh sĩ đã vào lãnh thổ Việt Nam theo thừng đợt tử năm 1964-1969. Trung Quốc cung cấp tài trợ tiền mặt cho Việt Cộng trên 180 triệu USD. Gồm súng, đạn, vỏ bánh xe, tàu, xe tăng hạng trung và xe tăng lội nước, xe bọc thép, xe hơi, máy bay, vật liệu nổ, động cơ có dây, radio, đồng phục và rất nhiều dầu, thuốc chữa bệnh, thiết bị y tế và các mặt hàng quân sự khác, lên đến 8,26 tỷ nhân dân tệ, có khả năng trang bị hơn 200 triệu người. 
Từ trái: Vua Cao Miên Sihanouk, Chủ tịch MTDTGPMNVN Nguyễn Hữu Thọ, Thủ tướng chính phủ VNCHDC Phạm Văn Đồng, Chủ tịch và Souphanouvong, tại Hội nghị nhân dân Đông Dương. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm. [2]
Trung Cộng cho rằng, kể từ khi viện trợ quân đội cho Việt Nam, nay đã cải thiện chính quy khá nhiều, có khả năng an toàn độc lập. Tránh tình trạng suy giảm chiến tranh trong mối quan hệ ảnh hưởng Trung Cộng. Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh cùng đồng thái độ tinh tế đã diễn ra chính sách quan hệ "anh em". Trong khi đó Liên Xô dần dần xa ảnh hưởng đối với Việt Cộng, nhường chiến tranh Đông Dương cho Trung Quốc chủ động. Tuy nhiên những quốc gia trong khối Cộng sản tiếp tục viện trợ dồi dào. Năm 1969 Hồ Chí Minh qua đời, Trung Quốc không thể tin vào tình "anh em" mới, viện trợ quân sự cho Việt Cộng phải kiểm soát chặt chẽ. Trong cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo Việt Cộng-Trung Cộng, Mao tuyên bố: "Có vẻ bạn đang giàu có những nguồn nhân lực, cung cấp vũ khí và quân đội không phải là khó khăn. Vì vậy, chúng tôi hy vọng rằng bạn sẽ xem xét làm thế nào để sử dụng tốt hơn và thích hợp hơn nguồn nhân lực của riêng bạn". Mao, cảnh cáo một khi tiếp nhận viện trợ và vũ khi hãy ý thức sử dụng cho hợp lý.
1970-1972, mặc dù giai đoạn cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, Liên Xô vẫn đảm bảo tiến trình viện trợ quân sự theo đàm phán hòa bình để giảm số lượng chiến tranh Việt Nam, nhưng vẫn ký kết với Việt Cộng mỗi năm (5) năm ký lại Hiệp định viện trợ. Tháng 8 năm 1970, Liên Xô tiếp tục cung cấp thiết bị hơn 90 doanh nghiệp, công nghiệp và các dự án khác tại miền Bắc Việt Nam. Vì vậy, hai bên thường xuyên tổ chức cuộc họp cấp cao, nghiên cứu viện trợ nhiều và đồng ý hợp tác chính trị theo nhịp độ chiến tranh.
1969-1971, Moscow-Hà Nội ký viện trợ và hợp tác kinh tế, đó là việc tăng cường lực lượng quốc phòng theo thỏa thuận bổ sung đã ký vào năm 1971. Năm 1972, Liên Xô cung cấp tên lửa ED và viện trợ quân sự cho Việt Cộng. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Liên Xô không chỉ cung cấp các loại vũ khí hiện đại nhất gồm máy bay, tên lửa, xe tăng, pháo binh, vũ khí bộ binh, đạn dược, vật tư, thiết bị, phương tiện, các sản phẩm dầu mỏ, kim loại đen, kim loại màu, ngũ cốc, phân bón, dược phẩm, nhà máy điện, đào tạo sĩ quan, có hơn 10.000 du học sinh, những chuyên gia quân sự Liên Xô đến Việt Nam giúp làm chủ kỹ thuật vũ khí hiện đại.
Ngày 03 tháng 11 năm 1977 tại Moscow Lê Duẩn và Leonid Ilyich Brezhnev (Леонид Ильич Брежнев) ký một hiệp ước xô-việt hợp tác hữu nghị. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
Trung Cộng tăng cường nỗ lực viện trợ thiết bị vũ khí cho Việt Cộng.
Năm 1969, Liên Xô ủng hộ thực tế cho các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam, với điều kiện mối quan hệ Việt-Xô được kiểm soát hoàn toàn an ninh khu vực các quốc gia Đông Dương. Trong khi ấy quan hệ Trung Cộng-Việt Cộng có ít nhiều nhạy cảm, đặc biệt quan trọng hơn đối với Liên Xô, Việt Cộng theo lối ngoại giao "bắt cá hai tay" cùng có lợi, hy vọng sẽ kéo lại gần quỷ đạo Việt Cộng bằng cách tăng cường chiến tranh Việt Nam, để ngăn cản họ đưa vào phạm vi ảnh hưởng Trung-Xô. So với những năm 1960, nhở vậy ngày nay nỗ lực viện trợ vật chất tăng cường rất nhiều.
Tháng 9 năm 1970, Chu Ân Lai tuyên bố: Về cơ bản phía Trung Cộng phải đáp ứng yêu cầu chiến tranh của Việt Cộng, Trung Cộng phải tạo ra sức mạnh lớn hơn để viện trợ cho Việt Cộng. Vào tháng mười một (11) Chủ tịch Mao hướng dẫn rót thêm viện trợ vào các tỉnh miền Nam Việt Nam, tặng 2 triệu nhân dân tệ hàng hóa và 5 triệu USD. Bộ phận ngoại thương Trung Cộng ban hành một thông báo đến các Tổng công ty xuất nhập khẩu đã hết hàng cung cấp cho chiến tranh Việt Cộng, bởi Việt Cộng chưa thanh toán nợ cũ từ năm 1967, nay buộc phải trả sạch nợ một lần, Việt Cộng hứa sẽ có biện pháp để cố gắng hoàn nợ. 1971-1973, Trung Cộng thỏa thuật viện trợ, cung cấp từng ba năm tổng số tiền của thỏa thuận viện trợ đã ký kết gần 90 tỷ nhân dân tệ, nhằm mục đích viện trợ quân sự, viện trợ này giá trị nhiều nhất ở hai năm cuối cùng của 20 năm quan hệ giữa Trung Cộng-Việt Cộng.
Từ năm 1965 đến năm 1976, Trung Cộng sản xuất quy mô lớn các loại vũ khí và trang thiết bị cung cấp cho Việt Cộng. Sau khi thành công trang bị một số thiết bị hiện đại cho lực lượng vũ trang Việt Cộng, đặc biệt quân đội Trung Cộng chưa được trang bị hiện đại mà chỉ ưu tiên viện trợ cho Việt Cộng. Viện trợ cho Việt Cộng đã tăng vượt quá khả năng sản xuất của Trung Cộng, ngay cả khi sử dụng hàng tồn kho thiết bị của quân đội (PLA), thậm chí Việt Cộng triển khai 100% chiến tranh để tiêu thụ vũ khí, một cố gắng tạo ra chiến trường để nhận vũ khí đáp ứng nhu cầu viện trợ. 
Năm 1975-1976 Trung Quốc viện trợ quân sự cho Việt Nam đã giảm dần sau khi Việt Nam thống nhất, theo những tài liệu của Trung Quốc, viện trợ cho Việt Nam đạt hơn 200 tỷ đô la giảm giá. (Theo "World Expo" tài liệu có tiêu đề: Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đàm phán bí mật).
Hồ Chí Minh du nhập Cộng sản vào Việt Nam qua cửa chính chiến tranh, đem theo thứ văn hóa thờ chủ nghĩa cá nhân của "Bác", và mô hình giáo dục "Khổng Tử", người xưa cướp làm nô lệ, ngày nay Hồ Chí Minh thực hiện thành công một thứ cướp chưa ai dám suy nghĩ về mô thức đồi trụy lớn nhất của "Bác", Việt Cộng gieo rắc điêu linh đang diễn ra từng ngày, máu chảy theo dòng lịch sử Việt Nam. Hồ Chí Minh để lại một di sản vĩ đại trồng người hủy hoại trăm năm (100), nó đang tiếp tục bán từng phần đất nước Việt Nam cho Trung Cộng.
Trước khi Hồ Chí Minh chết, ông ta bí mật để lại một di chúc cho BCT/BCH TƯ Trung Cộng (Mao Trạch Đông) một di chúc không thành văn có quá nhiều bí ẩn hệ lụy đến dân tộc Việt Nam. trong ý nghĩa văn tự đó ít nhất có 2540 từ ngữ Hán, nhưng sau khi công bố chỉ để lại những bí ẩn lâu dài cấm kỵ khám phá. Cho đến bây giờ nó không có đầy đủ các văn kiện về Hồ Chí Minh như đã công bố trước đây vì tất cả đều trong hồ sơ ảo và bí mật Hồ Chí Minh do một nhóm người hoạt động gián điệp của Trung Cộng tạo ra và làm chủ di chúc, trong số các nhà lãnh đạo Cộng sản hành đầu Trung Cộng thường nói đến "tình bạn giả mạo sâu sắc". Nguyên văn "kết hạ liễu thâm hậu đích hữu nghị". Có nghĩa (Hồ Chí Minh bí mật giả mạo người Việt Nam).
Bi kịch chưa từng có, Việt Nam nhận giặc làm "cha già dân tộc".
Đã đến lúc và hy vọng nhân dân Việt Nam không bị mù lòa bởi Cộng sản Hồ Chí Minh và nhóm Trung Cộng đầy dẫy lừa dối, bịp lộng giả thành chân, chưa bao giờ thể hiện tính minh bạch, pha lẫn hành vi cướp lân bang, ngày nay Hồ Chí Minh có được sự nghiệp nhờ ổ gián điệp Trung Cộng thay trắng đổi đen, trong lý lịch Hồ Chí Minh thiếu tính lương thiện cộng với bất lương, mọi sự kiện trá hình chim hóa thành rồng. Cho nên không ai có thể biết đích thực thân thế của Hồ. Vì nguyên do đó, chúng tôi bừng tĩnh khám phá từ cái ác của Hồ Chí Minh, đến nay không thể che mắt nhân dân Việt Nam bởi nguyên nhân Hồ là con đẻ hình nộm dối trá của Trung Cộng. 
Trong thực tế cho thấy Hồ Chí Minh lừa dối nhân dân Việt Nam đã quá nhiều, chúng ta đã biết (tiểu sử của Hồ Chí Minh có những khác biệt, thế mà vẫn tự hào cho mình cha già dân tộc). Lưu ý "Hồ... được đào tạo bởi đảng Cộng sản Trung Quốc, khi đó mới 17 tuổi" là một đồng nghiệp với Bào La Đình người Quảng Châu, một lưu ý khác trong cuối những năm 1940 Hồ tuyên bố "Tôi là cộng sản không phải người Việt Nam".
Kết luận: Trong những báo cáo bí mật của Hồ gửi cho Trung Cộng thường dối trá trước nhân dân Việt Nam, ông ta có những hành động thiếu tính minh bạch, thực chất sau năm 1949 Hồ Chí Minh liên kết chặt chẽ với Trung Cộng, ông ta chủ yếu dựa vào nguồn chính thống Trung Cộng bao gồm cả tác phẩm ban đầu "Nhật ký trong tù". Hồ Chí Minh chưa từng hỏi trong tâm trí của người thiếu tá Hồ Quang một chiến binh thiếu danh dự nhưng rực rỡ về lừa dối nhờ điêu ngoa đã làm cho mọi người bị choáng ngợp bởi sự hoang tưởng và mô tả Hồ một băng đảng mà những gì họ muốn cướp, bi thảm hơn có nhiều người đã chết không cần thiết sau khi những cuộc gặp gỡ với Hồ.
26/06/2015

27/6/15

Saigon xưa

Saigon xưa 

Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập: “nhờ vậy” mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách.
Sau khi “chạy giặc” hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ “Huyện Sỹ” đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.
Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại.
Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Taberd, đường Frères Guillerault (có chữ “S” sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.
Trong lúc “tản cư” tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp “Douzième” trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi. ”Trường Chasseloup” xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ “Toà Tân Đáo” (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su!
Th
ật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette. Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.
Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chánh cống” và “dân Sài Gòn một trăm phần trăm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc “Bắc trước năm mươi tư” mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng! Không phải tôi bị “tây hóa” nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…
M
ẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, “Chú Ba Xích Lô” mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẻ.
Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ “préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông “Moreau”, tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là “vườn Ông Thượng”, có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. Dưới thời Pháp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là “vườn Bờ Rổ”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn. Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard: hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11è R.I.C (Régiment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.
Đi th
ẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh.
Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).
Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một “đứa con” của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau “Mả Lá Gẫm”, đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.
Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn: Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel: Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).
Rồi cứ đi theo mãi đường d’Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.
Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên: đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là “Bùng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.
Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước “Nhà Hát Tây”, cất theo kiểu Opéra bên Paris. Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà ; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông “Cha Cả” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rùa”.
Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thừờng vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ “e” chớ không phải với chữ “é” vì là người gốc Ý Đại Lợi.
Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm “Le Jaccario” đậu gần đó trên “Kinh Tàu” hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.
Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây soài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần! Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt “Ánh”. Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học “trường tây” nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH?
Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì “Mì La Cai”, đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chú Hoả” cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.
Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004: đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.
Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Aó Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt và chánh quyền bảo hộ. Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng “Tả Quân Lê Văn Duyệt”, đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.
Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong những người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.
Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.
Sài Gòn m
ất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng “Lăng Cha Cả”, có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi …. Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d’Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799. Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris....


BS Trần Ngọc Quang