Năm XL (Danlambao)
- Thuở nhỏ trước 1975, XL hay lang thang trên đường phố Sài Gòn sau
buổi học, chui vào từng hẻm nhỏ ngõ hẹp. Sài Gòn lúc đó thông thoáng chớ
không đông nghẹt như bây giờ. Rất nhiều những khu đất hoang ngập nước
ngút tầm mắt là bình thường. Cửa nhà ban ngày thường mở toang hoác và
chỉ khép vào ban đêm vì không lo trộm cướp. Có nhà nuôi gà đá/chọi thả
chạy cũng chẳng bị ai lấy cắp chú gà cưng, gà mái đẻ trứng cũng không ai
lượm/nhặt. Đi học chẳng phải lo lót và thầy cô cũng chẳng cần phải chạy
show (dạy thêm). Có nhiều bệnh viện miễn phí. Chính quyền chẳng hành ai
dù đang thời chiến tranh. Người chết không phải di dời tới lui. Kể sao
cho hết những kỷ niệm thời chưa bị Cộng sản xâm chiếm trong một xã hội
tự do hạnh phúc. Ôi nhớ sao là nhớ Sài Gòn lúc đó.
Nói rộng hơn một chút, nếu kể về miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)
thì không ai có thể phủ nhận sự tự do hạnh phúc dù có kẻ giàu người
nghèo nhưng con người sống có tình nghĩa, sớm tối hàng xóm có nhau. Còn
bây giờ gia đình anh em giết nhau chỉ vì chút tranh cãi, ra đường là sợ
cướp, Cảnh sát giao thông rình rập bắt nộp phạt cho túi riêng, ăn gì
cũng lo ngay ngáy có chất độc hại, cho con đi học cũng phải lo lót bôi
trơn, Côn an khu vực bắt nộp thuế đen,... Kể sao cho hết cảnh cùng cực
của người dân hôm nay. Chế độ CS dân chủ gấp vạn lần phương Tây, giết và
nướng bao triệu xương máu của người dân để tồi tệ vậy sao?
Tất cả sự việc đều có nguyên nhân chớ không tự nhiên phát sinh. Tại sao
người dân dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa lại sống hạnh phúc dù đang là
thời chiến và người dân thời bình của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa lại loạn
như cào cào châu chấu? Tất cả là do cách "trồng người" của đảng Cộng
sản Việt Nam (CSVN) theo tư tưởng Hồ Chí Minh so với tự do của thể chế
VNCH. Đảng CSVN sẽ biện minh là trong xã hội bao giờ cũng có những mặt
tiêu cực nhưng vấn đề là nó trở thành phổ biến dưới bàn tay của đảng mới
phải nói. Đảng CS không thể lý luận là do tàn dư Mỹ Ngụy vì đã 40 năm
rồi, đảng cũng không thể mãi điệp khúc là sai đâu sửa đó, sẽ rút kinh
nghiệm. Đảng làm ơn đừng nói là phải nhìn chung sự "phát triển" của đất
nước để thấy thiên tài tụt hậu của đảng, phát triển cho đảng viên chớ bộ
phận quần chúng ra sao hỡi đảng, hãy nhìn những nước láng giềng, chưa
cần so với những nước phát triển. Một là đảng CSVN bất lực, hai là đảng
thuộc loại gian-ngu-dốt và ba là thực hiện cho bản chất tay sai.
Người dân hay chạy hỏi, cửa nào khi làm giấy tờ? Tại sao nông dân cứ
được mùa là rớt giá? Tại sao dân oan bị cướp nhưng đảng không những im
lặng mà còn cho côn an đàn áp? Tại sao đất nước của tổ tiên truyền lại
cho dân tộc mà đảng tự cắt hiến cho Tàu cộng và tương lai là cả đất nước
này? Tại sao bắt dân ký cam kết cho những ngu xuẩn của đảng? Tại sao
phải bắt người dân chấp hành quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng qua điều 4
Hiến pháp? Tại sao quan chức rút kinh nghiệm dài dài khi tham nhũng bạc
tỷ trong khi giam giữ người chỉ bắt trộm một con gà? Tại sao nhà nước
bố thí chút đỉnh rơi rớt từ tiền thuế và bán tháo tài nguyên cho dân
nghèo mà tụi địa phương nó ăn chận? Tại sao quần chúng không được lên
tiếng chống ngoại xâm? Tại sao và tại sao? Ông bà mình nói "Thượng bất
chính, hạ tắc loạn" hay "Nhà dột từ nóc", không hiểu lãnh đạo có hiểu
hay lại bắt dân quét cầu thang từ dưới lên trên? Xin mời ban Tuyên giáo
giải trình hoặc như thách thức của XL và các bạn trong Thôn Dân Làm Báo?
XL nhớ mãi khi học võ ở Viện Hóa Đạo phải đi bộ qua đường Tôn Hiến Thành
để đến Trần Quốc Toản mà sau này đảng CS xóa và đổi những tên của tiền
nhân cho lũ bán nước. Sau giờ tập luyện, ngồi dưới gốc cây bồ đề và nhìn
xa xăm thì chỉ thấy đất hoang bao la. Tháp xây mãi không xong cứ như
chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa, nó làm XL nhớ có ngôi chùa ở Cư
xá sĩ quan Chí hòa cũng tương tự. Nó có nguyên nhân mà tụi CS lợi dụng
lúc đó nhưng vì tế nhị nên xin không muốn nói nhưng vẫn nhớ tha thiết
các sư phụ ở Viện Hóa Đạo.
Nếu bạn ở Sài Gòn thời đó thì biết phi trường Tân Sơn Nhất chung quanh
là đồng không hiu quạnh vì an toàn bay. Trại lính dù Hoàng Hoa Thám ở
đường Lê Văn Duyệt cũng bao la bát ngát. Chung quanh Dinh Độc lập cũng
bình thường, chẳng đông đúc. Quân tiếp vụ thênh thang bên trường trung
học Nguyễn Du. Những kỷ niệm sao thương quá Sài Gòn ơi!
XL sinh trưởng ở Sài Gòn nhưng không thể biết hết, mong quý bạn trong Thôn góp ý thêm.
XL chưa từng tham chiến dưới bất cứ hình thức nào của cả hai chế độ. XL
chỉ nói lên suy nghĩ của mình với đất nước và mong muốn đấu tranh cho
một đất nước Tự do Dân chủ được và đẹp hơn thời VNCH, dĩ nhiên không CS.
XL cũng kêu gọi những bạn cùng tâm huyết, mong muốn cho một Việt Nam
Dân chủ Tự do đoàn kết hãy hội tụ để có thể tạo sức mạnh. Với quyết tâm
và ý chí, chúng ta sẽ giải quyết vấn nạn CS hiện nay!
Bảo Giang (Danlambao)-"Con
thấy giáo dục ở Việt Nam quá thối nát rồi. Mà suốt bao năm qua các vị
cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả
gì cả?”, (em Vũ thạch tường Minh, lớp 8). Phải, nó không thay đổi
được gì cả. Bởi vì, nhà nước chủ trương mọi trẻ thơ, học sinh Việt Nam
bước đi theo cái thòng lọng dối trá. Tất cả, dù đã vào khuôn hay không,
đều sợ hãi, khoanh tay, ngoan ngoãn làm nô lệ theo lệnh đảng từ nhỏ cho
đến khi chết…
IV. Xây dựng một nền giáo dục nhân bản, thực dụng, đạo lý
“Người đi trong nước mắt, sẽ về trong tiếng reo…!”
Chuyện người đi trong nước mắt, về trong tiếng reo cũng đã có nhiều, rất
nhiều. Những cuộc đổi mới ấy đã làm thay đổi, không phải chỉ cho vài ba
cá nhân, nhưng cho cả một dân tộc. Gần là cuộc đi trong nước mắt của
người dân Nhật Bản sau Đệ nhị thế Chiến. Xa là cuộc cách mạng giải phóng
và thống nhất đất nước của Hoa Kỳ vào năm 1783. Gần nữa là cuộc xóa sổ
CS ở Đông Âu. Nay, sau 70 năm ngày CS áp đặt một nền giáo dục và chính
trị bá đạo ở nước ta, nó đã tàn phá xã hội và văn hóa Việt Nam, làm
người người đi trong nước mắt, nhà nhà gọi nhau trong thống khổ điêu
linh, phần xã hội oằn mình gánh lấy số lượng tội ác ngày một tăng nhanh.
Người ta tự hỏi: Liệu những chất chứa đau thương này có là một mốc điểm
để chúng ta đứng dậy, cùng đi tìm nguồn sống và niềm vui vươn lên trong
ngày mai hay không?
Câu trả lời của bạn ra sao? Phần tôi, tôi khẳng định là có. Chắc chắn sẽ
có cuộc chuyển mình khi chúng ta đứng dậy, đạp đổ chế độ CS và triệt
tiêu tận căn nền văn hóa tam vô của chúng. Tuy nhiên, cũng không cần
phải chờ cho đến lúc chúng sụp đổ. Ngay từ bây giờ, chúng ta vẫn có thể
bước từng bước vào con đường Canh Tân ấy với một niềm tin vững mạnh:
Xây dựng một nền giáo dục nhân bản, thực dụng, đạo lý.
Trước tiên, muốn xây dựng nền giáo dục chân chính này, đòi buộc chúng ta phải nắm vững những nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Phi chính trị trong học đường. Trả tuổi thơ về với gia
đình. Miễn học phí cho bậc tiểu học. Miễn hoặc giảm quá bán học phí cho
học sinh trung học.
Thứ hai: Bãi bỏ độc quyền giáo dục. Trả các cơ sở giáo dục mà CS
đã lấy của tôn giáo lại cho tôn giáo. Yêu cầu các tôn giáo tích cực tham
gia vào việc xây dựng một hệ thống giáo dục nhân bản cho xã hội.
Thứ ba: Thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc công bằng trong đào
tạo, thực dụng trong tuyển dụng. Đặc biệt, xác lập và tôn trọng công
quyền chính trị và xã hội là của nhân dân, thuộc về nhân dân để mở ra
một tương lai cho đất nước.
1. Phi chính trị trong học đường/ Trả tuổi thơ về gia đình/Miễn giảm học phí
A. Phi chính trị trong học đường. Tại sao phải phi chính trị trong học đường?
Hơn 70 năm qua, CS đã không ngừng tìm đủ mọi phương cách, lẫn những
chiêu, trò lừa, nhằm đưa tuổi trẻ ra khỏi vòng tay yêu thương, đạo nghĩa
của gia đình. Sau khi trẻ ra khỏi gia đình, CS đã từng bước đẩy những
bước chân non vào trong guồng máy chính trị đảng phái, với các tổ chức, "Thiếu nhi quàng khăn đỏ", “thanh niên cộng sản HCM”, “học sinh yêu nước”.
Thoáng nhìn, có người cho rằng đây là những tổ chức mang tính xã hội
hữu ích và hỗ trợ cho học đường, hỗ trợ công cuộc phát triển nhân cách
và trí đức cho học sinh. Trong thực tế, đây là những tổ chức chính trị
đảng phái trá hình, chủ trương biến trẻ thơ thành những công cụ tuyên
truyền và trung thành với cộng sản. Biến trẻ thơ thành một bệ đứng an
toàn, và bảo đảm cho cuộc sống của đảng cộng sản tồn tại. Bởi vì, khi
cần hành động cho một mưu đồ, chúng sẽ dùng tập thể này như một chiếc
chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề.
Bình thường, CS khuyến dụ, tìm đến và tập hợp tuổi thơ vào tổ chức đảng
bằng những hoa dạng của đủ mọi loại chiêu, trò. Sau khi tuổi trẻ bị ràng
buộc vào tổ chức, CS xây dựng, tạo ra những hình ảnh phản biện tiêu cực
từ gia đình đến xã hội để gây hoang mang cho trẻ. Sau đó, tẩy rửa mọi
hình ảnh mang tính luân lý, đạo nghĩa của gia đình, của tôn giáo của xã
hội ra khỏi tâm hồn trẻ thơ. Kế tiếp, từng bước đề cao và tôn thờ sự dối
trá qua những hình ảnh tự tạo, tự vẽ của đảng như Lê văn Tám, Hồ chí
Minh. Cuối cùng, thúc giục trẻ tự đả phá đời sống xã hội nhân bản của xã
hội, của tôn giáo, của gia đình bằng lòng thù hận. Từ đó, hạ thấp tầm
nhìn, không coi nhân bản con người là nguồn cội, là gốc sinh trong trời
đất. Không cho con người là cứu cánh để mỗi cá nhân cần phải được phát
triển toàn diện về trí, đức để phục vụ con người. Trái lại, nhìn con
người như một loại động vật thực tiễn cần được giáo dục, đào tạo, để
biến nó thành một công cụ phục vụ cho Xã Hội Chủ Nghĩa, hay thành phương
tiện thỏa mãn cho một mưu đồ của đảng.
Kết quả, tuổi thơ rơi xuống vực thẳm, không lối thoát, và đi vào con đường: "đi nói dối cha về nhà nói dối mẹ",
ra đường nói dối người quen. Lớn lên, sống gian trá trong tổ chức đoàn
đảng, không còn khả năng nhận ra sự thật. Khi giao tiếp với xã hội, từ
cấp lớn đến nhỏ đều làm những chuyện phi nhân, bất nghĩa, bao biện là
theo lệnh đảng. Sau cùng, dìm xã hội vào trong cuộc sống của gian dối.
Phần mỗi các cá nhân, bị kiềm chế, sống trong cái rọ, đấu tố nhau để
sống và tồn tại.
Sở dĩ tôi nói toạc ra điều này, không cần úp mở, không cần bóng gió và
cũng chẳng sợ hãi gì là vì tương lai của Việt Nam. Một tương lai buộc
chúng ta phải có sự lựa chọn dứt khoát. Một là phải giải thể chế độ,
triệt căn nền văn hóa phi nhân bản do CS đang áp đặt để cứu lấy xã hội.
Hai là cúi đầu làm nô lệ, thuần phục nó, bất kể tương lai ra sao. Điều
thứ hai chắc chắn là không ai muốn. Theo đó, chúng ta phải có thái độ
dứt khoát. Bởi vì, học đường là nơi tạo ra sức sống, là nơi mở ra tương
lai của đất nước, là nơi phát huy và bảo tồn tinh hoa của dân tộc. Học
đường là nơi để phát triển về trí đức cho mỗi cá nhân, là nơi khai phóng
và phát triển tinh thần dân chủ, thúc đẩy hoàn chỉnh việc xây dựng và
phát triển xã hội, ngõ hầu đem lại sự ổn định và nhiều nguồn lợi nhuận
cho cuộc sống con người. Học đường không phải là nơi để tuyên truyền về
chính tri đảng phái.
Thật vậy, tương lai của một dân tộc hoàn toàn tùy thuộc vào nền giáo dục
mà đất nước đó theo đuổi. Ở đó, con người sẽ cùng thăng tiến với xã hội
như trường hợp của bà Dương Nguyệt Ánh, một Khoa Học Gia được thế giới
ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ không phải chỉ vì khả năng nhận thức khoa học,
nhưng còn là nhân cách, đức độ và tinh thần nhân bản trong người phụ nữ
này. Bà đã xác định giá trị của một nền văn hóa nhân bản mà bà được hấp
thụ từ nhỏ và tiếp tục tại Hoa Kỳ từ lúc 15 tuổi là: "Nếu ở lại Việt Nam thì sẽ không bao giờ có DNA như hôm nay".
Không riêng gì bà, lớp trí thức trẻ của Việt Nam tại Hải ngoại, ngoài
việc đồng cảm với lời công khai của bà, nhiều người còn biểu lộ thái độ
thất vọng khi thấy tập đoàn cộng sản cứ mãi như cái dẻ rách. Hoặc như bò
nhai lại, tiếp tục áp đặt nền văn hóa vô nhân bản tại Việt Nam. Đã thế
còn tuyên truyền cho những thế hệ trẻ ở đó học tập theo gương Hồ chí
Minh. Một hình ảnh làm ô nhục cho Việt Nam trên trường quốc tế. (HCM
đứng hàng thứ bảy trong số những đồ tể sát nhân trên thế giới). Nhiều
người không muốn quay về Việt Nam vì cảm thấy nhục nhã và nhiều khi
không dám nhận mình là người Việt Nam nữa. Bởi ở đó, có nhiều thế hệ
thanh niên không còn lý tưởng sống. Họ được mô tả là vô cảm, ích kỷ
trước thời cuộc. "Họ tranh đoạt và tàn độc với chính đồng bào mình”!
Điều đó đúng hay sai?
Như thế, trường hợp của Ngô bảo Châu (hàng ba rọi) là một ngoại lệ?
Không, tôi cho rằng: Châu đã gặp may nhờ vào nền giáo dục nhân bản ở các
nước Tự Do, Dân Chủ tây phương mà có được thành tựu như hôm nay. Và may
vì Châu không phải là đảng viên cộng sản? Nếu Châu là một đảng viên
cộng sản thì có lẽ cũng “không hơn một cục… phân bón gốc cây”(Mao
trạch Đông: Trí thức là cục phân). Bởi lẽ, sau khi nhận nhà tiền tỷ từ
nhà nước, Y chỉ phục vụ theo lệnh đảng như bao nhiêu người có bằng cấp
khác tại Việt Nam, mà quên đi con người và xã hội, quên đi gia đình và
tổ quốc của mình.
Tai sao lại có sự khác biệt này. Nhìn chung, trong nền giáo dục nhân
bản, người ta đưa ra những bài học, chương trình thực dụng cho trẻ phát
triển về nhân sinh quan, về nhân cách, về môi trường sống về nhận thức
và phát triển khả năng hoạt động cho tương lai trong mục đích phục vụ
cho quyền lợi của con người, của đất nước và của dân tộc. Ở đó không
nhằm đạo tạo những thành tích vẽ vời trống rỗng, gian trá vì quyền lợi
và phục vụ cho cá nhân hay đảng phái. Ở đó, ngoài môn sử học, môn công
dân mang tính lịch sử dân tộc trui rèn tinh thần yêu nước, bảo vệ chủ
quyền đất nước và dân tộc cho các công dân không có những bài học ca
tụng gian trá, bạo tàn. Ở đó, học đường là nơi tôn trọng, bảo vệ và phát
huy những truyền thống và tinh hoa trong nền văn hóa của dân tộc. Ở đó,
học đường tuyệt đối không phải là nơi trói buộc trẻ tiếp nhận lý thuyết
hay tham gia vào các sinh hoạt mang tính chính trị nhằm phục vụ cho mưu
đồ của cá nhân, cho đảng phái.
Để độc giả có một cái nhìn chuẩn xác hơn về một nền giáo dục nhân bản ra
sao và nó khác biệt với nền giáo dục bá đạo của cộng sản thế nào, tôi
tóm lược, ghi lại nơi đây một vài nét chính về chủ trương, cũng như
đường lối tổ chức của nền văn hóa nhân bản mà Việt Nam Cộng Hòa đã áp
dụng từ 1954-1975.
Theo những bản thống kê còn lưu lại, ngày nay người ta chỉ ra rằng: Dù
là một quốc gia tân lập, được Độc Lập sau đệ nhị thế chiến (1949), vẫn
còn phải chịu cảnh chia đôi đất nước, và chìm trong chiến tranh do CS
miền Bắc tạo ra. Nhưng chính quyền miền Nam đã Khai Phá một chương trình
giáo dục có thể nói là hoàn mỹ để đưa Việt Nam vào một vị thế lớn trên
trường quốc tế. Sở dĩ miền Nam Việt Nam có được một nền giáo dục phong
phú, đạt hiệu quả cao là vì: Chính phủ đã hòa đồng với cuộc sống khốn
cùng của người dân. Chính phủ và người dân đã thực sự cùng đi trong khát
vọng tiến lên với dân tộc, nên đã mở ra và ứng dụng nền giáo dục nhân
bản nhằm đạt đến mục đích khai phóng con người và xã hội. Khai phóng
bằng một triết lý cơ bản và một mục tiêu thực tế của giáo dục:
1. Triết lý giáo dục:
a. Nhân bản. Lấy nhân bản con người làm gốc sinh. Lấy cuộc
sống của con người làm căn bản. Nhìn con người như một cứu cánh. Con
người không phải là một phương tiện hay là công cụ phục vụ cho mục tiêu
của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
b. Dân tộc. Giáo dục tôn trọng những giá trị cơ bản về văn hóa
dân tộc, đồng thời bảo tồn, phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc
trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, tôn giáo, nghề nghiệp, và
quốc gia trong mọi hoàn cảnh.
c. Khai phá. Tinh thần dân tộc không lệ thuộc sự bảo thủ,
đóng cửa. Trái lại, phải là lựa chọn tới sự tiến bộ, tiếp nhận, tôn
trọng tinh thần khoa học, tinh thần tôn giáo hay đời sống tự nhiên.
2. Mục tiêu của giáo dục.
a. Phát triển cá nhân. Giáo dục hướng vào việc phát triển
toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên và theo những quy tắc tự
nhiên, thực dụng về thể chất, năng lực và tâm lý.
b. Khai phóng tinh thần quốc gia. Những bài học lịch sử, sử
ký, công dân giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống
và lối sống của người dân. Biết quý mến yêu thương xứ sở và dân tộc
mình. Sẵn sàng chung vai tranh đấu bảo vệ tổ quốc và sự tồn vong của dân
tộc.
c. Phát triển tinh thần dân chủ. giúp học sinh học hỏi, làm việc theo từng nhóm để phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức về trách nhiệm của tập thể ( Wikepedia)
Về chương trình học, Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam,
bất kể thuộc hệ thống công hay tư, kể cả do ngoại quốc tài trợ, đều
phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn phải theo chương trình do
bộ Giáo Dục đề ra. Nhờ nền giáo dục nhân bản này, mọi người đều nhận ra
rằng: sự thể hiện trong đời sống từ cách ăn, cách ở, cách mặc, cách suy
nghĩ và sự hiểu biết của người dân, cán bộ công chức ở miền Bắc và ở
miền Nam hoàn toàn khác và cách biệt nhau. Tuy nhiên, tất cả những công
sức của một nền giáo dục nhân bản và đạo lý của miền nam Việt Nam đã bị
cộng sản đào lỗ và chôn sống vào ngày 30-4-1975. Cộng sản đào lỗ chôn
sống hệ thống giáo dục tinh hoa của Việt Nam để sau đó, đánh đồng với
nền văn hóa vô nhân bản của cộng sản vì những lý do sau:
Thứ nhất. Vì biện chứng duy vật coi con người là những dụng cụ
sản xuất ra vật chất, và phải phục vụ cho nhu cầu của đảng, cộng sản
không nhắm đến việc phát triển nhân cách con người để phục vụ con người.
Trái lại, khai thác con người vào những mưu đồ của đảng bằng một một
triết lý gian trá và bạo hành. Đây là thứ triết lý mà chính Marx đã nhìn
thấy từ trước là, đi vào thực tế xã hội chủ nghĩa không thể nào tránh
khỏi những cuộc người đấu tố người. Bởi vì, một khi áp dụng bạo lực
chính trị để cướp và giữ công quyền của nhân dân thì không thể tránh
được việc dùng bạo lực. Dùng bạo lực là chống lại quy tắc tự nhiên, nên
Marx đã viết: “chỉ có loài thú mới quay lưng lại trước nỗi thống khổ của đồng loại”. Marx đã quay lưng và những kẻ theo Marx không thể khá hơn Y.
Thứ hai là ngu dốt, không hiểu biết cơ nguyên của giáo dục là gì.
Không nhìn biết sự tiến bộ, nhưng lại muốn chiếm độc quyền trong giáo
dục, rồi khai tử những ảnh hưởng luân lý, văn hóa, đạo lý của gia đình,
tôn giáo và của xã hội vào học đường bằng phản biện dối trá.
Thứ ba là do những hệ thần kinh bao cấp, bị tâm thần phân liệt
nên chế độ này đã áp dụng hệ thống chính trị cửa quyền vào học đường.
Theo đuổi mục đích đánh bóng, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân. Từ đó, triệt
tiêu tinh thần dân chủ, tinh thần khai phóng cộng đồng, và làm phát sinh
tinh thần nô lệ. (chỉ nghe theo hiệu lệnh, không cần phân biệt phải
trái)
Kết quả là XHCN, mà ngôn từ Việt Nam thật bén nhậy đã diễn đạt trọn ý
nghĩa của nhóm chữ viết tắt XHCN, gọi là Xuống Hàng Chó Ngựa, hay là
Xuống Hố Cả Nút. Quả thật không còn từ ngữ nào chuẩn hơn để diễn đạt về
cái chủ nghĩa này. Nhưng còn tồi tệ hơn cả chuyện họ không thể tiến tới
được xã hội chủ nghĩa là tất cả những thành viên đã kinh qua các đội ngũ
từ “thiếu nhi quàng khăn đỏ”, lên “hội học sinh yêu nước”, vào “đoàn
thanh niên HCM”, sau cùng là đảng viên đảng CSVN đều không có đường quay
trở lại với cuộc sống nhân bản của người. Nghĩa là, không có lối ra
bình thường cho người không muốn ở lại. Trái lại, họ được dọn sẵn cho
một lối duy nhất. Chấp nhận một cuộc đấu tố, một cuộc thanh trừng. Hoặc
giả, chấp nhận từ bỏ tất cả những danh lợi đã có, đang có, kể cả công ăn
việc làm chuyên môn và tương lai chính trị của bản thân và gia đình
bằng một cuộc khai trừ!
Thật là kinh hoảng cho một lối ra. Một lần nữa, không ai hơn Marx khi
định nghĩa về cách ra đòn của các thành viên cộng sản dành cho nhau: “Chỉ có loài thú mới quay lưng lại với những nỗi thống khổ của đồng loại”.
Đồng loại ở đây có nghĩa là đồng chí của họ, không phải là người dân
thường. Vì người dân thường vốn dĩ không được coi là đồng loại với CS,
nhưng là một thế lực thù địch.
Tóm lại, nền giáo dục của CS, không có mục đích phục vụ cho nhân quần xã
hội. Trái lại, đây là nơi, là phương cách để cộng sản rèn luyện và
tuyển chọn những đao phủ hành nghề trong tất cả mọi lãnh vực, trong mọi
ngõ ngách để bảo vệ đảng. Với chủ trương này, CS đặt xã hội dưới sự kiểm
soát của đảng nên đã không ngần ngại chi phối trọn vẹn từ hơi thở, lời
nói, ánh mắt của người dân ngay từ lúc còn trẻ thơ. Từ đó, CS đem chính
trị đảng phái vào học đường như việc dùng một cái búa. Nó vừa đe dọa,
vừa khuyến dụ, lừa trẻ tham gia vào các tổ chức, đoàn thể như “đội thiếu
nhi quang khăn đỏ”, “học sinh yêu nước”, “đoàn thanh niên HCM” là để
tập cho chúng trung thành với đảng, theo lệnh đảng thay vì phát triển
nhân sinh quan của con người vì tổ quốc và đồng bào của mình.
Hãy nghe một em học sinh lớp 8 (13 tuổi?) Vũ thạch tường Minh, em có thể từng bị buộc phải hát “ai yêu bác HCM hơn các thiếu nhi, nhi đồng”, hoặc, “em âu yếm hôn đôi má bác” đã kinh tởm và nhận xét về cái lối giáo dục vô giáo dục ấy như sau: "con
thấy giáo dục ở Việt Nam quá thối nát rồi. Mà suốt bao năm qua các vị
cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả
gì cả?"
Phải, nó không thay đổi được gì cả, bởi vì, lối giáo dục bá đạo này đã
cho ra một cái kết quả vô cùng tồi tệ là. Tất cả mọi trẻ thơ, học sinh
đều phải bước đi theo cái thòng lọng dối trá. Tất cả, dù đã vào khuôn
hay không, đều sợ hãi, khoanh tay ngoan ngoãn làm nô lệ theo lệnh đảng
từ nhỏ đến khi chết. Chính cái lối giáo dục này đã phá hủy nhân bản tính
của từng cá nhân. Chính cái nền giáo dục này đã tiêu hủy trí năng và sự
phát triển của xã hội. Theo đó, muốn xây dựng một nền giáo dục nhân
bản, thực dụng, đạo lý, ngoài việc có một triết lý nhân bản và mục tiêu
đứng đắn, điều tiên quyết là phải loại trừ chính trị đảng phái ra khỏi
học đường. Tuyệt đối cấm chỉ mọi hình thức sinh hoạt chính trị của đảng
phái len lỏi vào nhà trường.
Nguyên Thạch (Danlambao) - Dưới
một cơ chế toàn trị và mụ mị, con người ta bị nhốt trong một cái nhà tù
vĩ đại, nơi đây chẳng những bị giới hạn về công ăn việc làm, kinh doanh
buôn bán vì nền tảng của XHCN là kinh tế tập trung, mà ngay cả Tự do,
Dân chủ, Nhân quyền, lòng yêu nước... cũng bị giam hãm trong tù ngục. Từ
đó, xã hội của thể chế này đã biểu hiện rất nhiều cái NGU, ngu dai
dẳng, ngu lì lợm mà tiếng bây giờ người ta thường gọi là ngu khủng, ngu
hoành tráng.
Ngoài những cái ngu về chính sách, đường lối, chủ trương, về khoa học,
kỹ thuật, sáng tạo và phát triển, khối Dư luận viên cùng một số lớn đảng
viên, nhất là côn an mạng, kể cả nhiều thành viên của Ban tuyên giáo
còn ngu cả nhận định về những nhà đối kháng đấu tranh cho một Việt Nam
hầu được tiến hầu bắt kịp thế giới văn minh, giúp người dân được có đủ
quyền làm người. Cái ngu triền miên mà tôi muốn nhắc lại ở đây là: Cho
đến hôm nay nhà nước và khối DLV vẫn khăng khăng cho rằng những bài viết
của các nhà đấu tranh là thuộc "thành phần phản động, diễn biến hòa
bình" và viết để nhận tiền từ "các thế lực thù địch".
Mặc dù tôi đã xác minh về vụ "nhận tiền" mà những tên bưng bô tán tận
lương tâm, bẻ cong ngòi bút đã vu khống (1). Sự vu khống ngờ nghệch này
cho đến hôm nay vẫn còn luôn tiếp diễn nên bài viết này có chủ đích nhắm
vào cái vu khống lì lợm như giòi, như đỉa hôi tanh.
Phản động là từ ngữ chuyên dùng của những kẻ độc tài, làm dữ lo xa. Trên
thực tế, những nhà đấu tranh này không hề là "phản động" và cũng không
hề nhận thù lao của bất cứ thế lực nào. Họ là những con dân đáng kính,
những con người có tấm lòng và bầu nhiệt huyết cùng tình yêu quê hương
đất nước với những trăn trở lo âu cho vận mệnh của cả một dân tộc đang
đứng bên bờ vực thẳm của tụt hậu và vong nô trong sự cai trị tàn bạo của
một nhóm thiểu số dùng chuyên chính vô sản của cái gọi là bạo lực cách
mạng.
Những người dám đứng lên đấu tranh này vì họ đã nhận thấy được những áp
bức, bất công, những hiểm nguy đe dọa từ những cục óc mụ mị đầy hoang
tưởng, từ những ý niệm ngu ngơ mù mờ bất khả thi nhưng với quyền lực
trong tay đã áp chế khối đông quần chúng để dồn vào sợ hãi nhằm tê liệt
mức độ phản kháng. Những nhà đấu tranh đã nhận thức được trách nhiệm,
bất luận họ thuộc thành phần nào, trí thức, sĩ phu hay ngay cả thất phu,
tất cả đều mong muốn thể hiện sự hữu trách của mình. Những người đáng
trân quí này, ngoài cảnh đầu tắt mặt tối lo cho công ăn việc làm mà họ
phải có bổn phận với bản thân, gia đình, họ còn cố gắng dành thời gian
và trí tuệ cho công cuộc, đồng thời sẵn sàng chấp nhận những hy sinh,
mất mát nếu chẳng may. Họ muốn thấy xã hội hòa nhịp với công bằng, tiến
bộ, văn minh và bác ái, đất nước được phát triển và giàu mạnh hầu ngẩng
mặt với cộng đồng nhân loại. Từ động lực của những ước mơ chân chính đó,
họ rất căm thù bất công, nghịch lý ở một xã hội mà đảng cộng sản đã
triền miên gây nên bao bất ổn.
Với những con người đầy nhiệt huyết và tấm lòng cao cả như vậy, lẽ ra họ
nên được trọng vọng, ưu ái, khích lệ để tạo hợp quần sức mạnh của quốc
gia nhưng tiếc thay, họ lại bị nhìn dưới một nhãn quang "phản động"!.
Có nơi nào ngoài Việt Nam, Bắc Hàn và Tàu cộng, chẳng những đã không
biết chiêu hiền đãi sĩ mà còm giam tù những con người ái quốc?. Quốc gia
nào cho rằng yêu quê hương, yêu đất nước là có tội, ngoài những xứ cộng
sản?.
Tôi đã ngao ngán, cũng như vô cùng thất vọng cho đảng CSVN và nhà cầm
quyền hiện hành đã hung bạo đến vô tâm khi danh sách những tù nhân lương
tâm Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nhà báo tự do Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích
Khương, Nhạc sĩ Việt Khang... và vô số tù nhân lương tâm khác vẫn còn bị
giam giữ trong bạo hành theo dòng thời gian mà nhẽ ra họ phải được sống
như những con người đúng nghĩa.
Một lần nữa, tôi xác định, chúng tôi những con tim nhân bản với đầy đủ
lý trí và trách nhiệm, đã sống và hành xử một cách công minh và hợp đạo
làm người, chúng tôi không vì lợi nhuận hay lệ thuộc quyền sai khiến của
bất cứ "thế lực thù địch" nào.
Đảng CSVN và những kẻ vì tham vọng tiền bạc và quyền lực đừng lấy bụng
của kẻ tiểu nhân mà so lòng người quân tử, đừng lấy chuyện làm dữ của
mình mà nghĩ ai cũng hung tàn độc ác như vậy. Kẻ cúi đầu nhận ân sủng để
chấp nhận bưng bô, gian dối, ngậm máu phun người thì hoàn toàn khác xa
với những con người yêu nước.
Phạm Trần (Danlambao) - “Tất
cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được
sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy
rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh
ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền
tự do.
Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.” (Lời Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 02/09/1945)
Bây giờ 70 năm sau, đố có ai không biết người dân Việt Nam chưa có đầy đủ các “quyền bình đẳng về quyền lợi, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" .
Nếu chưa có, mà sự thật là chưa biết đến bao giờ, thì các Dư luận viên
của Ban Tuyên giáo, Báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân và Tạp chí Cộng sản
hãy khóa lại cái mồm tuyên truyền ca tụng cho “Cách mạng tháng Tám” là “cuộc
cách mạng giành độc lập dân tộc, giành quyền lực cho nhân dân, mở đầu
kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội.” (“Giá trị của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ nhận”, báo Quân đội Nhân dân, 10/08/2015)
Bởi lẽ càng nói về công lao không hề có của đảng Cộng sản Việt Nam đã
chuẩn bị để “lãnh đạo” Cách mạng Tháng Tám 1945 đến thành công, hay bảo
rằng thành công ấy là “kết quả của một quá trình tổ chức lực lượng
chính trị của quần chúng, từ đấu tranh chính trị tiến lên xây dựng và
phát triển lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh
vũ trang” v.v… (Thiên Phương (Báo Nhân Dân, ngày 20/08/2015) chỉ
làm cho ngày 19/8 xấu hổ thêm và càng xúc phạm đến vong linh những người
có mặt ở quảng trường Ba Đình chiều ngày 02/09/1945 .
Thiên Phương còn với tay qua đầu như lao xe xuống dốc không phanh rằng:
“Nhờ có sự chuẩn bị tích cực và chu đáo trước đó, như: tuyên truyền
giác ngộ và phát triển lực lượng quần chúng, xây dựng căn cứ địa, chiến
khu kháng chiến, phát triển các hoạt động chiến tranh du kích và tập
dượt phong trào đấu tranh... chỉ trong nửa cuối tháng 8-1945, toàn dân
ta đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.”
Như vậy chắc là ông Hồ và Ban Lãnh đảng CSVN đã chuẩn bị cho cuộc “cách mạng toàn dân nổi dậy” kỹ lắm phải không ?
“Đâu có đâu” hay “làm gì có chiệng đó” là cách trả lời bình dân miệt
vườn của đồng bào Nam Bộ. Đa số đồng bào miền Bắc ở thời điểm tháng 8
năm 1945 hãy còn đói rách lắm. Trên hai triệu người đã chết đói từ Quảng
Trị trở ra bởi quân xâm chiếm Nhật Bản nên lấy sức đâu mà “tham gia
cách mạng”?
Cách mạng bằng chiến Micro
Vì vậy lịch sử đã có mắt để vạch ra câu chuyện thật của ngày 19/8 tại Hà
Nội 70 năm trước đây. Tại buổi kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc
khánh 2/9 của Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam tổ chức với
chủ đề “Ký ức cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội”, Ông Lê Đức Vân, cựu thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu, phụ trách tờ báo Hồn nước nhớ lại chiều 17/8/1945, tại Nhà hát Lớn: “Chính
phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh với sự tham gia của hàng trăm nghìn
người. Khi chúng mới tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên
cướp micro. Hai phụ nữ là Kiều Trang (Từ Trang Anh, thành viên của Đội
cứu quốc thành Hoàng Diệu) và Nguyễn Khoa Diệu Hồng (thành viên của Đảng
Dân chủ) lên sân khấu thông báo Nhật đã đầu hàng, hô hào đồng bào ủng
hộ Việt Minh cướp chính quyền, đòi độc lập. Từ trên tầng hai Nhà hát
Lớn, lá cờ đỏ sao vàng được buông xuống.” (Theo ViệtnamExpress, 19/08/2015)
Việt Minh là tên gọi viết tắt của “Việt Nam độc lập đồng minh” (tên chính thức trong nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương), hay “Việt Nam độc lập đồng minh hội”, là liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập vào ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích công khai là "Liên
hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn
thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho
Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". (Trích từ Bách khoa Toàn thư mở)
Ông Lê Đức Vân kể tiếp: "Ngay sau đó, một thành viên trong đội danh
dự đã lấy từ trong người ra lá cờ đỏ sao vàng to, có cán, quay đầu hô
"tiến lên". Do anh đứng ở cuối đoàn nên khi quay đầu trở thành người dẫn
đường. Những người tham dự mít tinh cũng xoay người đi theo. Cả đoàn
nhằm hướng Tràng Tiền tiến lên. Đi đến đâu, người dân từ hai bên đường
ra gia nhập đến đó. Vừa đi mọi người vừa hô "Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ
Việt Minh, Việt Nam độc lập".
“Đoàn diễu hành sau khi đi hết Tràng Tiền lại qua Hàng Đào, Hàng
Ngang, Phan Đình Phùng... Khi qua Phủ Chủ tịch (nơi Tư lệnh quân Nhật
đóng), quân Nhật ở đây không phản ứng gì, chỉ đứng nhìn. Đoàn diễu hành
tiếp tục đi qua Trần Phú, Cửa Nam rồi dừng lại trước tiếng súng chỉ
thiên của lính bảo an. Từ đây, đoàn diễu hành chia thành các nhóm nhỏ đi
về các phố biến thành hàng chục cuộc diễu hành nhỏ, vừa đi vừa hô khẩu
hiệu "Việt Nam độc lập" cho đến 20h mới tan.”
Câu chuyện cách mạng “có tổ chức bài bản”, nói theo tuyên truyền trong suốt 70 năm của đảng, thực chất chỉ bắt đầu là:
“Cuộc mít tinh của Chính phủ Trần Trọng Kim đã nhanh chóng biến thành
biểu tình, tuần hành của quần chúng cách mạng. Hội nghị của Thành ủy và
Ủy ban Quân sự cách mạng mở rộng được triệu tập ngay sau đó quyết định
khởi nghĩa vào ngày 19/8.”
Như vậy “màn độc diễn ăn may” của Cách mạng tháng Tám, hay còn được gọi
lãng mạn là “Cách mạng mùa Thu” chỉ xẩy ra ở Hà Nội trong mấy tiếng đồng
hồ như thế chứ đâu có chuyện đảng CSVN lãnh đạo “20 triệu nhân dân ta
nhất tề vùng dậy giành lại chính quyền” như sách vở lịch sử của nhà nước
tự vẽ ra bấy lâu nay ?
Ông Hồ và Ban lãnh đạo khi ấy hãy còn ẩn náu ở vùng thượng du Bắc Việt chứ có biết gì chuyện xẩy ra ở Hà Nội.
Chính bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ở Hải Phòng và là
người có công lớn nhất đối với cá nhân ông Hồ và nhiều lãnh đạo hàng đầu
của Việt Minh khi ấy đã “phóng xe nhà có cắm cờ đỏ sao vàng, từ Hải
Phòng lên Thái Nguyên nơi quân Nhật còn chiếm đóng, đến tận Đình Cả Võ
Nhai để báo tin cho con trai và đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành
được chính quyền” (Nhà văn Võ Thị Hảo).
Trong bài viết nhân dịp 19/8 và 2/9 từ Hà Nội ngày 25/08/2015 Nhà văn Võ
Thị Hảo đã kể về Bà Nguyễn Thị Năm từng được ông Hồ tặng danh hiệu “Mẹ nuôi cách mạng”, nhưng cũng chính ông Hồ đã quay mặt khi Bà bị đem ra xử bắn oan khiên trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất của ông Hồ.
Theo Nhà văn thì Bà Năm không chỉ là ân nhân của ông Hồ mà còn của các
Lãnh đạo hàng đầu của Việt Minh như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ
Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Hữu Nhân, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng
Tùng, Vũ quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị v.v…
Bà đã cúng vàng, tiền bạc và nuôi ăn nhiều nhất cho Lãnh đạo “Cách mạng” để rồi bị chính ông Hồ vu oan trong bài viết: “Địa chủ ác ghê” ký bút danh là C.B (của Bác) đăng trên báo Nhân dân ngày 21/7/1953. Chính bài báo này là đòn sấm sét, đổ cho bà tội “làm
chết 23 gia đình gồm có 200 người… Giết chết 14 nông dân, tra tấn đánh
đập hàng chục nông dân…, đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán
bộ. Sau Cách mạng tháng Tám chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt
gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến…” (Nhà văn Võ Thị Hảo)
Sau bài viết này, Bà Năm bị xử bắn “để làm gương” trước sự chứng kiến
“ngụy trang” của ông Hồ bằng cách “bịt râu” và Trường Chinh thì “đeo
kính râm” “bí mật tới dự vụ đấu tố.” (Hồi ký “Đèn Cù” của Trần Đĩnh,
nguyên Phóng viên báo Nhân Dân được Trường Chinh cử đi viết bài về phiên
Toàn án Nhân dân xử Bà Nguyễn Thị Năm)
Như vậy, nếu có thể nói là “thành công”, nhưng thiếu thuyết phục, của
đảng CSVN thì đó là hậu quả của một Chính phủ Trần Trọng Kim non yếu mới
thành lập ngày 15/04/1945 không có quân đội và chưa có lực lượng bảo
vệ. Trong khi quân Nhật đã được lệnh buông súng án binh bất động, sau
khi nước Nhật đầu hàng ngày 02/09/1945, kết thúc Chiến tranh thứ II và
quân Trung Hoa Tưởng Giới Thạch có nhiệm vụ vào miền Bắc Việt Nam giải giáp quân Nhật (từ vĩ tuyến 16 ra Bắc), theo sự phân công của Đồng Minh, chưa kịp đến.
Cũng theo sự phân phối này, quân Anh vào thay quân Nhật từ Vỹ tuyến 16 vào miền Nam Việt Nam.
Vậy thì điều được gọi là thành công “long trời chuyển đất” hay “diệu kỳ” của Cách mạng tháng Tám “trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc ta”
(Thông tấn Xã Việt Nam (TTXVN), 12/08/2015) chẳng qua chỉ là hành động
của vài người ủng hộ Việt Minh đã nhanh chân cướp Micro tại cuộc Mít
Tinh của Chính phủ Trần Trọng Kim rồi bằng một cuộc “Cách miệng” hô hào
ủng hộ Việt Minh, sách động người dân đi diễu phố để giành lấy chính
quyền trong cảnh “đồng không nhà trống” chứ có xung đột hay đánh đấm với
ai mà nói là “cách mạng” cho xôm tụ ?
Bài viết tự khoe của TTXVN còn mau chóng khoác cho “cuộc cách mạng” ấy
chiếc áo Cộng sản giấu trong vỏ bọc “chủ nghĩa xã hội” để coi đó là động
lực giúp cho “cách mạng” thành công. Nếu lúc ấy ai cũng biết Việt Minh
chính là đảng Cộng sản ngoại lai thì có lẽ cuộc nổi dậy tự phát giành
độc lập của nhân dân đã khác. Đất nước cũng đã không lâm vào cảnh nồi da
xáo thịt anh em trong 30 năm nội chiến đẫm máu do người Cộng sản chủ
động.
Vẫn theo TTXVN: "Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình-Hà Nội, Chủ
tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai
sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định: "Nước Việt Nam có
quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc
lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy." Một kỷ nguyên
mới-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nước
Việt Nam mới bắt đầu.”
Chưa hết, TTXVN còn vẽ thêm: “Diễn ra và giành thắng lợi trong một
thời gian ngắn, nhưng Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài
học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương
lai, kiên định mục tiêu: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”
Nói huyên thuyên như vòi nước máy như thế mà TTXVN không biết ngượng là
họ, ở thời điểm kỷ niệm 70 năm ngày 2/9, đã tự ý viết lại lịch sử của “Cách mạng tháng Tám” mà ông Hồ không hề nói đến cụm từ “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.”
Trong Tuyên ngôn độc lập, ông Hồ đã 3 lần nói đến nhóm chữ “dân chủ Cộng hòa” để nói về thể chế chính trị của nước Việt Nam mới.
Thứ nhất, ông Hồ nói: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã
thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi
Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền
lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”
Lần thứ hai, ông thuật lại diễn tiến: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo
Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm
nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ
quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.”
Lần thứ ba ông Hồ khẳng định: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành
một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc
lập ấy."
Liên hiệp để loại ra
Rất tiếc sau đó ông Hồ và đảng CSVN đã dùng mọi mánh lới và xảo thuật để
độc tài quyền lực, phản bội xương máu của những người đã đấu tranh
chống Pháp giành độc lập, trong số này có các đảng phái Quốc gia và Tổ
chức Tôn giáo không ủng hộ Việt Minh.
Để củng cố vị trí chính trị cho phe Cộng sản, ông Hồ đã đưa ra kế hoặch
tiêu diệt các đảng phái và Tổ chức Tôn giáo không đồng ý với đường lối
chính trị của Việt Minh.
Các cộng sự viên thân tín Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và
Trần Quốc Hoàn trực tiếp thi hành lệnh này đầu tiên nhắm vào hai lực
lượng võ trang của Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc - Vũ Hồng Khanh) và
Việt Nam Cách mạng Đồng chí hội (Việt Cách--cụ Nguyễn Hải Thần) từ
Trung Hoa về nước.
Tiêu biểu nhất là: “Vụ án phố Ôn Như Hầu là vụ án xảy ra tại Hà Nội năm 1946. Sở Công an Bắc Bộ điều tra và thu thập được nhiều chứng cứ chứng tỏ Việt Nam Quốc dân Đảng âm mưu đảo chính nhằm lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ đó đã lập Chuyên án số 7 phố Ôn Như Hầu phá vỡ âm mưu này. Tuy nhiên Việt Nam Quốc dân Đảng
và một số sử gia phương Tây cho rằng đây là một vụ việc do Việt Minh
dựng lên nhằm triệt hạ đối thủ chính trị của mình là Việt Nam Quốc dân
Đảng.” (Theo Tài liệu của Bách Khoa toàn thư mở)
Sau đó, Tài liệu chính thức của đảng còn nhìn nhận: “Ngày 5-9-1945,
Chính phủ ra sắc lệnh giải tán "Đại Việt quốc gia xã hội đảng", "Đại
Việt quốc dân đảng", ngày 13-9-1945, Chính phủ ra tiếp sắc lệnh quản
thúc an trí những người nguy hiểm cho nền dân chủ cộng hòa.” (Trích từ: “Giữ vững chính quyền cách mạng trong những năm 1945 – 1946”, Báo điện tử Đảng CSVN ngày 10/6/2003)
Từ những mâu thuẫn giữa phe Việt Minh và phe Quốc gia mà Chính phủ Liên
hiệp 1946 đã tan rã mau chóng khiến hai lãnh tụ Việt Quốc Nguyễn Tường
Tam, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần của Việt Cách lại phải bôn ba qua
Trung Hoa lánh nạn.
Vì vậy luận điệu tuyên truyền cho rằng hai mục tiêu cốt lõi của Cách mạng tháng Tám “Độc lập dân tộc” và “Cơm về cho người cày” là “động
lực, thúc giục nhân dân ta theo Đảng Cộng sản Việt Nam vùng lên làm
cách mạng tháng Tám “long trời chuyển đất”, lật đổ ách thống trị ngàn
năm phong kiến, trăm năm đô hộ của đế quốc thực dân, lập nên nhà nước
công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á” là hoàn toàn bịa ra.
Từ Việt Nam, Giáo sư, Nhà Xã hội học Nguyễn Khắc Mai nói: “Cái gọi là nhà nước công nông đầu tiên ở Châu Á thực chất là sự tuyên truyền lừa mị không có chút giá trị nào.”
Ông hỏi: “Thế thì cái gì khiến VN nên nỗi bi thảm như ngày nay, nếu
không nói đó là do thể chế chính trị và đội ngũ quan chức cộng sản đã
trở nên ngày càng hư hỏng cũ kỹ, như chính Hô chí Minh từng dự báo. Đại
Hội XII hãy tiến hành một cuộc chiến xóa bỏ hư hỏng cũ kỹ như Hô chí
Minh từng di chúc. Đây chính là thời cơ thích hợp nhất. Bỏ qua cơ hội
này Đảng Cộng sản VN sẽ trở thành tội đồ của Dân tộc trước lịch sử.!” (Theo Viet-studies, 25/08/2015)
Có ít xít ra nhiều
Như thế rõ ràng chuyện được gọi là Cách mạng tháng Tám đã “có ít xít ra
nhiều” nên không ai ngạc nhiên khi thấy Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính
trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã hồ hởi
phét lác: “Tất cả những thành tựu to lớn nhân dân ta, đất nước ta
đạt được trong 70 năm qua, nhất là trong gần 30 năm đổi mới, đều bắt
nguồn từ những nền tảng đầu tiên là thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng
Tám năm 1945 và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự
lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.”
Huynh nói oang oang tại cuộc Tọa đàm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc
khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với sự nghiệp đổi mới, hội
nhập và phát triển (1945 - 2015), tại Hà Nội ngày 24/08/2015: “Những
bài học lịch sử của Cách mạng tháng Tám về sự lãnh đạo kiên định và
sáng tạo của Đảng, nghệ thuật biết giành lấy thời cơ cách mạng và phát
huy cao độ lòng yêu nước, thực hiện đường lối đoàn kết toàn dân tộc, tập
hợp các lực lượng yêu nước, không phân biệt tôn giáo, xu hướng đảng
phái chính trị, giai cấp, đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Dân tộc thống
nhất cùng đứng lên đánh đuổi đế quốc Pháp và phát xít Nhật, lật đổ ách
đô hộ thống trị của thực dân phong kiến sẽ được các thế hệ người Việt
Nam suy nghĩ, chiêm nghiệm và vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện
hiện nay."
Cậu bé 8 tuổi Đinh Thế Huynh, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1953 tại xã Xuân
Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, khi xẩy ra Cách mạng 19/8/1945
đã biết gì mà lên lớp thiên hạ đến thế?
Ông ta còn rao giảng như vào chỗ không người rằng: “Cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước đã trải qua nhiều giai đoạn, nhân dân ta phải lần lượt
đối phó với các chiến lược chiến tranh tàn bạo, xảo quyệt của kẻ thù.
Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, qua 21 năm chiến
đấu anh dũng (1954-1975), chúng ta đã giành thắng lợi vẻ vang. Đối với
cách mạng ở miền Bắc, Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc khôi
phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954-1960); đẩy mạnh xây dựng
chủ nghĩa xã hội (1961-1965); chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần
thứ nhất, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm nghĩa vụ hậu phương
(1965-1968); khôi phục và phát triển kinh tế, không ngừng chi viện cho
chiến trường miền Nam, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai
(1969-1973); khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, ra sức
chi viện cho miền Nam (1973-1975). Đối với cách mạng ở miền Nam, Đảng ta
lãnh đạo đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, nhất là
“Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968),
“Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1973) và “đánh cho ngụy nhào”
(1973-1975). Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ
Chí Minh đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên
độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.”
“Giải phóng miền Nam” ư? Nghe mà muốn cười bể cái bụng với chàng thanh
niên 22 tuổi Đinh Thế Huynh vào thời điểm kết thúc chiến tranh tháng
4/1975. Bây giờ 40 năm sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, nhiều “Nhà khoa
học, Tiến sỹ, Giáo sư” hàng đầu của hệ thống Giáo dục và Báo chí nhà
nước mới khám phá ra rằng nền giáo dục và báo chí được gọi là “cách
mạng” của miền Bắc chẳng qua cũng chỉ đáng bị sổ toẹt so với miền Nam
trước đây.
30 năm đổi mới cái gì?
Sang lĩnh vực Kinh tế ngô không ra ngô, khoai chẳng giống củ gì được gọi là “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng cứ ì ra sau ngót 30 năm gọi là Đổi mới (từ 1986).
Lãnh đạo Việt Nam, tuy nói hăng hơn tiết vịt, nhưng lại không dám cách
mạng bản thân với tư duy mới để xắn tay áo lên làm cho bằng được. Từ
Tổng Bí thư xuống đều sợ mất quyền, mất lợi nên cứ co ro như con sò gặp
nắng khiến cho kinh tế cứ lệ thuộc mãi vào láng giềng ba xạo Trung Quốc.
Chủ trương “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” thì đẻ ra Tham
nhũng đông hơn giòi bọ và chỉ tạo cơ hội cho cán bộ, đảng viên có chức
có quyền lập các “nhóm lợi ích” để ăn chia, ăn chặn và ăn trên ngồi trốc
thiên hạ.
Kinh tế gia nổi tiếng Bà Phạm Chi Lan tiết lộ: “Một điều tra cho thấy
ở Việt Nam, trung bình cứ 1 đồng lợi nhuận thì DN phải mất 1,02 đồng
cho “bôi trơn”. Có nghĩa, nếu tham nhũng ở nước ta giảm đi 50% thì đã
làm tăng được 50% lợi nhuận của Doanh Nghiệp rồi.”
Bà còn cảnh giác rằng: “Không cạnh tranh được trong ASEAN thì nói gì đến Mỹ, EU”, trong bài nói chuyện “Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa trong hội nhập quốc tế” tại hội nghị kết nối các DN nhỏ và vừa toàn quốc do Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam tổ chức chiều 08/08/2015 tại Đà Nẵng.
Bà nói: “Tuy nhiên, nếu nhìn vào bước đường hội nhập thì có thể thấy
điều rất đáng lo là năng lực cạnh tranh của Việt Nam cho đến nay vẫn còn
thua xa các nước ASEAN 6. Đã 20 năm tham gia ASEAN nhưng Việt Nam vẫn
còn nằm trong nhóm 4 nước lạc hậu của ASEAN.” (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar—Miến Điện--).
Chuyên gia Phạm Chi Lan còn vạch ra: “Không chỉ xếp hạng về môi
trường kinh doanh mà xếp hạng về thể chế của Việt Nam hiện nay cũng khá
thấp. Đặc biệt, trong xếp hạng về thể chế thì Việt Nam xếp ở mức rất kém
trong các chỉ số về chi phí ngoài pháp luật, chi phí “bôi trơn” so với
nhiều nước khác.”
Theo Infonet ngày 10/08/2015 thì bà Lan cho biết: “Một trong những
nguyên nhân chính là tham nhũng đã lấy mất lớn hơn so với lợi nhuận của
DN. Bị lấy mất lợi nhuận rồi thì DN còn gì để tái đầu tư, để mở rộng
được? Và DN sẽ co lại vì họ làm được một nhưng có những ông khác không
làm gì cả mà tước đoạt của họ hơn một thì tội gì họ làm nữa”.
Vậy mà Đinh Thế Huynh cứ chũi đầu xuống cát để hô lý luận loanh quanh: “Nắm
vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai
sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai
nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.”
Huynh còn khoe: “Gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những
thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại,
Công cuộc đổi mới đã đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của tình
hình nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; có ý nghĩa như
một cuộc cách mạng trong thời kỳ mới, một sự nghiệp thật sự sáng tạo
của nhân dân ta; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước
ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch
sử.”
Nhưng ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung
ương, người đứng sau ông Huynh lại có cái nhìn khác về 30 năm đổi mới.
Ông nói : “Hơn một nửa thời gian đầu luồng gió đổi mới đã tạo ra động
lực phát triển to lớn, nhưng đúng là sau đó, động lực này đã giảm dần,
mất dần…. Lênin có nói một ý hay là có những khuyết điểm hiện tại do sự
kéo dài quá mức cần thiết của cái ưu điểm trước đó. Tăng trưởng theo
chiều rộng ở giai đoạn trước là cần thiết, nay nếu cứ cách ấy thì càng
rơi nhanh vào “bẫy” thu nhập trung bình thấp.
Có thể nói lĩnh vực đổi mới nhiều nhất là kinh tế, nhưng đến giờ cũng
mới đi nửa đường. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, để đổi mới kinh tế thành
công, chúng ta cần phải đổi mới song hành, thậm chí có mặt còn phải vượt
trước, về tư duy lý luận, về thể chế kinh tế, cả về chính trị nữa, nhất
là cơ chế phát huy dân chủ, kiểm soát quyền lực, minh bạch thông tin.”
Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính-Viễn thông Mai Liêm Trực thì nhận xét: "Những
việc chưa làm được còn rất là nhiều. Trước hết là về thể chế kinh tế.
Ngần ấy năm thụ hưởng thành công của nền kinh tế thị trường rồi mà chúng
ta vẫn còn rất lừng khừng trong tư duy.
Đánh giá về kinh tế Việt Nam, các chuyên gia đều có chung nhận định
rằng các lợi thế về kinh tế ở ta đã kịch trần rồi. Trong 20 năm đầu đổi
mới, chúng ta đã đạt tới 8 - 9% tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhưng 10 năm
qua chỉ đạt 5-6%, thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng phát triển của
đất nước.”
Ông Trực thắc mắc: “Tại sao Trung Quốc trong suốt 30- 40 năm người ta
vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn ta rất nhiều. Họ cũng
có những khó khăn, có những mâu thuẫn nội tại, có những điểm yếu này,
điểm yếu khác, nhưng rõ ràng, họ thành công hơn ta.
Nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta chậm chạp trong Đổi mới. Ngay cả
đổi mới cơ chế kinh tế là lĩnh vực đổi mới mạnh mẽ nhất trong 30 năm qua
nhưng chúng ta cứ lừng khừng, thiếu quyết tâm bứt phá.” (Theo báo Tuần Việt Nam, trong loạt bài Phỏng vấn từ ngày 05/08/015)
Để tháo gỡ bế tắc, ông Vũ Ngọc Hoàng đề xuất: “Hiện tại, theo tôi
nghĩ, Việt Nam có hai việc quan trọng bậc nhất là phải chống cho được
tham nhũng, “lợi ích nhóm” và chống lối tư duy bảo thủ, không chịu đổi
mới để đất nước và dân tộc phát triển, xã hội tốt đẹp hơn, Đảng cũng
trong sạch và vững mạnh hơn, lấy lại lòng tin của nhân dân.
Việc đổi mới tư duy của cả một dân tộc, đầu tiên phải từ ban lãnh đạo
thì mới có thể tạo ra sức bật cho cả một cộng đồng. Và tư duy cũng là
cán bộ, làm ra cơ chế cũng là cán bộ và quyết tâm thực hiện cũng là cán
bộ. Nên cuối cùng cốt lõi vấn đề vẫn là cán bộ.”
Nhưng nếu thay người mà thế chế vẫn tối tăm, lãnh đạo vẫn ù lì bảo thủ,
giáo điều kiên định thứ Chủ nghĩa Mác-Lênin thiên hạ đã vứt vào sọt rác
thì có thay như thay áo cũng chả ăn thua gì.
Xét lại hay dẹp đi?
Vì vậy, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai đã can đảm bảo đảng CSVN, tại Đại hội đảng XII sắp tới (dự trù tháng 01/2016) phải : “Xét
lại toàn bộ từ học thuyết, đường lối, chủ trương và lỗi lầm, hệ thống
tổ chức, sinh hoạt dân chủ trong đảng, phương thức hoạt động… từ trước
cho đến nay. Nói như Mác là phải sám hối vì sám hối thật tâm thì mới có
cơ cứu rỗi.”
Ông nói: “Đại hội này phải là Đại Hội cải tổ Đảng. Về lý thuyết, chủ
nghĩa Mác Lê là sai lầm, nó không nhất quán, giữa Mác và Lê Nin không có
gì giống nhau cả. Lê nin chỉ nhai lại cái bã mà Mác đã nhả bỏ từ lâu.
Những tư duy hợp lý của Mác thì không hề có trong cái gọi là chủ nghĩa
mác lê. Về lý tưởng thì Mác đã từ bỏ nó, coi nó là sai lầm. Mác đề cao
báo chí tự do, lên án chế độ kiểm duyệt, thậm chí coi nó là quái thai,
là thây ma được tẩm nước hoa! Mác chủ trương đa nguyên, đa đảng thì cộng
sản VN ăn phải bả Lê-nin chống lại, thậm chí có hai đảng “đồng cốt” do
Hồ lập ra thì cũng bị xóa sổ.” (đảng Xã hội Việt Nam-Nguyễn Xiển Chủ tịch và đảng Dân chủ Việt Nam-Hoàng Minh Chính)
Đi xa hơn và dứt khoát hơn, từ Đà Lạt Nhà Thơ phản kháng Bùi Minh Quốc đã kêu gọi “Xây dựng lực lượng Công dân đứng lên đập tan mọi xích xiềng”.
Trong Bài Tùy bút phổ biến “nhân ngày 19 Tháng Tám và 02.09.2015”, ông mở đầu bằng câu "Đứng đều lên gông xích ta đập tan!”, lấy từ bài Tiến Quân Ca của Nhạc sỹ Văn Cao, đã được dùng làm Quốc ca của Nhà nước CSVN.
Nhà Thơ viết: “Lời Quốc ca ấy, 70 năm trước, cất lên từ đáy lòng mỗi
người dân Việt, bước vào năm 2015, càng sục sôi hơn bao giờ hết. Lời
Quốc ca ấy, lúc nào cũng đúng, giờ đây với mỗi người dân Việt, lại càng
thấy rất đúng.”
Ông nói: “Dưới ách áp bức của thế lực độc tài toàn trị (Vua tập thể,
như cách gọi rất xác đáng của cựu chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An),
người dân Việt, trước hết là các công dân, không có con đường nào khác
ngoài con đường cùng nhau liên kết lại đứng đều lên đập tan mọi xích
xiềng nô lệ.
Đập tan xiềng xích tư duy giáo điều bảo thủ lạc hậu phản động, thực
hiện đổi mới tư duy triệt để, cả tư duy kinh tế lẫn tư duy chính trị.
Đập tan xiềng xích của mối liên minh ý thức hệ “đồng chí tốt” giữa hai
đảng CS Việt Nam và CS Trung Quốc cầm quyền trên hai đất nước xung đột
về lợi ích quốc gia đã và đang trói buộc Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào
Trung Quốc, tụt hậu với thế giới.”
Tựa như người đi đầu trong đoàn quân xông tới quân thù, ông Bùi Minh Quốc, một cựu Chiến binh trong Quân đội CSVN hô vang: “Đập
tan xiềng xích của những thiết chế sai lầm, “cũ kỹ hư hỏng” (cụm từ
trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh). Cái sai lầm, cái cũ kỹ hư hỏng
bao trùm là chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội. Dân ta từ lâu đã
gọi xã hội chủ nghĩa (XHCN) là “xếp hàng cả ngày”, “xuống hố cả nút”.”
Ông Bùi Minh Quốc giải thích thêm: “Lão tướng lão thành cách mạng
Trần Độ lúc sinh thời gọi định hướng xã hội chủ nghĩa là định hướng vào
chỗ xuýt chết. Cựu phó thủ tướng Trần Phương thẳng thắn vạch rõ: xã hội
chủ nghĩa là thứ chiêu bài lừa bịp. Còn chủ nghĩa Mác-Lênin thì nhân dân
ta chẳng ai hiểu nó là cái gì, ngay cả đảng viên hầu như chẳng mấy
người hiểu, đến các Tổng bí thư cũng chưa hề có vị nào dám tự khẳng định
rằng mình nắm vững chủ nghĩa. Cựu chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An kết
luận: “lỗi hệ thống, sai từ gốc đến ngọn”.
Vợ Nhà Thơ Bùi Minh Quốc, Nhà văn, Nhà báo Dương Thị Xuân Quý đã tử nạn
trong chiến tranh ngày 8 tháng 3 năm 1969 ở Duy Xuyên, Quảng Ngãi khi Bà
mới vừa 28 ruổi.
Khi ông kêu gọi “đập tan xiềng xích” hiện nay ở Việt Nam, thiết nghĩ đó
là mệnh lệnh từ trái tim của cả hai con người trong Nhà Thơ, trong đó có
sự hy sinh, bỏ lại con thơ của vợ ông.
Bà Dương Thị Xuân Qúy đã tình nguyện vào chiến trường miền Nam năm 1968
mà đâu biết mình đã bị đảng lừa đi “giải phóng” như chính bản thân chống
mình trước đó một năm (1967) ?
Như vậy thì Chế độ ở Việt Nam đã hỏng chưa hay Lãnh đạo cứ việc bám theo
hàng xóm Trung Hoa để được bao che, no cơm ấm cật cho đến cuối đời mà
không biết rằng nhân dân đã há miệng chờ sung 70 năm rồi ? -/
Hoàng Thanh Trúc (Danlambao)-“Người biết ít thường nói nhiều, trong khi người biết nhiều thường nói rất ít”
(Jean Jacques Rousseau -Triết gia Pháp) Tất nhiên người biết nhiều
không phải là họ không muốn nói, nhưng vì một trong những đức tính tốt
làm nên vẻ đẹp tâm hồn trong nhân cách con người đó chính là đức tính
khiêm tốn, khiêm nhường… Mà một tâm hồn khiêm tốn trong cái đầu tỉnh táo
và trái tim trung thực lại chính là nhân tố cần phải có của những nhà
lãnh đạo, dẫn đường chân chính tốt nhất. Rất lạ, điều này không hề thấy
trong tư duy của giai tầng độc tài lãnh đạo chế độ CSVN mà ngược lại sự
kiêu căng, tự cao tự đại, ngạo mạn tự cho mình luôn luôn đúng (dù
không đúng chút nào) lại nói rất nhiều và phát huy tối đa.
Điển hình: Trong những ngày này, dù các chế độ CS/Xã Hội Chủ Nghĩa trên
toàn thế giới đã kéo nhau sụp đổ, nhân loại nguyền rủa chôn lấp nhưng
rất nhiều những đường dao “chém gió” của CSVN thi nhau vung lên, đại
loại như…
“Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và Quốc kháng 2/9 là những mốc son
chói lọi, một bước ngoặt vĩ đại của dân tộc tạo nên bộ mặt đất nước có
sự thay đổi toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế
không ngừng được nâng cao tạo ra thế mới và lực mới để đất nước tiếp
tục đi lên với triển vọng tốt đẹp…” (!?) (VOV Oline - 18/8/2015).
“…mốc son chói lọi, bước ngoặt vĩ đại, tạo ra thế mới và lực mới”!? Nghe như nhát dao của cái “dao phay lâu lắm không thấy cục đá mài”.
Bởi trái với những lời hót như vẹt ấy thì chỉ 10 ngày sau, thông tin mới
nhất từ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2015 chính thức được khai mạc sáng
ngày (27/8) ở Phía Bắc Việt Nam (Thanh Hóa) với chủ đề “Kinh tế Việt Nam - Hội nhập và phát triển bền vững”.
Trong bài tham luận tại diễn đàn ông Đậu Anh Tuấn – một lãnh đạo của
“VCCI” (cơ quan Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho biết:
“Doanh nghiệp Việt Nam sau hai thập kỷ hội nhập tính từ thời điểm gia
nhập khối ASEAN đến nay vẫn đang loay hoay, lúng túng chưa tìm ra cách
thức để hội nhập hiệu quả, ông Tuấn lo ngại nêu ra hàng loạt những "điểm
tắt nghẽn" của nền kinh tế như: bội chi ngân sách còn cao, nợ công tăng
nhanh, tổng cầu tăng chậm, nợ xấu còn cao, xử lý chậm, thị trường chứng
khoán phát triển chưa vững chắc, thị trường bất động sản phục hồi chậm,
tỷ trọng xuất nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước trong tổng kim
ngạch xuất khẩu còn thấp... “Tỷ lệ trả nợ trực tiếp từ ngân sách của
Chính phủ hiện đang ở mức 14,2%. Nhưng nếu tính cả phần vay đáo nợ, con
số này hiện đang ở mức 26,2% GDP”. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế
dự kiến của Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực
như Singapore, Thái Lan và ngay cả Myanmar…Tính đến thời điểm hiện nay,
Việt Nam đã có trên 800.000 công ty & doanh nghiệp được thành lập,
nhưng chỉ có khoảng 400.000 doanh nghiệp thực sự hoạt động, tỷ lệ % này
quá thấp so với dân số trên 90 triệu và cũng quá thấp so với các nước,
vùng lãnh thổ và khu vực có cùng điều kiện tương đồng….”(www.dantri.com.vn 27/8/2015)
Hai mươi năm hội nhập ASEAN tóm gọn vào nhận xét nói trên của ông Đậu
Anh Tuấn “VCCI” (cơ quan Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) không chỉ
làm cho người dân ngán ngẩm với lối tuyên truyền rẻ tiền như lừa bịp nói
trên từ VOV mà còn làm người dân không khỏi nhói lòng khi nghĩ tới lời
nhận xét về Việt Nam của người tạo nên “kỳ tích Singapore” ngày nay (Cựu
thủ Tướng Lý Quang Diệu):
Và ngày xưa (1965) ông từng mơ ước:“hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn… (Lý Quang Diệu).
Nhưng thật đáng buồn, cái mơ ước cũng là nỗi ám ảnh làm sao phát triển
Singapore cho bằng Sài Gòn từ ông Lý Quang Diệu cách đây 50 năm thì ngày
nay hoán đổi vị trí ngược lại, nhà nước và đảng CSVN đang mơ ước không
chỉ riêng Sài Gòn (TP/HCM) mà là cả nước Việt Nam đến bao giờ thì bắt
kịp Singapore, khi mà Thu nhập bình quân đầu người của Singapore 68.541
USD/người (năm 2013) trở thành nước có GDP bình quân đầu người cao nhất
trên toàn thế giới, còn GDP bình quân đầu người năm 2014 của người dân
Việt Nam chỉ hơn 2.000 USD… mà qui luật phát triển thì… không ai đứng
lại chờ.
Mức lương bình quân của Việt Nam ở mức 3,8 triệu đồng/tháng (181 USD)
cũng chỉ cao hơn Lào:119 USD, Campuchia :121 USD, và vẫn thấp hơn so
với nhiều nước trong khu vực ASEAN như: Philippines 206 USD, Thái Lan
357 USD, Malaysia 609 USD, Singapore 3.547 USD. (Malte Luebke - Chuyên
gia cao cấp ILO)
Tất nhiên, lệ thuộc nhiều yếu tố khác nhau, không thể so sánh Sài Gòn
hay Việt Nam với Singapore trong quá khứ và ngày nay, nhưng một câu hỏi
mà chúng ta không thể không bận lòng là “nguyên nhân” nào khiến một
hoang đảo nhỏ bé diện tích chỉ bằng 1/3 TP/HCM đã sáp nhập vào Malaysia
nhưng bị “chê” là của nợ chẳng lợi lộc gì lại hao tốn nước ngọt bị trục
xuất vào năm 1965. Để rồi dưới sự lãnh đạo của Thủ Tướng Lý Quang Diệu
CT/đảng PAP (People's Action Party = Hành động Nhân Dân) trở thành quốc
gia “sạch nhất” (cả 2 nghĩa đen & bóng) người dân có thu nhập và đời
sống cao nhất thế giới!? .
DT: khoảng 700km2. (TP/HCM:2.095 km²) Như một ốc đảo, Singapore không
có tài nguyên thiên nhiên, gần như các mặt hàng thiết yếu (ngay cả nước
ngọt) đều phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trong
nước.
Gồm 11 quốc gia nằm trải dài từ phía Đông Ấn Độ đến Trung Quốc, vùng
Đông Nam Á (Asean) nhìn chung là một vùng với sức tăng trưởng kinh tế
năng động nhanh chóng sau thế chiến, tạo nên 4 con rồng châu Á, và sau
này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói
đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là
Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Còn Việt Nam “lẽ ra phải xếp hàng đầu khu vực mới xứng đáng”
(Lý Quang Diệu) thì rón rén lấp ló phía sau không bằng cái đuôi của con
“rồng” Singapore? Nguyên nhân, yếu tố nào làm ra bi kịch khát biệt to
lớn này?
Câu trả lời có thể có nhiều diễn giải khác nhau nhưng gần với thực tế
như nó đã diễn ra mà người ta rút ra được thì căn nguyên hay nguyên nhân
được nhận diện là yếu tố Chính Trị bởi chính trị chi phối tư tưởng con
người mà con người thì hành động phát sinh từ tư tưởng.
Tại Singapore ông Lý Quang Diệu là một trong ba người thành lập Đảng
Hành động Nhân dân Singapore (People Action Party = PAP) đảng chính trị
theo chủ nghĩa dân tộc, cầm quyền hiện nay, ông là một trong những
nguyên thủ Đông Nam Á và Thế giới biết và hiểu rất rỏ về chủ nghĩa Cộng
Sản, rất “dị ứng” với chủ nghĩa này.
Thời điểm 1965 tại Việt Nam, Hồ Chí Minh đang áp đặt siết chặt bức màn
sắt chủ nghĩa Cộng Sản lên toàn miền Bắc VN thì ở Singapore ông Lý Quang
Diệu là thủ tướng đầu tiên của quốc gia này với quyết tâm ngăn chận mầm
mống Cộng Sản phát sinh trong xã hội Singapore, tâm niệm của ông là
muốn đưa Singapore trở thành một quốc gia cường thịnh, trước hết phải
xóa bỏ mọi tàng tích Cộng Sản, ngăn chận mọi mầm mống phát sinh của ý
thức hệ CNXH/CS tại Singapore. Tất cả chính sách đối nội của ông Lý
Quang Diệu đều kiên định tập trung vào mục đích đó không lay chuyển mặc
cho báo chí thiên tả trong vùng khoát lên mình ông cái áo “độc tài”,
thậm chí ông không phủ nhận điều này “nhưng là độc tài vì sự thịnh vượng của Singaopre chứ không độc tài cho sự lớn mạnh của chủ nghĩa Cộng Sản” – ông khẳng định. Và ông có lý, thành công ngoài mong đợi.
Ngày nay nhận xét về thành tựu của Singapore tác giả Reihan Salam, Chủ
bút điều hành của National Review Institute kết luận rằng: “Còn lớn
hơn cả Thành Tựu Kinh Tế, thành công chận đứng chủ nghĩa cộng sản tại
Singapore mới đích thực là “kỳ tích” chói lọi của Lý Quang Diệu” (Lee Kuan Yew’s Greatest Accomplishment May Not Have Been Singapore’s Economic Success) đăng trên National Review 23/3/2015.
Quả là chính xác không thể phủ nhận, nếu không may, Lý Quang Diệu giống
Hồ Chí Minh thứ 2 và Singapore nằm dưới chế độ độc tài cộng sản như miền
Bắc Việt Nam cùng thời điểm thì không và sẽ không bao giờ có một kỳ
tích kinh tế tài chính và đa nguyên dân chủ hoàn hảo như Singapore hiện
tại.
Tiếp bước, kể thừa truyền thống từ người cha mẫu mực, “tượng đài” quốc
gia, một vĩ nhân thế giới Lý Quang Diệu, con trai ông đương nhiệm thủ
tướng Lý Hiển Long trước cuộc bầu cử Quốc Hội sớm hơn lệ thường năm nay
2015 cùng với 10 chính đảng hiện đang hoạt động trên chính trường
Singapore, trong đó nổi trội là đảng Hành động Nhân dân (People's Action
Party) và Đảng Công nhân (WP) đối lập, Thủ tướng Lý Hiển Long gửi thông
điệp tới người dân rằng, không chỉ ông là Thủ Tướng mà:
“Bạn sẽ được quyết định ai sẽ lãnh đạo Singapore cho 5 năm tới”
Đảng Công nhân Đối Lập Singapore ra mắt các ứng viên trước thềm cuộc tổng tuyển cử, như là việc đương nhiên của xã hội Singapore.
Rất quang minh chính trực – Quốc gia không của riêng ai, mọi người dân
mọi đảng phái đều có đầy đủ cơ hội thực hiện quyền tham chính công bằng
như nhau, do chính người dân trực tiếp lựa chọn, không thể có cái chiêu
bài “Đảng cử dân bầu và Quán triệt trúng cử” dân chủ trá hình hoang dã
như bầu cử tại Việt Nam dưới chế độ độc tài Cộng Sản….
Bầu cử “dân chủ hoang dã trá hình”
Việt Nam, Đảng CS quyết định ai sẽ lãnh đạo Quốc Gia
Đây là sự khác biệt đã làm nên “con rồng” Singapore so với Việt Nam
trong thân phận trâu chậm uống nước đục vì phải kéo cái cày độc tài
XHCN/CS.
Lòng tự trọng là tự biết giá trị của chính mình, để: “Nói là bạc, im lặng là vàng, lắng nghe là kim cương”
người khôn nghe nhiều hơn nói… Bởi lắng nghe sẽ biết được thêm nhiều
điều hay cũng như dở… hơn là nói nhiều, nói bậy, nói càng, nói lấy được
như cách nói của hệ thống tuyên truyền của một chế độ độc tài lạc hậu
(như viện dẫn trên).
Cao-Đắc Tuấn (Danlambao) - Tóm
lược: Nguyễn Viết Dũng, một thanh niên sinh sống tại Việt Nam,
viết bài thơ "Kiếp Lưu Vong," mô tả nỗi đau xót của tuổi trẻ
trong cuộc sống đọa đầy dưới sự cai trị cộng sản. Bài thơ
biểu lộ nỗi niềm đau thương của một thanh niên sống trên quê cha
đất mẹ nhưng tưởng như đang sống kiếp lưu vong nơi xứ lạ quê
người, vì đất nước anh đang bị cai trị bởi cộng sản. Bài thơ
gửi các câu hỏi đến toàn thể dân Việt Nam là lời kêu gọi nhắc
nhở toàn dân đến lịch sử oai hùng và niềm thiết tha giành
lại tự do đã bị cộng sản cướp đi. "Kiếp Lưu Vong" là một bài
thơ chính trị tuyệt diệu, dùng thể loại thơ bốn câu vần liên
kết, thích hợp cho mục tiêu kêu gọi đấu tranh. Những ẩn dụ độc
đáo diễn tả ý tưởng chống đối và kêu gọi một cách tinh tế.
Qua các câu hỏi tu từ, bài thơ có tác dụng thuyết phục rất
hiệu quả trên giới trẻ tại Việt Nam hiện nay, và do đó cần
được truyền bá rộng rãi.
*
Vào ngày 30 tháng 4 năm 2014, một lá cờ vàng ba sọc đỏ, quốc
kỳ nước Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), bay phất phới trên nóc nhà
một căn nhà tại Nghệ An. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, lá
cờ chính nghĩa của VNCH tung bay công khai trên đất nước Việt
Nam sau ngày cộng sản xâm lăng và chiếm đóng quốc gia VNCH vào
ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sự kiện lá cờ VNCH bay trên nước Việt
Nam vào ngày quốc hận 30 tháng 4 cho thấy dân tộc VNCH vẫn còn
sống hùng mạnh và nước VNCH chỉ đang bị chiếm đóng bởi nhóm
cộng sản (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2015a). Lá cờ VNCH đó do
Nguyễn Viết Dũng, biệt danh "Dũng Phi Hổ," một thanh niên 28
tuổi lúc bấy giờ, tự làm và treo trên nóc nhà anh.
Tuy sinh trưởng dưới chế độ cộng sản và hấp thụ lối giáo dục
tẩy não và nhồi sọ của cộng sản, Nguyễn Viết Dũng không trở
thành nạn nhân của chính sách cộng sản đầu độc tư tưởng đã
hãm hại hàng triệu thanh thiếu niên ưu tú Việt. Dũng tự nghiên
cứu và tìm tòi về đảng cộng sản Việt Nam, chiến tranh Việt
Nam, và chính thể VNCH. Sau nhiều năm tìm tòi và học hỏi, Dũng
phát huy nhiều ý tưởng về cuộc đấu tranh cho tự do.
Một trong những ý tưởng của Dũng trong cuộc đấu tranh cho tự do
được ghi nhận trong bài thơ "Kiếp Lưu Vong" do Dũng viết. Bài
thơ "Kiếp Lưu Vong" nói lên tâm trạng bi thương của Dũng trước
cảnh đất nước Việt Nam bị cộng sản cai trị và niềm mong ước
toàn dân Việt Nam sẽ đứng lên giành lại tự do và phục hồi lại
chính nghĩa quốc gia. Bài thơ "Kiếp Lưu Vong" được nhạc sĩ Dzuy
Lynh phổ nhạc với cùng nhan đề. Bài thơ được chính Nguyễn
Viết Dũng đọc và bài hát được nhạc sĩ Dzuy Lynh hát trong một
video clip đăng trên You Tube (Xem, thí dụ như MrBinhBet 2015).
Trong bài này, tôi sẽ chỉ thảo luận về bài thơ "Kiếp Lưu Vong,"
và sẽ không thảo luận đến ca khúc cùng nhan đề do nhạc sĩ
Dzuy Lynh viết. Lý do là tôi muốn chú trọng vào ý nghĩa của
bài thơ và tác giả Nguyễn Viết Dũng. Ca khúc do nhạc sĩ Dzuy
Lynh viết là bài hát rất hay và gây cảm xúc mạnh. Độc giả
hãy lắng nghe và thưởng thức bài thơ và ca khúc tại đoạn video
trên YouTube (MrBinhBet 2015).
Tiểu sử của Nguyễn Viết Dũng như sau (Mộc 2015):
Nguyễn Viết Dũng sinh ngày 19 tháng 6 năm 1986, là con trai duy nhất
trong gia đình có 4 anh em, tại tỉnh Nghệ An. Nên ghi nhận ngày sinh
19 tháng 6 của Nguyễn Viết Dũng cũng là ngày Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa (QLVNCH). Dũng sinh ra và lớn lên trong gia đình mà cha mẹ
đều là nông dân, sinh sống bằng nghề cấy lúa. Ngay từ nhỏ Dũng đã học
giỏi toàn diện, đặc biệt rất giỏi về môn khoa học tự nhiên.
Với thành tích học tập xuất sắc, năm học lớp 12 (2004) Dũng được chọn
tham dự cuộc thi "Đường lên đỉnh Olympia," một cuộc thi kiến thức trên
truyền hình dành cho học sinh trung học phổ thông do VTV3 – Đài Truyền
hình Việt Nam tổ chức (Wikipedia 2015e). Kết cuộc Dũng lọt đến kỳ thi
Quý và đoạt giải ba. Trong kỳ thi đại học năm 2004, Dũng đậu Đại Học
Bách Khoa Hà Nội với số điểm 29/30, đứng đầu tỉnh Nghệ An lúc đó. Sau
một thời gian theo học đại học, Dũng tìm hiểu về lịch sử
Việt Nam và những sự thật về đảng cộng sản Việt Nam, cũng như
về cuộc chiến tranh Việt Nam, và chính thể VNCH của miền Nam
Việt Nam. Sau đó, Dũng dấn thân vào con đường đấu tranh cho tự do và
chính nghĩa quốc gia.
Ngày 30 tháng 4, 2014 lá cờ VNCH (cờ vàng ba sọc đỏ) lần đầu tiên được
treo trên nóc nhà Dũng tại Nghệ An. Ngay sau đó Dũng bị 5 công an đến
bắt về đồn. Từ lúc đó trở đi Dũng và gia đình thường xuyên bị sách
nhiễu, nhưng Dũng vẫn kiên trì với lý tưởng của mình.
Ngày 12 tháng 4, 2015, Nguyễn Viết Dũng cùng 4 bạn trẻ tham gia tuần
hành bảo vệ cây xanh cùng người dân Hà Nội. Đến 11 giờ cùng ngày, khi
buổi tuần hành kết thúc, nhóm của Dũng tách đoàn đi về thì bất ngờ bị
công an quận Hoàn Kiếm bắt giữ khẩn cấp với lý do vi phạm vào Điều 245
Luật Hình Sự (CTV 2015a; CTV 2015b; CTV 2015c). Căn cứ vào các quy
định pháp luật của nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại, Nguyễn Viết Dũng đã
làm những việc mà pháp luật không cấm. Nhưng hiện nay Dũng lại bị bắt
giam và có thể bị nhà cầm quyền Việt Nam gán cho một tội danh để khởi
tố. Trong lúc bị giam giữ, "do bày tỏ thái độ bất hợp tác nên Nguyễn
Viết Dũng đã bị CA đánh đập nhiều chỗ trên người, trong đó đau nhất ở
phần xương sườn" (CTV 2015d). Ngay sau khi Nguyễn Viết Dũng bị giam
giữ, có nhiều tổ chức dân sự lên tiếng đòi hỏi nhà cầm quyền
thả tự do và phản đối việc bắt giữ tùy tiện của công an (Xem, thí
dụ như, Bloc 2015; MLBVN 2015). Cho đến nay (tháng 8 năm 2015)
Nguyễn Viết Dũng vẫn còn bị giam giữ một cách bất hợp pháp
và gia đình vẫn chưa được gặp Dũng (Minh 2015).
Hình 1 là bức tranh chân dung Nguyễn Viết Dũng, cờ vàng trên
đất nước Việt Nam, và con hổ tượng trưng biệt danh "Dũng Phi
Hổ" của anh. Bức tranh do họa sĩ Trần Thúc Lân thực hiện dành
cho tổ chức Quỹ Tù Nhân Lương Tâm, một tổ chức cung cấp ủng hộ
tinh thần và vật chất cho các tù nhân lương tâm tại Việt Nam
(Website: http://www.tnlt.net/).
Hình 1: Nguyễn Viết Dũng, cờ vàng, và con hổ tượng trưng biệt danh "Dũng Phi Hổ"
Nguyên văn lời bài thơ "Kiếp Lưu Vong" như sau (MrBinhBet 2015):
Em hỏi tôi: Sao thoát kiếp lưu vong?
Tôi cười buồn, tôi đâu hơn gì thế
Đôi mắt nàng buồn ướt hai dòng lệ
"Đến bao giờ dân tộc được tự do"?
Đến bao giờ dân tộc được tự do?
Khi cộng sản vẫn còn cai trị?
Tiếng gọi công dân rơi vào cơn mộng mị
của vòng quay cơm-áo-gạo-tiền
Em nhìn tôi xem: khác gì kẻ điên?
Sống kiếp lưu vong ngay trên đất mẹ
Dòng đời vẫn trôi: Tôi cúi đầu bàng bẽ
Dân khí cạn rồi?
Còn nhớ chăng tiếng trống Mê Linh?
Và xương máu tiền nhân khai hoang mở nước?
Lẽ nào ta mãi sống đời bạc nhược?
Để cộng nô kia mãi mãi đọa đày?
Đến bao giờ Hoàng Kỳ tung bay?
Thoát kiếp lưu vong, tự do mang về tới?
Câu hỏi này sao tôi đáp nổi?
Đồng bào ơi: Cùng đáp thay tôi.
Trong bài này, tôi dùng "khán giả" để chỉ người nghe, người
đọc, hoặc người xem. Khi thảo luận các vấn đề ngữ học, tôi
dùng "chữ" để chỉ cả mẫu tự (alphabet) và từ (word). Lý do là
"từ" thường dễ bị lầm lẫn là "từ khi" hoặc "từ chỗ." Ý
nghĩa của "chữ" thường rõ trong nội dung (Cao-Đắc 2014, 451).
Trước khi nói về bài thơ "Kiếp Lưu Vong," tôi muốn nhân dịp này
thảo luận tổng quát về thơ (poetry) hoặc thi ca để đặt nền
tảng giúp cho việc phân tích bài thơ "Kiếp Lưu Vong."
A. Mục đích
tối thượng của thơ, như mọi tác phẩm nghệ thuật khác, là đem
con người lại gần nhau; do đó, không có gì lạ khi thơ được dùng
trong việc chống đối những lực cản trở việc này.
Thơ là gì? Làm thơ hay đọc thơ có lợi ích gì? Đó là những câu
hỏi căn bản về thơ. Tôi sẽ không thảo luận vào chi tiết những
khía cạnh kỹ thuật về thơ hay thi ca, như âm, vần, nhịp điệu,
và các quy luật cho các thể thơ. Độc giả có thể tìm hiểu thêm
trong các tài liệu khác. Xem, thí dụ như, Wikipedia 2015a;
Wikipedia 2105b.
1. Định nghĩa và tác dụng của thơ:
Thơ có nhiều định nghĩa. Theo một định nghĩa thông thường nhất,
"[t]hơ là một dạng văn chương dùng các phẩm chất thẩm mỹ và
nhịp điệu của ngôn ngữ để đem lại những ý nghĩa thêm vào,
hoặc thay cho, ý nghĩa nôm na bề ngoài" (Wikipedia 2015a).
Aristotle (384 TCN - 322 TCN) (TCN = trước công nguyên), triết gia và
khoa học gia Hy Lạp nổi tiếng, coi thơ "bắt chước" cuộc sống
vì "thơ mời mọc ta tưởng tượng đề tài là thực trong khi tự
nhận đó là hư cấu" (SparkNotes 2005). "Bắt chước" nghe có vẻ
không tốt, nhưng tôi nghĩ Aristotle, nếu sinh vào thời đại này,
sẽ dùng chữ " diễn tả" vì thực ra "diễn tả" một việc giống
như là "bắt chước" việc đó.
Như các thể loại nghệ thuật khác, mục đích của thơ là diễn
tả những gì xảy ra trong cuộc đời như cảnh vật, tâm trạng,
hoàn cảnh, ý tưởng, câu chuyện, xã hội, hoặc con người. Do đó,
cách diễn tả là điểm quan trọng trong thơ. "Đề tài không quan
trọng; chiều sâu của tưởng tượng, và cách đặt tưởng tượng đó
vào ngôn ngữ mới quan trọng" (Addonizio và Laux 1997, 66). Một
trong những điểm quan trọng của cách diễn tả tư tưởng là mức
độ gợi ý hoặc kích động suy nghĩ của người đọc. Để đạt mục
tiêu này, người viết, hoặc làm, thơ, thường được gọi là thi
sĩ, phải biết cách khai thác ý tưởng và những khái niệm căn
bản của con người như vẻ đẹp, đạo đức, và niềm tin. "Không ai
có thể xưng là thi sĩ nếu người đó không truy vấn ý tưởng,
luân lý, và niềm tin của mình" (sđd., 23). Điề̉u đó không
có nghĩa là người làm thơ phải cố gắng diễn tả những ý
tưởng cao siêu, trừu tượng, hoặc lý thuyết. Cái truy vấn ý
tưởng nhiều khi chỉ đơn giản là ghi nhận tình cảm, nhất thời
hay lâu dài, về một kinh nghiệm sống nào đó. "Thơ mang ra cái
gì bên trong bạn - cho dù đó là một hồi tưởng, một ý tưởng
triết lý, một mối tình sâu đậm với một người khác hoặc thế
giới, hoặc sự sợ hãi thần thánh ma quỷ" (sđd., 22).
Trong bài này, tôi không thể thảo luận đầy đủ các kỹ thuật
làm thơ và các lý thuyết về viết thơ và đọc thơ, thưởng thức
thơ. Độc giả có thể tham khảo các tài liệu khác qua sách vở
hoặc trên mạng.
Làm thơ hay đọc thơ có lợi ích gì?
Đã có nhiều tài liệu nói đến sự ích lợi của làm thơ hoặc
đọc thơ. Các ích lợi tổng quát gồm có: thơ giúp ta đối phó
và đơn giản hóa sự phức tạp; thơ giúp ta phát huy cảm tưởng
sắc bén cho đồng cảm (empathy); đọc và viết thơ giúp ta phát
triển sức sáng tạo; thơ dạy ta truyền cuộc sống với sự đẹp
đẽ và ý nghĩa (Coleman 2012). Các ích lợi tổng quát này áp
dụng cho cả hai hoạt động viết thơ hay "làm" thơ, và đọc thơ.
Ngoài các ích lợi chung đó, mỗi hoạt động đểu có những ích
lợi riêng của nó. Thông thường, người viết thơ cũng đọc thơ,
nhưng người đọc thơ không nhất thiết là biết viết thơ.
Ích lợi của viết thơ khá nhiều, nhất là với giới trẻ. Tôi có
thể liệt kê một số: giúp phát huy tinh thần cởi mở, chân
thành, tinh tế, sâu sắc, nhạy cảm; củng cố niểm tự tin và sức
mạnh bản ngã; phát triển nhận diện và thông cảm; giúp củng
cố khả năng nói chuyện, biểu lộ ý tưởng, và tạo các mối liên
hệ bền vững; giúp phát triển tài dùng ngôn ngữ, cách dùng
chữ; hiểu biết thêm về các khía cạnh rộng lớn hơn và quý
trọng cuộc sống hơn (Pongo).
Ích lợi của đọc thơ gồm có: cải tiến tài ăn nói và trí nhớ;
cải tiến đường lối suy nghĩ phán đoán (critical thinking); phát
huy đồng cảm và sáng suốt; khuyến khích tham gia vào các dạng
nghệ thuật khác (Matus).
Những ích lợi trên tùy vào từng cá nhân, và không phải ai cũng
có được ích lợi giống nhau. Tuy có nhiều ích lợi khác nhau,
theo tôi, có một điểm ích lợi có lẽ tối thượng cho cả viết
thơ và đọc thơ. Ích lợi này có chung cho cả hầu hết các lãnh
vực nghệ thuật khác như văn xuôi, âm nhạc, hội họa, điêu khắc,
v.v. Đó là phát huy niềm thông cảm và hiểu nhau. Thơ đòi hỏi
sự diễn tả và sự hiểu cái diễn tả đó. Vì vậy, thơ có tác
dụng giúp con người hiểu nhau hơn và mang con người gần nhau hơn.
Hiểu nhau hơn không có nghĩa là thích hoặc đồng ý lẫn nhau,
nhưng ít nhất có sự hiểu biết về quan điểm và tâm trạng của
người khác. Nhờ vậy, sẽ có những cách đối xử hoặc biện pháp
đối phó có tính cách nhân bản và/hoặc dè dặt trong những mâu
thuẫn hoặc xung đột.
2. Thơ chính trị:
Thơ là một phần của thi ca, và như âm nhạc, nội dung thơ có
nhiều thể loại: tình yêu, cảnh vật, cuộc sống, con người, xã
hội, quê hương, chính trị, v.v. Trong chính trị, thơ có thể có
hai loại: chống đối và kêu gọi. Sự phân loại thường không rõ
rệt vì hai loại có thể được ghép chung vào một.
Như các hình thức chống đối bằng nghệ thuật, thơ là một khí
cụ thường được dùng để bày tỏ ý tưởng chống đối. Thơ chống
đối thường tấn công một hay nhiều vấn đề nào đó trong xã hội
và nhắm vào chính quyền. Các vấn đề này có thể là bất kỳ
vấn đề gì ảnh hưởng đến cuộc sống của dân, từ văn hóa cho
đến kinh tế, cơ cấu chính quyền, và ngoại giao. Thơ kêu gọi
thường kêu gọi, hô hào, kích động khán giả tham gia vào một
hoạt động nào đó để đạt một mục tiêu chính trị. "Sức mạnh
của thơ dùng là khí cụ chống đối là một bài thơ xuất sắc lôi
kéo chúng ta, máu và xương, con tim và trí tuệ, trong việc cung
cấp hoặc kích động sự chống đối" (Kenseth 1968, xvi). Hoạt
động đó có thể là sự bày tỏ phản ứng hoặc thái độ của dân
về một sự chống đối đặc biệt, thí dụ hô hào dân biểu tình
chống lại phí phạm ngân sách trong việc xây tượng đài Hồ Chí
Minh. Thông thường, thơ kêu gọi gồm có sự chống đối, nhưng thơ
chống đối không nhất thiết gồm có, hoặc dẫn đến, lời kêu gọi.
Một trong những bài thơ chống đối nổi tiếng nhất là bài "The
Masque of Anarchy" (Mặt Nạ của Phi Pháp) của Percy Bysshe Shelley
(1792-1822), thi sĩ và văn sĩ Anh. Shelley víết bài "The Masque of
Anarchy" cho vụ thảm sát tại Manchester, còn được gọi là thảm
sát Peterloo, vào năm 1819. Bài thơ được coi có ảnh hưởng trên
Leo Tolstoy và Mahatma Gandhi và các cuộc đấu tranh bất bạo động
(Wikipedia 2015c). Bài thơ gồm có 91 đoạn. Mỗi đoạn có bốn câu.
Đoạn 8 và 9 của bài thơ như sau:
VIII.
Last came Anarchy: he rode
On a white horse, splashed with blood;
He was pale even to the lips,
Like Death in the Apocalypse.
IX.
And he wore a kingly crown;
And in his grasp a sceptre shone;
On his brow this mark I saw—
"I am God, and King, and Law!"
(Rồi tên Phi Pháp đến sau
Cưỡi con ngựa trắng vấy màu máu tươi
Làn da tái nhợt cả môi
Trông như thần chết trong thời đổi thay
Trên đầu vương miện trưng bày
Sáng ngời quyền trượng trong tay kẻ tà
Dấu hằn trên trán ghi ra
"Trời, Vua, Luật Lệ, chính là tao đây!")
Một cách tiên tri, trong bài thơ "The Masque of Anarchy," Shelley mô
tả tình trạng xã hội hỗn loạn, phi pháp, không có chính
quyền, y như tình trạng tại Việt Nam hiện nay, khi nhóm cầm
quyền coi họ như Trời, Vua, và Luật Lệ.
Tuy mục đích gần của thơ chống đối là chống chính quyền, mục
đích xa và quan trọng hơn là cải thiện xã hội, cuộc sống dân,
và đôi khi cứu nguy cho đất nước. Do đó, thông thường thơ chống
đối có mục tiêu cứu dân độ thế, và nhắc đến lịch sử quốc
gia. Khái niệm này được nhấn mạnh bởi Czesław Miłosz (1911 -
2004), người đoạt giải Nobel về văn chương năm 1980. Miłosz viết
bài thơ "Dedication" (Lời đề tặng) vào năm 1945. Trong bài
thơ "Dedication," Milosz nói với một thi sĩ trẻ, chết trong lúc
Đức quốc xã chiếm đóng Warsaw (Nair 2011). Một đoạn trong bài
như sau:
What is poetry which does not save
Nations or people?
A connivance with official lies,
A song of drunkards whose throats will be cut in a moment,
Readings for sophomore girls.
(Thơ là gì nếu không cứu
Quốc gia và dân chúng?
Là đồng lõa với dối trá chính quyền,
Là bài hát cho những kẻ ghiền rượu bị cắt cổ trong giây lát,
Là bài đọc cho các cô học trò lớp mười.)
Đối với Milosz, một bài thơ mà không nhắm vào việc cứu giúp
dân chúng hoặc tổ quốc thì chỉ là bài đọc vô ích. Với ông,
lịch sử rất quan trọng trong thơ. "Milosz đem lịch sử vào thơ ông
vì ông cảm thấy lịch sử dẫn dắt chúng ta, dù chúng ta không
thể khám phá tại sao và làm sao" (Lazer 2003). Việc tiếp xúc
với lịch sử cũng phải được bao gồm trong thơ vì ta không thể
tách rời học sử và học ngôn ngữ (sđd.). "Milosz coi trách
nhiệm viết của ông là nhớ những người đã chết trong cuộc nổi
dậy và trại tập trung và những người vẫn còn chịu đau khổ
trong lao tù" (Heaney 2011). Theo Milosz, có một mức độ ý thức
dùng để đánh giá thơ và thơ ở dưới mức độ ý thức đó là thơ
dở và thơ đó không cứu được ai hết (Addonizio và Laux 1997, 66).
Do đó, chính khía cạnh ý thức quyết định tính chất của thơ,
cho dù thơ không nói trực tiếp đến các đề tài chính trị hoặc
lịch sử (sđd.).
Thơ chống đối không nhất thiết trực tiếp phản đối chính quyền.
Nhiều khi, thơ chống đối chỉ cần trình bày các khía cạnh tệ
mạt của xã hội. Vạch ra những tệ trạng xã hội hoặc những
hình ảnh gợi ra sự độc tài, tàn bạo, thối nát, tham nhũng
của chính quyền cũng là một cách chống đối. Sau đây là vài
thí dụ về các bài thơ Việt Nam có tính chất chống đối.
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ
(Trần Dần - Nhất định thắng)
"Không có gì quý hơn độc lập tự do"
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
(Nguyễn Chí Thiện - "Không có gì quý hơn độc lập tự do")
Thơ chống đối có thể có hay không có hàm ý kêu gọi người dân
đòi hỏi chính quyền thỏa mãn sự chống đối. Khi lời kêu gọi
không rõ rệt, người đọc có thể không hiểu ý định của tác
giả.
Tuy thơ chính trị phản ảnh sự khác biệt ý tưởng giữa dân và
chính quyền, và thường biểu lộ sự bất mãn của người dân đối
với các hiện trạng xã hội hoặc các hành động chính quyền,
mục tiêu tối thượng của thơ chính trị, như mọi loại thơ khác,
là tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau và mang con người lại gần nhau
hơn. Khi có những bất công trong xã hội, hoặc khi chính quyền
bất chấp nguyện vọng của người dân, hoặc có những hành động
đi ngược lại quyền lợi quốc gia tổ quốc, con người bị tách xa
nhau và tạo nên căng thẳng, mâu thuẫn, và có thể dẫn đến xung
đột bạo lực. Do đó, thơ chính trị có mục đích xóa bỏ những
cản trở này để đem lại ổn định và trật tự cho xã hội và
quốc gia. Ngoài ra, trong một nước dưới chế độ độc tài, điển
hình là nước Việt Nam cộng sản hiện nay, chế độ cộng sản là
một cản trở cho sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau. Thơ chính
trị (chống đối và/ hoặc kêu gọi), do đó, nhắm vào đánh đổ sự
cản trở này để đem con người lại gần nhau hơn.
Một khía cạnh quan trọng về thơ chống đối và/ hoặc kêu gọi,
nhất là trong thơ Việt Nam, là thể loại của bài thơ. Với một
bài thơ chống đối thuần túy và không có mục đích kêu gọi hay
hô hào, loại thơ nào cũng thích hợp. Đó là vì trong trường
hợp này, khía cạnh chống đối coi như là diễn tả ý tưởng về
một tình trạng xã hội và do đó thể loại thơ nào cũng có thể
được dùng tùy vào ý thích của tác giả. Khi bài thơ vửa
chống đối vừa kêu gọi, thể loại thơ đóng vai trò quan trọng vì
mỗi thể loại có tác dụng kêu gọi khác nhau.
Để có thể tạo tác dụng mạnh trong việc kêu gọi dân chúng, lời
kêu gọi nên có những khía cạnh thích hợp. Ta nên nhớ một bài
thơ không phải là một bài diễn văn, và khán giả thường không
có nhiều thì giờ để nghiền ngẫm về ý nghĩa của câu thơ. Lời
kêu gọi cũng đánh vào tâm hồn khán giả, vì yếu tố tình cảm
khá quan trọng trong việc kích động ý chí con người. Ngoài ra,
thơ kêu gọi nên dễ đọc và dễ nhớ để có thể được truyền bá
rộng rãi trong dân chúng. Vì những lý do này, thể loại thơ
thích hợp cho kêu gọi là thơ có vần, vì vần điệu giúp lời thơ
trôi chảy, dễ đọc và dễ nhớ. Trong các thể loại thơ có vần
Việt Nam, có lẽ thể bốn câu liên kết hoặc song thất lục bát
là thích hợp nhất cho thơ kêu gọi, vì vần điệu chặt chẽ, có
cả vần bằng và vần trắc, và câu thơ có móc nối, giúp ý
tưởng mạch lạc.
Những khái niệm căn bản về thơ, và tính chất và mục đích của
thơ chính trị giúp ta hiểu rõ hơn về bài thơ "Kiếp Lưu Vong."
B. "Kiếp Lưu
Vong" là tiếng khóc bi hùng của một thanh niên yêu nước kêu gọi
toàn dân Việt Nam lấy lại khí phách oai hùng của dân tộc Việt
để giành lại tự do.
"Kiếp Lưu Vong" là một bài thơ chính trị, bao gồm cả chống đối
và kêu gọi. Tuy nhiên, ý nghĩa chống đối và/ hoặc kêu gọi
được diễn tả kín đáo và tinh tế.
Tác giả viết bài thơ dùng ngôi thứ nhất ("tôi"). Trong một bài
thơ, bài hát, hay một truyện, chữ "tôi" không nhất thiết là
chính tác giả, mà có thể là vai chính trong câu chuyện, một
thanh niên trẻ. Tuy nhiên, qua những gì ta biết về Nguyễn Viết
Dũng, ta hiểu bài thơ này là lời của chính Nguyễn Viết Dũng.
Do đó, tác giả, Nguyễn Viết Dũng, đang thổ lộ chính tâm trạng
của anh qua bài thơ.
Tác giả mở đầu bằng câu hỏi do một người con gái đặt ra làm
sao thoát được kiếp lưu vong. Anh không trả lời được câu hỏi mà
chỉ cười buồn. Cô gái rơi nước mắt và hỏi khi nào dân tộc mới
có được tự do ("Em hỏi tôi: Sao thoát kiếp lưu vong?/ Tôi
cười buồn, tôi đâu hơn gì thế/ Đôi mắt nàng buồn ướt hai dòng
lệ/ 'Đến bao giờ dân tộc được tự do?'"). Trong thơ, "lấy
được chú ý của người đọc trong vài hàng đầu quả là một thử
thách" (Goodman 2011, 63). Nhưng ở đây, tác giả vô ngay vào ý
chính và khiến người đọc tò mò, muốn đọc thêm ngay.
Ta không rõ mối liên hệ giữa cô gái và tác giả, nhưng chuyện
đó không cần thiết. Cô ta có thể là người yêu, bạn học, em
gái, hoặc bất cứ một cô gái nào có cùng nỗi ưu tư về đất
nước và dân tộc như tác giả. Một cách tinh tế, tác gỉả dường
như dùng cô gái là biểu tượng cho người mà tác giả muốn nói
với. Do đó, ta có thể hiểu Nguyễn Viết Dũng đang muốn gói
ghém tâm sự anh là những lời tâm huyết gửi đến những người
trẻ như anh.
Tác giả dùng hai câu hỏi để giới thiệu bài thơ. Câu hỏi không
định nghĩa "kiếp lưu vong" hoặc "tự do" mà được đặt dưới dạng
như thể vấn đề không còn là nghi vấn. Câu hỏi là làm sao thoát
khỏi kiếp lưu vong và khi nào thì có được tự do.
Tác giả lập lại câu hỏi khi nào dân tộc được tự do, khi mà
cộng sản vẫn còn cai trị đất nước. Lởi kêu gọi toàn dân chỉ
rơi vào quên lãng trong cuộc sống bận rộn, lo lắng sinh sống
trong việc kiếm ăn, lo nhà cửa, và tiền bạc ("Đến bao giờ
dân tộc được tự do?/ Khi cộng sản vẫn còn cai trị?/ Tiếng gọi
công dân rơi vào cơn mộng mị/ của vòng quay cơm-áo-gạo-tiền").
Bằng cách dùng từ ngữ "cai trị," Nguyễn Viết Dũng khẳng định
thực chất của cái gọi là "chính phủ" hoặc đảng cộng sản
Việt Nam: đó là một nhóm nắm quyền do bạo lực và không phải
do dân chúng ủy thác sứ mạng lo việc nước.
Tác giả dùng "tiếng gọi công dân" với hàm ý lời kêu gọi toàn dân đứng lên. "Tiếng gọi công dân"
không phải chỉ là nhóm chữ về lời kêu gọi đến công dân. Một
cách có ý nghĩa, nó là nhan đề bài quốc ca VNCH trong miền Nam
trước ngày cộng sản hoàn thành việc xâm lăng và cướp đất
nước VNCH năm 1975 (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2015b). Nguyễn Viết
Dũng dường như đã tìm hiểu nhiều về lịch sử Việt Nam và VNCH.
Việc anh quen thuộc với bài quốc ca VNCH không có gì lạ. Anh
đã từng hát bài quốc ca này (Xem, thí dụ như, Kỳ 2014) và treo
cờ VNCH trên mái nhà anh tại Nghệ An. Do đó, "tiếng gọi công dân"
ở đây không phải chỉ là một nhóm chữ tình cờ đặt ra, mà hầu
như chắc chắn là tác giả muốn gói ghém các ý tưởng của bài
quốc ca VNCH trong câu thơ này.
Nhóm chữ "rơi vào cơn mộng mị của vòng quay cơm-áo-gạo-tiền"
ngụ ý lời kêu gọi toàn dân không có hiệu lực và thường bị
bỏ qua hoặc quên đi do cuộc sống kiếm ăn và lo áo mặc và nhà
ở. Chữ "vòng quay" cho thấy những bận rộn này như thể không có
chấm dứt và người dân cứ bị quay cuồng trong cuộc sống nên
trở nên trơ trơ trước tiếng kêu gọi.
Anh hỏi cô gái nhìn anh có khác gì kẻ điên, sống kiếp lưu vong
ngay trên quê cha đất mẹ. Cuộc đời vẫn trôi đi và anh vẫn cúi
đầu bẽ bàng cho thân phận, tự hỏi phải chăng khí phách dân đã
tiêu tan ("Em nhìn tôi xem: khác gì kẻ điên?/ Sống kiếp lưu
vong ngay trên đất mẹ/ Dòng đời vẫn trôi: Tôi cúi đầu bàng bẽ/
Dân khí cạn rồi?"). Tới đây khán giả mới chợt hiểu ý
nghĩa của "kiếp lưu vong" ở câu đầu, và tại sao anh muốn thoát
kiếp lưu vong. Không, anh không phải là một người tha hương, lưu
vong nơi xứ lạ quê người. Anh sống kiếp lưu vong ngay trên xứ sở
của anh, nơi quê cha đất mẹ, nơi anh sinh trưởng. Thật là một
hình ảnh bi thương khi một người không có cảm tưởng thuộc về
quê hương mình khi anh đang sống trên quê hương. Chỉ với câu "Sống kiếp lưu vong ngay trên đất mẹ,"
Nguyễn Viết Dũng nói lên nỗi tái tê của người dân tại Việt
Nam. Đất nước yêu dấu đã trở nên xa lạ, như một xứ nước ngoài.
Còn gì chua xót hơn? Với câu "Dân khí cạn rồi?" Nguyễn
Viết Dũng nhắc đến khí phách của dân tộc Việt qua hàng ngàn
năm lịch sử, và tự hỏi phải chăng khí phách kiêu hùng của dân
tộc Việt đã suy đồi tiêu tan.
Khí phách ấy mở đầu với Hai Bà Trưng qua tiếng trống Mê Linh
nổi lên đánh đuổi Tô Định và quân Đông Hán, và tiếp tục với
biết bao công trình của cha ông bảo vệ đất nước và mở mang bờ
cõi qua các đời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần rồi đến nhà Hậu Lê và
các đời chúa Nguyễn với công trình Nam tiến, Quang Trung, Gia
Long. Với lịch sử kiêu hùng, lẽ nào chúng ta sống cuộc đời
hèn yếu, cúi đầu chịu lũ cộng nô đày đọa? ("Còn nhớ chăng
tiếng trống Mê Linh?/ Và xương máu tiền nhân khai hoang mở nước?/
Lẽ nào ta mãi sống đời bạc nhược?/ Để cộng nô kia mãi mãi
đọa đày?"). Phù hợp với tư tưởng của Czesław Miłosz, Nguyễn
Viết Dũng gói ghém lịch sử với ngôn ngữ vì "ta không thể tách
rời học sử và học ngôn ngữ" trong thi ca (Lazer 2003). Bài thơ
không chính yếu nói về lịch sử, nhưng Nguyễn Viết Dũng nhắc
đến lịch sử như một "mức độ ý thức" do Miłosz đưa ra. Cái "mức
độ ý thức" đó thật là sâu sắc vì nó làm nổi bật nỗi bi
thương của tác giả trong kiếp lưu vong trên một đất nước đã
từng có lịch sử kiêu hùng. Chính nét kiêu hùng đó khiến
Nguyễ́n Viết Dũng cảm thấy xa lạ với đất nước hiện nay, vì
nhóm cầm quyền đã và đang hủy diệt khí phách kiêu hùng cố
hữu của dân tộc Việt suốt mấy ngàn năm. Anh đã trở thành kẻ
lưu vong trên chính quê hương anh vì anh không còn nhận ra quê hương
xứ sở của anh nữa. Với từ ngữ "cộng nô," tác giả
khẳng định nhóm cầm quyền cộng sản chỉ là nô lệ cho quan thầy
Tàu cộng như đã được biết rõ qua cách hành xử hèn nhát của
chúng đối với Tàu cộng và những áp bức tàn ác trên dân chúng
và những người đấu tranh cho tự do dân chủ.
Tiếp tục với lối dùng câu hỏi tu từ, trong đoạn chót Nguyễn
Viết Dũng muốn biết bao giờ lá cờ vàng tung bay, cho thấy tổ
quốc trở về trên đất nước thân yêu để anh thoát kiếp lưu vong,
và có được tự do. Anh không thể nào trả lời được câu hỏi đó,
và kêu gọi toàn dân hãy trả lời giùm anh ("Đến bao giờ Hoàng
Kỳ tung bay?/Thoát kiếp lưu vong, tự do mang về tới?/ Câu hỏi
này sao tôi đáp nổi?/ Đồng bào ơi: Cùng đáp thay tôi"). Đoạn này có vài điểm quan trọng cần thảo luận kỹ.
Trước hết, tác giả nhắc đến lá cờ vàng ("hoàng kỳ").
Đối với người cộng sản, lá cờ vàng đem cho họ nỗi khiếp sợ
kinh hồn vì nó đem lại hình ảnh chính thể VNCH, và họ cố
gắng dẹp bỏ hình ảnh lá cờ vàng trong nước và tại cộng đồng
người Việt hải ngoại. Thật là kỳ lạ, mang tiếng là kẻ
"thắng cuộc," tại sao cộng sản lại khiếp sợ lá cờ vàng của
VNCH đến độ như vậy? Ta thừa hiểu đó là vì người cộng sản
biết là họ thực sự không thắng VNCH trong cuộc chiến. Họ chỉ
nhờ may mắn và dựa vào yểm trợ của Nga Tàu để xâm lăng và
cướp được miền Nam Việt Nam. Ngoài ra cộng sản biết họ chỉ là
lũ cướp chính quyền, và lá cờ vàng, hiện hữu trước lá cờ
đỏ cộng sản, tiêu biểu chính nghĩa quốc gia. Những kẻ cầm
quyền cộng sản, do đó, rất khiếp đảm khi thấy lá cờ vàng như
ác quỷ thấy dấu hiệu thánh giá hoặc Phật.
Nhưng Nguyến Viết Dũng có thực sự nhắc đến lá cờ vàng của
VNCH trong bài thơ "Kiếp Lưu Vong" hay không? Nguyễn Viết Dũng đã
từng treo lá cờ vàng của VNCH trên nhà anh ở Nghệ An. Anh còn
mặc quân phục có phù hiệu phản ảnh VNCH. Tuy nhiên, "hoàng kỳ"
trong câu "Đến bao giờ Hoàng Kỳ tung bay?" không nhất thiết là lá cờ vàng của VNCH vì lý do sau. Trong câu trước, tác gỉả nhắc đến "Còn nhớ chăng tiếng trống Mê Linh?"
Có nhiều giai thoại lịch sử cho biết Hai Bà Trưng dùng lá cờ
vàng như là quốc hiệu trong khoảng thời gian ba năm ngắn ngủi
họ cai trị Việt Nam thời ấy. Ngoài ra, lá cờ vàng ba sọc đỏ
hoặc các dạng biến thể đã hiện diện và được dùng từ các
triều đại nhà Nguyễn, rõ ràng nhất là thời vua Bảo Đại,
trước khi lá cờ đỏ của cộng sản dựng lên trong cuộc cướp đoạt
chính quyền của Quốc Gia Việt Nam vào năm 1945.
Qua việc nhắc đến Hai Bà Trưng, dường như tác giả muốn liên kết
cờ vàng với tổ quốc Việt Nam từ thời xa xưa. Đương nhiên, vì
VNCH là chính thể của Quốc Gia Việt Nam, "hoàng kỳ" cũng hàm
ý lá cờ vàng của VNCH. Nhưng quan trọng hơn, "hoàng kỳ" là lá
cờ của chính nghĩa, và chính thống là của tổ quốc Việt Nam.
Chính vì vậy mà chỉ khi lá cờ vàng tung bay trên đất nước, tổ
quốc mới trở lại trên đất nước Việt Nam, và người lưu vong
mới thoát được kiếp lưu vong để thuộc về quê cha đất mẹ, và
không còn cảm thấy lạc lõng nữa.
Thứ nhì, tác giả có thực sự không biết câu trả lời cho câu hỏi anh đặt ra hay không? Câu "Câu hỏi này sao tôi đáp nổi?"
chỉ cho biết làm sao mà anh trả lởi được, nhưng ta không biết
lý do tại sao anh không trả lời được. Ta nhận thấy mọi câu hỏi
trong bài thơ đều là những câu hỏi tu từ, và người hỏi đều có
câu trả lời, nhưng anh vẫn hỏi để đặt vấn đề, vả dùng các
câu hỏi để hàm ý cho ý nghĩa khác. Một cách tinh tế, tác giả
muốn đồng bào anh trả lời gìùm anh. Trả lời tức là hành
động. Tác giả khéo léo đẩy trách nhiệm trả lời tới toàn dân,
như gián tiếp kêu gọi toàn dân hãy ra tay hành động. Câu "Đồng bào ơi: Cùng đáp thay tôi"
ngụ ý toàn dân hãy đoàn kết ("cùng") và hành động để vất
bỏ chế độ cộng sản và đem lại tự do cho toàn dân. Câu này liên
kết với nhóm chữ "Tiếng gọi công dân" trong đoạn trước như cho lóe lên một niềm hy vọng là toàn dân sẽ "đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống" (Cao-Đắc 2015b) trong cuộc đấu tranh cho tự do.
Tóm lại, Nguyễn Viết Dũng viết bài thơ "Kiếp Lưu Vong" với một
kỹ thuật tuyệt vời. Ý nghĩa của các câu thơ thật đơn sơ, không
có gì cầu kỳ, không có gì khó hiểu, nhưng ta nghe được tiếng
khóc văng vẳng của những người trẻ với lòng yêu nước tràn
trề̉. Tiếng khóc ấy không phải là tiếng khóc của người nhu
nhược yếm thế, mà là tiếng khóc thương xót cho tổ quốc thương
yêu đã bị lũ quỷ đỏ dày xéo cướp bóc và tiêu hủy. Tiếng
khóc ấy là dấu hiệu của lòng can đảm và ý chí cương quyết
sẽ bùng dậy.
Ý nghĩa chống đối và kêu gọi trong bài thơ "Kiếp Lưu Vong" rất
tinh tế. Sự chống đối được diễn tả qua những câu xác định về
mất tự do vì sự cai trị của cộng sản, sự thờ ơ của dân chúng
vì cuộc sống quay vòng, và sự thoái hóa của khí phách dân
tộc, và hèn nhát chấp nhận bị cộng nô đày đọa. Ngoài việc
bày tỏ chống đối, "Kiếp Lưu Vong" còn là lời kêu gọi toàn dân
đoàn kết để giành lại tự do đã bị cộng sản cướp đi.
C. Với thể
loại thơ bốn câu liên kết thích hợp cho mục tiêu chống đối và
kêu gọi, "Kiếp Lưu Vong" diễn tả ý tưởng thật hữu hiệu với
cách dùng các kỹ thuật mỹ từ như câu hỏi tu từ và ẩn dụ.
Như trình bày ở trên, bài thơ "Kiếp Lưu Vong" là một bài thơ
vửa chống đối vửa kêu gọi. Do đó, thể thơ bốn câu liên kết rất
thích hợp cho mục tiêu này. Thể bốn câu liên kết khá thông
dụng cho nội dung kể lể hoặc lời kêu gọi (thí dụ như bài
hịch). Sự liên kết hoặc móc nối một đoạn sang đoạn kế tiếp
được thực hiện qua vần cuối câu, tạo nên sự trôi chảy theo thứ
tự. Một bài thơ theo thể này có nhiều đoạn. Mố̃i đoạn có bốn
câu. Mỗi câu có khoảng tám chữ (words) tương đương với tám âm
tiết (vì tiếng Việt là tiếng đơn âm). Có câu dùng bảy hoặc
chín chữ để thay đổi âm hưởng. Trong mỗi đoạn, vần luôn luôn
gieo cuối câu. Câu đầu hay thứ nhất vần với câu chót của đoạn
trước. Câu thứ nhì vần với câu thứ ba. Câu chót vần với câu
đầu của đoạn kế tiếp.
Bài thơ "Kiếp Lưu Vong" gồm có năm đoạn, mỗi đoạn có bốn câu.
Mỗi câu có khoảng tám chữ. Có câu có bảy hoặc chín chữ để
thay đổi âm hưởng. Đặc biệt, câu "Dân khí cạn rồi?" chỉ có bốn chữ, có tác dụng nhấn mạnh.
Bố cục bài thơ khá chặt chẽ với lối nhập đề trực tiếp gây
chú ý ngay trong câu đầu. Ý chính của bài thơ về ý nghĩa của
kiếp lưu vong nằm ở đoạn 3. Đoạn 4 gợi ý cho giải đáp vấn đề.
Đoạn chót đưa ra giải đáp.
1. Bài thơ có vần điệu chặt chẽ với nhịp điệu thay đổi tạo nên nét linh động và gây cảm xúc:
Như được trình bày ở trên, bài thơ viết theo thể loại vần liên
kết. Trong mỗi đoạn bốn câu, vần được gieo ở hai câu giữa và ở
cuối câu. Vần còn được gieo từ đoạn này qua đoạn khác qua móc
nối câu chót của một đoạn với câu đầu đoạn kế. Thí dụ, trong
đoạn 1, hai câu giữa có vần "thế" và "lệ." Câu chót của đoạn 1
vần với câu đầu của đoạn 2 ("do" với "do"). Tiếp tục là các
vần trong đoạn và giữa hai đoạn như sau: "trị" với "mị," "tiền"
với "điên," "mẹ" với "bẽ," "nước" với "nhược," "đày" với
"bay," và "tới" với "nổi." Để ý là vần trong đoạn theo vần
trắc và vần nối hai đoạn theo vần bằng. Vần trắc thường tạo
tác dụng mạnh mẽ. Do đó dùng vần trắc trong đoạn gây tác dụng
mạnh trên khán gỉả. Vần bằng cho móc nối các đoạn tạo âm
điệu nhẹ nhàng, thích hợp cho sự trôi chẩy của cả bài. Đặc
biệt, không có vần nối đoạn 3 và đoạn 4 vì tác giả muốn dùng
biến thể để tạo nét thay đổi và nhấn mạnh ý tưởng của ý
chuyển tiếp giữa "dân khí" và "tiếng trống Mê Linh."
Vần là chỗ nhấn mạnh ý tưởng. "Một chữ có vần được nổi bật
lên - bạn có thể dùng vần để nhấn mạnh những chữ quan trọng.
Và vì vần chính yếu lả tiếng vang, nó cho cảm giác kết
thúc" (Addonizio và Laux 1997, 145). Ngoài việc vần được gieo rất
chỉnh, tác giả chọn vần cho từ ngữ quan trọng cho ý của câu.
Thí dụ, "trị" trong "cai trị" nhấn mạnh tính chất đô hộ của cộng sản, "mị" trong "mộng mị" nhấn mạnh sự mê man của người Việt, "đày" trong "đọa đày" nhấn mạnh tính chất tàn bạo của cộng nô, "bay" trong "tung bay" vẽ ra hình ảnh tự do và giải thoát.
Tuy bài thơ "Kiếp Lưu Vong" viết theo thể loại có vần với quy
luật chặt chẽ, tác giả không dùng số chữ (words) cố định ở
tám chữ mỗi câu, mà thay đổi vài câu có 7 chữ hoặc 9 chữ. Đặc
biệt, câu "Dân khí cạn rồi?" chỉ có bốn chữ. Cách dùng biến thể này giúp tạo nên nhịp điệu linh động và gây cảm xúc cho bài thơ. Câu "Dân khí cạn rồi?"
tạo ra một quãng nghỉ, giúp cho người đọc/ nghe có dịp ̣để ý
tưởng thấm dần, và để chuẩn bị cho câu kế tiếp. Để ý là ca
khúc của nhạc sĩ Dzuy Lynh tạo cùng tác dụng bằng cách nhắc
lại toàn câu "Dân khí cạn rồi?" như một tiếng vang dội lại.
2. Bài thơ dùng các câu hỏi tu từ rất hiệu quả và có
những ẩn dụ nội dung độc đáo, và nên được truyền bá rộng
rãi:
Một trong những khía cạnh của thi ca và văn xuôi là cách dùng
mỹ từ. Bài thơ "Kiếp Lưu Vong" có hai kỹ thuật mỹ từ nổi bật:
câu hỏi tu từ và ẩn dụ.
a) Các câu hỏi tu từ đem lại tác dụng gia tăng mức độ hiểu biết của người đọc về thông điệp trong bài thơ:
Tất cả những câu hỏi trong bài thơ đều là câu hỏi tu từ. Vài thí dụ của các câu hỏi tu từ trong bài như sau:
Sao thoát kiếp lưu vong?
Đến bao giờ dân tộc được tự do?
Còn nhớ chăng tiếng trống Mê Linh?
Đến bao giờ Hoàng Kỳ tung bay?
Tác giả dùng câu hỏi tu từ để lôi cuốn khán giả, khiến khán
giả phải tham gia vào sự suy nghĩ, và do đó gây tác dụng mạnh
trên khán giả. Quan trọng hơn, "câu hỏi tu từ có thể là một
khí cụ mạnh mẽ cho việc thuyết phục hoặc kích động suy nghĩ"
(Licciardi). Có nhiều nghiên cứu tâm lý học cho thấy câu hỏi tu
từ giúp gia tăng sự thuyết phục trong một thông điệp, nhất là
với những người thờ ơ hoặc ít có động cơ dính líu về vấn đề
nêu ra trong thông điệp đó. "Dưới những điều kiện ít dính líu,
khi đối tượng không có được động cơ thúc đẩy một cách tự
nhiên để tiến hành thông điệp kỹ lưỡng, các câu hỏi tu từ làm
gia tăng ý tưởng về thông điệp" (Petty, Cacioppo, và Heesacker
1981, 438). Ngược lại, với những người đã có động cơ mạnh thúc
đẩy trong việc dính líu với thông điệp, các câu hỏi tu từ
khiến họ bị chia trí ra khỏi sự suy nghĩ bình thường (sđd.).
Bài thơ "Kiếp Lưu Vong" có một tác dụng rất hữu hiệu trên giới
trẻ qua cách dùng kỹ thuật câu hỏi tu từ vì lý do sau đây. Đa
số thanh thiếu niên nam nữ Việt Nam, dưới nền giáo dục tẩy não
và nhổi sọ, không biết rõ sự thật về đảng cộng sản Việt
Nam, lịch sử, chiến tranh Việt Nam, và chính thể VNCH. Ngoài ra,
cuộc sống xã hội chật vật, nền kinh tế suy đồi và tệ trạng
xã hội, tham nhũng, ngày càng gia tăng. Do đó, tuổi trẻ Việt
Nam thường ít khi để ý đến các vấn đề "chính trị," và thường
sợ hãi hoặc bỏ qua các vấn đề này. Đa số chỉ sống qua ngày,
nghe theo lời "khuyên dạy" của nhà cầm quyền hoặc những người
được coi là trí thức giáo dục nhưng chỉ là công cụ của chính
quyền. Giới học sinh sinh viên thường được khuyên răn là lo
chuyện học hành và đừng nghĩ đến "chính trị," hoặc sự tồn
vong của tổ quốc. Đa số giới trẻ đi theo trào lưu xã hội qua
những tin tức hoạt động văn nghệ, thể thao, giải trí, hoặc kinh
tế. Phụ huynh đồng lõa với nhà cầ̀m quyền một cách vô ý
thức vì lo sợ tương lai và an ninh cho con em, nên thường cản trở
con em tham dự những hoạt động có tính cách "chính trị." Hậu
quả là thanh thiếu niên Việt Nam hầu như thờ ơ đến tình trạng
đất nước, hoặc dính líu rất í́t đến các hoạt động đấu tranh,
cải thiện xã hội.
Theo các nghiên cứu khoa học kể trên, vì đa số giới trẻ ít để
ý đến các vấn đề "chính trị" đưa ra trong bài thơ hay thông
điệp, các câu hỏi tu từ gia tăng khả năng thuyết phục trong thông
điệp tác giả Nguyến Viết Dũng muốn gửi. Tuy nhiên, sẽ có
người phản đối, "Nhưng nếu giới trẻ không để ý đến các sự
kiện trong thông điệp, họ sẽ không bỏ thì giờ để đọc bài thơ."
Lý luận đó hoàn toàn hợp lý. Để bài thơ có tác dụng trên
giới trẻ, ta phải quảng bá, truyền đạt bài thơ một cách rộng
rãi. Với các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay qua
Facebook, Twitter, blogs, và các tổ chức xã hội dân chủ, việc
truyền bá thông điệp của Nguyễn Viết Dũng trong bài thơ "Kiếp
Lưu Vong" là một việc dễ dàng.
b) Các ẩn dụ đem lại nét đẹp cho cách diễn tả và gây tác dụng khó quên cho người nghe:
Ẩn dụ là một hình thức so sánh ngầm. Có hai cách dùng ẩn
dụ: hình thức và nội dung. Ẩn dụ hình thức là sự so sánh
ngầm được biểu lộ ngay ở chữ dùng. Thí dụ: suối tóc, bờ vai,
gió gào. Ẩn dụ nội dung là sự so sánh nằm trong ý nghĩa.
Bài thơ "Kiếp Lưu Vong" có nhiều ẩn dụ nội dung độc đáo. Những
ẩn dụ này giúp bao hàm tính chất chống đối và kêu gọi của
bài thơ, và khiến bài thơ không có những lời lẽ bộc lộ rõ
ràng.
Ẩn dụ quan trọng nhất trong "Kiếp Lưu Vong" là sự ví von quê
hương mình là một xứ sở xa lạ. Cái ví von này có nhiều diễn
giải. Thứ nhất, quê hương tác giả không thay đổi nhưng tác giả
thay đổi và cảm thấy lạc lõng. Thí dụ tác giả có thể sinh
sống ở hải ngoại một thời gian là kẻ lưu vong, nhưng khi trở
lại quê hương thì không thích hợp với cuộc sống vì anh đã thay
đổi và do đó lại sống cuộc sống lưu vong ngay tại quê hương
mình. Ta thấy ngay đó không phải là diễn giải của "Kiếp Lưu
Vong" vì Nguyễn Viết Dũng sống tại Việt Nam trong suốt quãng
đời anh cho tới nay. Thứ nhì, tác giả sinh trưởng nơi đất mẹ
và không rời xa quê hương, nhưng quê hương anh thay đổi. Anh không
còn tìm thấy những đặc tính của quê hương dân tộc mà anh biết
như tự do và khí phách oai hùng. Do đó, anh cảm thấy anh là kẻ
xa lạ với chính quê hương anh. Đó chính là diễn giải thích
đáng của bài thơ.
Ẩn dụ thứ hai là sự ví von lá cờ vàng tượng trưng cho tự do.
Điều này chỉ có thể xảy ra khi lá cờ đỏ của cộng sản bị
tiêu hủy, ngụ ý chế độ cộng sản chấm dứt. Mối liên hệ giữa "Hoàng Kỳ tung bay" và "Thoát kiếp lưu vong"
tuy có vẻ xa xôi, nhưng thực ra rất chặt chẽ. Lá cờ vàng,
ngoài việc tượng trưng cho chính nghĩa của tổ quốc, còn tượng
trưng nước VNCH, đang bị cộng sản chiếm đóng. Lá cờ vàng tung
bay không những biểu hiện nước VNCH đã vùng dậy lật đổ nhóm đô
hộ cộng sản, mà còn biểu hiện tự do trở về trên quê hương vì
chính thể VNCH là một chính thể tự do dân chủ.
Ẩn dụ thứ ba là mối liên hệ giữa chính nghĩa tổ quốc và lá cờ vàng qua câu nhắc nhở đến "tiếng trống Mê Linh."
Như trình bày ở trên, có các giai thoại lịch sử cho biết lá
cờ vàng đã được dùng từ thởi Hai bà Trưng. Do đó, "tiếng trống Mê Linh" không chỉ nhắc đến khí phách oai hùng của dân tộc Việt mà còn nhắc đến tính chất tổ quốc của lá cờ vàng.
Ẩn dụ thứ tư là sự ví von đồng bào trả lời câu hỏi giùm tác
gỉả với việc toàn dân đoàn kết để lật đổ chế độ cộng sản.
Tác giả khéo léo đẩy trách nhiệm trả lời câu hỏi đến đồng
bào anh, vì làm sao anh biết được ý chí của toàn dân thế nào.
Nhưng trả lời tức là hành động. Do đó, đẩy trách nhiệm trả
lời câu hỏi đến đồng bào là ẩn dụ cho lời kêu gọi đồng bào
đoàn kết để đứng lên giành lại tự do.
Các ẩn dụ này được dùng một cách khéo léo và có liên kết
với nhau chặt chẽ. Cộng với các câu hỏi tu từ, các ẩn dụ này
gia tăng chiều sâu của mức độ ý thức về tình trạng đất nước
và sự cần thiết cho một cuộc nổi dậy của toàn dân. "Kiếp Lưu
Vong," do đó, có một giá trị thật cao dưới tiêu chuẩn của
Czesław Miłosz đề cập ở trên.
D. Kết Luận:
Nguyễn Viết Dũng viết bài thơ "Kiếp Lưu Vong" như lời một chứng
nhân sống trong xã hội của chế độ cộng sản Việt Nam. Nguyễn
Viết Dũng không những là một thanh niên yêu nước và có nhiệt
huyết với tổ quốc mà còn là một người thông minh tài giỏi,
có tài năng khác thường. Bài thơ "Kiếp Lưu Vong" là một bài thơ
tuyệt diệu, nói lên nỗi xót xa của tuổi trẻ trước cảnh đất
nước suy tàn và hiểm họa rơi vào tay Tàu cộng và kêu gọi toàn
dân thức tỉnh qua lời nhắc nhở lịch sử oai hùng để nổi lên
giành lại chính nghĩa quốc gia và tự do.
Qua thể thơ bốn câu vần liên kết, bài thơ "Kiếp Lưu Vong" có tác
dụng hữu hiệu là bài thơ chống đối và kêu gọi. Ý nghĩa
chống đối và kêu gọi được diễn tả một cách kín đáo và tinh
tế qua cách dùng kỹ thuật câu hỏi tu từ và ẩn dụ. Bài thơ
cần được truyền bá rộng rãi trong giới thanh thiếu niên nam nữ
tại Việt Nam.
Điểm đặc sắc nhất của "Kiếp Lưu Vong" là lòng can đảm của
Nguyễn Viết Dũng khi anh ca ngợi lá cờ vàng ngay trên đất kiểm
soát bởi cộng sản. Anh không những chỉ ghi nhận qua bài thơ mà
còn thể hiện qua hành động treo lá cờ vàng trên nóc nhà, và
mặc trang phục theo QLVNCH. Lòng can đảm đó là tính chất uy
dũng của dân tộc Việt, và tinh thần bất khuất của biết bao
nhiêu hào kiệt trong lịch sử. Giới trẻ tại Việt Nam nên noi
gương Nguyễn Viết Dũng và những thanh niên nam nữ đang đấu tranh
cho tự do dân chủ.
Hãy chấm dứt cuộc sống tạm bợ như những kẻ lưu vong ngay trên đất mẹ.
CẢM TẠ
Tôi xin có lời cám ơn bạn mythanh trên trang mạng Dân Làm
Báo đã yêu cầu đề tài, trao đổi ý kiến, khích lệ, và hướng
dẫn tôi trong lúc viết bài này.
1. Addonizio, Kim và Laux, Dorianne. 1997. The Poet's Companion. A Guide to the Pleasures of Writing Poetry. W. W. Norton & Company, New York, New York, U.S.A.
2. Bloc 8406. 2015. Kiến nghị thư yêu cầu trả tự do cho Nguyễn Viết Dũng (Dũng Phi Hổ). 23-4-2015. http://danlambaovn.blogspot.com/2015/04/kien-nghi-thu-yeu-cau-tra-tu-do-cho.html (truy cập 27-8-2015).
6. CTV Danlambao. 2015a. Hà Nội: CA bắt khẩn cấp nhiều thanh niên mặc áo in phù hiệu Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. 15-4-2015. 436 Comments (truy cập 27-8-2015).
22. Petty, Richard E., Cacioppo, John T., và Heesacker, Martin. 1981. Effects of Rhetoriocal Questions on Persuasion: A Cognitive Response Analysis.
Journal of Personality and Social Psychology, Vol. 40, No. 3, 432-440.
http://www.psy.ohio-state.edu/petty/PDF%20Files/1981-JPSP-Petty,Cacioppo,Heesacker.pdf
(truy cập 23-8-2015).