17/4/15

Chiến Sĩ VNCH dù tử danh bất tử

 Chiến Sĩ VNCH dù tử danh bất tử (Phần 1)

Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) - Mỗi năm đến ngày 30 tháng Tư, tâm tư của người Việt Quốc gia có lẽ hầu hết cảm thấy luyến tiếc miền Nam Việt Nam đã một thời được sống tự do mà ngày nay đã bị cướp mất! Tự do dân chủ là lẽ sống tất yếu của con người, không có một thế lực nào có đủ khả năng ngăn cản bước tiến của nhân loại. Bất cứ kẻ nào, bất cứ đảng phái nào ngăn cản bước tiến của nhân loại thì chắc chắn sẽ bị đào thải sớm hay muộn mà thôi! Riêng Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) không khỏi lưu luyến một thời hào hùng, can trường đã qua! Sự hào hùng, can trường thuở nào của Chiến Sĩ VNCH, dù có nhiều người đã tuẫn tiết hay đã lẫm liệt hy sinh, nhưng tên tuổi sẽ mãi mãi trường tồn bất tử. Vì sao? Vì “Vị Quốc vong thân” thì tên tuổi mãi mãi bất tử vậy.
Sự thật đã minh chứng rằng trong suốt 20 năm chiến tranh, những nơi đã xảy ra chiến trận lẫy lừng, Chiến Sĩ VNCH đã biến những địa danh: Bình Long An Lộc (1972), Cổ Thành Quảng Trị (1972). Đồi Charlie, ĐắK Tô, Tân Cảnh (1972). Hải Chiến Hoàng Sa (1974). Phòng tuyến Xuân Lộc (1975)... thành những địa danh nổi tiếng trong Quân sử thời cận đại. Mỗi khi nhắc nhở đến những địa danh này đã làm sống lại tinh thần chiến đấu can trường của Chiến Sĩ VNCH. Trong 20 năm chiến tranh, Chiến Sĩ VNCH đã can trường chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc trước nạn xâm lăng của Cộng sản. Dẫu biết rằng: “Tuý ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhơn hồi” (Say nằm trận địa đừng cười. Xưa nay chinh chiến mấy người hồi hương). Dù biết chiến trường là hiểm nguy, nhưng Chiến Sĩ VNCH đã quyết tâm xông pha hay quyết tâm tử chiến với quân thù, nên có biết bao người đã lẫm liệt hy sinh!
Để minh chứng lòng kiên trung của Chiến Sĩ VNCH, dù lẫm liệt chiến thắng hay can trường chiến bại! Tôi tưởng cần nêu lên một trong những trận chiến hào hùng vừa nêu trên, xin đơn cử Trận Hải Chiến Hoàng Sa vào ngày 19 tháng Giêng năm 1974, để thấy vì sao “Chiến Sĩ VNCH dù tử, danh bất tử”. So sánh về tương quan lực lượng thì Hải quân của Tàu cộng chẳng những đông đảo mà vũ khí sử dụng để xâm lược cũng tối tân và đầy đủ hơn. Dù vậy, Hải quân VNCH cũng đã giáng cho quân xâm lược 4 tàu bị hư hại nặng, 18 quân Tàu tử thương còn số quân Tàu bị thương thì không rõ. Về phía Hải quân VNCH thì 74 chiến sĩ đã hy sinh, trong đấy Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 bị trúng đạn ở phòng máy và phòng chỉ huy. Cả hạm trưởng Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà và hạm phó Đại úy Nguyễn Thành Trí đều bị thương. Biết tình trạng chiếc tàu không thể cứu vãn, Hạm trưởng lo lắng cho sinh mệnh của đồng đội, nên ra lệnh cho thủy thủ đoàn dùng bè thoát nạn vì đang nguy ngập. Anh em Hải quân không thể để Hạm trưởng còn lại trên tàu, nên tha thiết mong Hạm trưởng cùng rời tàu, nhưng Hạm trưởng vẫn khẳng khái, cương quyết ở lại tử tiết theo tàu, nêu cao tinh thần “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm”.
Thương tiếc thay! Sự hy sinh hào hùng của Thiếu tá Ngụy Văn Thà có khác nào sự hy sinh lẫm liệt của anh hùng Trần Bình Trọng, Lê Lai... Thế mà ngày nay có những kẻ mang lon tới cấp Đại tướng giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng của Cộng Sản Việt Nam (CSVN), mà lẽ ra Bộ Quốc phòng là một cơ quan có nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý và chỉ huy Quân đội. Nhưng họ chỉ biết quỵ lụy thiên triều (Tàu), nhục nhã đầu hàng quân xâm lược trước khi giao chiến, đấy là:
a- Đại tướng Lê Đức Anh vào năm 1988 giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, mà Thiếu tướng Lê Mã Lương đã gián tiếp tiết lộ: “Kẻ thủ phạm tiếp tay cho quân Tàu cộng đánh chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam, chính là đồng chí lãnh đạo cấp cao”. Trước khi xảy ra trận Hải chiến Trường Sa ngày 14-3-1988, quân đội Việt Nam đã phải nhận lệnh oái oăm: “Không được nổ súng trong trường hợp Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma hay bất kỳ một đảo nào ở Trường Sa”. Phẫn nộ trước hành động bán nước! Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã đập bàn chất vấn: “Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?” Do đấy, ông Nguyễn Cơ Thạch đã bị thiên triều ra lệnh Đảng CSVN cách chức.
Sau khi quân xâm lược Tàu cướp được đảo Gạc Ma, đã xây sân bay quân sự trên đảo này để uy hiếp toàn bộ khu vực miền Nam của Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu còn tiết lộ sau trận Hải chiến Trường Sa năm 1988, Đại hèn tướng Lê Đức Anh đã “đi đêm” với Trung cộng, đưa đến Hội Nghị Thành Đô năm 1990, từ đấy Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào Tàu cộng.
b- Đại tướng Phùng Quang Thanh đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam. Trong khi giàn khoan HD 981 của Tàu cộng đang xâm phạm lãnh hải của Việt Nam trắng trợn từ ngày 1-5-2014, Đồng bào Việt Nam đã quyết liệt biểu tình phản đối, có người còn lẫm liệt tự thiêu để phản đối quân xâm lược. Thế mà, vào trưa ngày 31-5-2014 tại Hội nghị Đối thoại Shangri-La ở Singapore, Đại hèn tướng Thanh đã trơ trẽn phát biểu: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau, còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi”.
Thứ đến, vào ngày 29-12-2014, Đại hèn tướng Thanh còn trơ trẽn phát biểu tại hội nghị của Chính phủ với địa phương để triển khai Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế, xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2015, rằng: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”. Từ xưa, Tiền nhân ta, Đồng bào ta ghét hay giận quân xâm lược mới đánh đuổi chúng khi xâm lăng nước ta, chứ không phải Người Việt thù hận nhân dân Tàu. Đại hèn tướng Thanh đúng là loại ăn lương của Đồng bào Việt Nam lại làm quan cho Tàu?!!!.
Với 2 Đại hèn tướng vừa nêu, nếu người viết dùng từ hạ cấp để chỉ về họ, thì tự mình cảm thấy thẹn vì dùng từ thiếu lịch sự, nhưng không có từ nào khác để gọi chính xác về hành động hèn hạ của họ?! Nên phải gọi 2 Đại hèn tướng này là: “Mặt người dạ thú” vậy?! Dù họ đã mang quân hàm đại tướng, đã/đang giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng CSVN. Nhưng họ không, không đủ tư cách để so sánh với lòng dũng cảm và hy sinh lẫm liệt của 74 chiến sĩ Hải quân nói chung và cựu Thiếu tá Ngụy Văn Thà của quân lực VNCH nói riêng?! Vì sao vậy? Vì “Trận Hải Chiến hoàng Sa” Chiến Sĩ VNCH vị quốc vong thân, nên hằng năm vào ngày 19 tháng Giêng, đã được người Việt khắp nơi (hải ngoại và trong nước dù ở miền Nam hay Bắc Việt Nam) long trọng tổ chức lễ tưởng niệm các vị anh hùng đã lẫm liệt hy sinh. Từ đấy xác định rằng: “Cựu Thiếu tá Ngụy Văn Thà cùng 73 chiến sĩ dù tử nhưng danh bất tử”. Kính phục anh hùng vị quốc vong thân, xin thắp nén hương lòng bằng mấy vần thơ:
Bảy tư Chiến sĩ, nhớ nhung tâm!
Tử chiến Hoàng Sa, há ngại ngần
Tử tiết trung trinh, danh bất tử
Ngụy Văn Thà, Tổ quốc tri ân!
Mỗi năm đến ngày 30 tháng Tư, Đồng bào Việt Nam, nhất là anh em Chiến Sĩ VNCH, chẳng những u uất ngày quốc hận suốt 40 năm qua, mà còn thao thức bàng hoàng ngày 30-4-1975 đã buông súng tức tối, nỗi niềm ray rứt ấy khó khăn nguôi! Trong ngày và gần ngày 30-4-1975, Chiến Sĩ VNCH đã bị bức tử nhưng danh mãi mãi bất tử. Người viết xin được kính cẩn nghiêng mình kể đến tên tuổi một số vị anh hùng mà đồng bào luôn nhắc nhở và tri ân, trước nhất là “Ngũ Hổ Tướng Tuẫn Tiết!”.
1- Tướng Nguyễn Khoa Nam, người gốc làng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh tại Đà Nẵng năm 1927. Năm 1953, Ông nhập ngũ khóa 3 Thủ Đức, sau đấy gia nhập binh chủng Nhảy dù. Năm 1969, Ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh kiêm Tư lệnh Khu Chiến thuật Tiền Giang. Năm 1972, Ông được thăng thiếu tướng. Tháng 11 năm 1974, Tướng Nam được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 4, Vùng IV Chiến thuật. Ngày 30-4-1975, tổng thống bất đắc dĩ Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng. Rạng sáng ngày 1-5-1975, Tướng Nguyễn Khoa Nam dùng súng tuẫn tiết. Trước khi mất, Ông đã khẳng khái nói: “Chúng tôi làm tướng mà không giữ được nước thì chết theo nước”. Kính phục, xin thắp nén hương lòng bằng mấy vần thơ đến người anh hùng tuẫn tiết:
Tướng Nam, tên tuổi rạng xa gần
Tâm huyết lo lường bảo bọc dân
Non nước nguy vong, đành tuẫn tiết!
Đồng bào lưu luyến nhớ nhung ân!
2- Tướng Lê Văn Hưng sinh năm 1933, tại Hóc Môn. Năm 1955, tốt nghiệp khóa 5 Trường Sĩ quan Thủ Đức. Năm 1970, Ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh. Năm 1971, Tướng Hưng được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh. Trận chiến Bình Long bắt đầu ngày 4-4-1972. Sau hai tháng tử chiến chống lại lực lượng Cộng quân đông đảo. Tướng Hưng vẫn giữ vững căn cứ và cuối cùng QLVNCH phản công quyết liệt đã đem về chiến thắng oanh liệt. Đến năm 1974, Ông đảm nhận chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn 4. Ngày 30-4-1975, tại văn phòng Tư lệnh phó của Quân đoàn 4 đóng tại Cần Thơ, sau khi Ông nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả anh em quân nhân có mặt tại bộ chỉ huy, người “Anh hùng tử thủ An Lộc”, đã dùng súng lục tử tiết vào lúc 20 giờ 45 phút. Nhớ Tướng Hưng tuẫn tiết hào hùng, xin dâng mấy vần thơ thành kính!:
Tướng Hưng, lo lắng giữ non sông
An Lộc can trường, rạng chiến công
Nối chí Tiền nhân, chan chứa nghĩa
Noi gương Hoàng Diệu sắt son long
3- Tướng Trần Văn Hai sinh năm 1929, tại Cần Thơ. Đời binh nghiệp của Ông bắt đầu vào khóa 7, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tốt nghiệp năm 1951, Ông tình nguyện vào binh chủng Nhảy dù. Năm 1965, Ông được thăng trung tá và bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Phú Yên, Ông là một Tỉnh trưởng làm việc tận tụy và thanh liêm, nên dân chúng Phú Yên rất kính trọng. Trong thời gian Ông làm Tỉnh trưởng Phú Yên; Cộng sản Bắc Việt đã dùng đường biển chở một số lớn vũ khí từ miền Bắc vào Vũng Rô ở gần Đèo Cả, CSBV muốn lén lút đưa vũ khí vào Vũng Rô để cung cấp cho chiến trường miền Nam. CSBV không qua mặt được cơ quan tình báo Quốc gia, nên tỉnh đã điều quân phục kích và vây đánh, thu trọn số vũ khí khổng lồ này. Đây là một trong những thắng lợi to lớn của Ông. Tháng 5 năm 1968, Đại tá Trần Văn Hai được bổ nhiệm chức Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Năm 1970, Tướng Hai rời ngành cảnh sát với cấp bậc chuẩn tướng để giữ chức vụ Tư lệnh Biệt khu 44. Năm 1971, Tướng Hai giữ chức Chỉ huy trưởng binh chủng Biệt động quân. Năm 1973, Tướng Hai làm chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn, kiêm Chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ. Năm 1974, Ông giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ Binh. Sau khi nghe ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, Tướng Hai ôn tồn khuyên bảo thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số quân nhân vẫn quyết tâm ở lại bảo vệ vị chủ tướng của mình. Chiều ngày 30-4-1975, Tướng Hai đã uống thuốc độc tuẫn tiết tại văn phòng Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Xin thành kính thắp nén hương lòng đến vị anh hùng đã tuẫn tiết vì nước bằng mấy vần thơ:
Trí dũng Tướng Hai, cung kính lòng
Thanh liêm, khí khái thiết tha trông
Chiến công hiển hách, ngời kim cổ
Tuẫn tiết hào hùng, rạng núi sông!
4- Tướng Lê Nguyên Vỹ sinh năm 1933, quê tỉnh Sơn Tây. Ông học khoá 2 Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế. Năm 1972, lên Đại tá giữ chức Phó Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng tại An Lộc, nơi đây ông đã sát cánh chiến đấu cùng Tướng Lê Văn Hưng là Tư lệnh Sư đoàn. Những chiến xa T-54 của Cộng quân đang hùng hổ tiến vào Bộ Chỉ huy Tiền phương của Sư đoàn. Đại tá Vỹ can trường đứng thẳng người, bắn một quả M72 trúng chiếc T-54 đi đầu, xe tăng Cộng quân phực cháy. Binh sĩ lên tinh thần, theo gương Đại tá Vỹ, xông xáo diệt tăng nên nhiều xe tăng Cộng quân bị tiêu diệt. Sau 68 ngày đêm tử thủ An Lộc, thị xã này được giải toả. Khoảng giữa năm 1973, Ông được đề cử làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng ở căn cứ Lai Khê, tỉnh Bình Dương. Năm 1974, Ông được thăng chuẩn tướng. Cuối tháng 4 năm 1975, Cộng quân từ nhiều ngả tiến về Saigon, nhưng ở hướng Đông Bắc, Cộng quân không thể vượt qua căn cứ Lai Khê do Tướng Vỹ chỉ huy phòng thủ, mặc dù lực lượng Cộng quân đông hơn gấp nhiều lần. Sáng ngày 30-4-1975, tổng thống bất đắc dĩ Dương Văn Minh ra lệnh quân đội VNCH buông súng đầu hàng. Tướng Vỹ triệu tập sĩ quan và binh sĩ dưới quyền, Ông khẳng khái: “Tôi là tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Tôi nghĩ rằng thân làm tướng, đã được hưởng ít nhiều vinh dự và ân huệ của quốc gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi cho riêng tôi!”. Nói xong, ông dõng dạc bước ra sân, nghiêm trang đứng dưới cột cờ Bộ Tư lệnh, rút súng tuẫn tiết vào lúc 11 giờ sáng ngày 30-4-1975. Quá cảm phục tinh thần dũng cảm của Tướng Vỹ, xin được tỏ lòng thành kính bằng mấy vần thơ:
Tướng Vỹ sắt son quyết vẫy vùng
Đồng bào bảo bọc, giữ kiên trung
Lo lường non nước tròn tình nghĩa
Tuẫn tiết hào hùng trọn thủy chung
5- Tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1929 tại Hà Đông, Bắc Việt. Năm 1953, Ông tốt nghiệp trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, Ông tình nguyện phục vụ trong binh chủng Nhảy dù Quân đội Liên hiệp Pháp. Năm 1954, Ông được đề cử giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Ngày 7-5-1954, trận Điện Biên Phủ thất thủ, Ông bị Cộng quân bắt giam. Ngày 20-7-1954, Hiệp định Genève ký kết, sau đó Ông được trao trả và tiếp tục phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Đến tháng 8 năm 1970, Tướng Phú được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh và Ông được thăng Thiếu tướng tại mặt trận. Trong cuộc chiến mùa Hè 1972, Tướng Phú đã điều động Sư đoàn 1 Bộ binh giữ vững phòng tuyến Tây Nam Huế. Từ năm 1973 đến tháng 10 năm1974, Ông giữ chức chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Tháng 11 năm 1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký sắc lệnh cử Tướng Phú giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 2, Quân khu II, thay thế trung tướng Nguyễn Văn Toàn. Trận chiến Ban Mê Thuột bùng nổ ngày 10-3-1975, mặc dù Tướng Phú đã cố gắng chống lại Cộng quân quyết liệt, nhưng vẫn thất bại. Ngày 14-3-1975, trong một cuộc họp đặc biệt tại Cam Ranh, tổng thống Thiệu đã ra lệnh Tướng Phú triệt thoái toàn bộ Quân đoàn 2 khỏi cao nguyên.
Sau khi lực lượng Quân Đoàn 2 triệt thoái khỏi Nha Trang, 1 giờ 45 trưa ngày 2-4-1975, Tướng Phú đã bay đến ngọn đồi “Lầu Ông Hoàng” ở Phan Thiết để chờ thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh Phó Quân đoàn 3, tới nhận bàn giao phần lãnh thổ cuối cùng của Quân khu II, để sát nhập vào Quân khu III. Tại đây, Tướng Phú đã có quyết định tự sát, Ông rút khẩu súng ngắn nòng ra khỏi vỏ rất nhanh, đại tá Đức kêu thất thanh: “Thiếu Tướng”! Khẩu súng trên tay Tướng Phú bị đại tá Đức gạt rơi xuống đất. Sự việc này xảy ra quá bất ngờ! Giữa tháng 4 năm 1975, Tướng Phú lâm bệnh nặng, phải đưa vào điều trị tại Tổng Y viện Cộng hòa. Sáng ngày 29-4-1975, tại căn nhà riêng ở đường Gia Long, Tướng Phú bảo vợ và các con đến hướng Trường đua Phú Thọ để tìm cách di tản. Tướng Phú ở nhà uống một liều thuốc độc cực mạnh để tử tiết. Khi hay tin, cả gia đình quay về nhà, Tướng Phú được đưa vào bệnh viện Grall để nhờ các bác sĩ Pháp cấp cứu. Tướng Phú mê man, mãi đến trưa ngày 30-4-1975, Ông mới tỉnh được giây lát, giọng Ông yếu ớt hỏi Bà Phú đang ngồi bên cạnh: “Tình hình đến đâu rồi?” Bà Phú thành thật: “Tướng Minh vừa nhận chức vụ Tổng thống, ông ra lệnh QLVNCH buông súng đầu hàng và Cộng quân đã cưỡng chiếm Sài Gòn!” Nghe xong, Tướng Phú vẻ mặt phẫn uất, rồi nhắm mắt và ra đi vĩnh viễn: Quá cảm phục! Kính cẩn thắp nén hương lòng đến người anh hùng tuẫn tiết vì nước bằng mấy vần thơ:
Tướng Phú, ngăn thù chốn núi non!
Quân dân di tản, mãi lo toan!
Vùng hai nguy ngập, băn khoăn dạ!
Độc được quyên sinh, giữ sắt son!
Chiến Sĩ VNCH đã sắt son đem xương máu giữ gìn Tổ quốc là vậy! Thế mà, CSVN là kẻ chiến thắng lại cúi đầu quỵ lụy thiên triều (Tàu cộng) đã và đang lần lượt dâng hiến mảnh da thịt của Tổ quốc cho kẻ thù truyền kiếp Bắc phương?! Kể từ tháng 2-1999, Giang Trạch Dân của Tàu cộng đã tròng được vào đầu Lê Khả Phiêu và các nhân vật Đảng CSVN bằng 16 chữ mạ vàng “Sơn thủy tương liên; Lý tưởng tương thông; Văn hóa tương đồng; Vận mệnh tương quan” đã được Đảng CSVN ráng sơn son phết vàng 16 chữ này rằng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.Viết đến đây, người viết lại nghĩ “16 chữ vàng” sao giống cái “vòng kim cô” trong truyện “Tây Du Diễn Nghĩa”, sư phụ Đường Tăng cho Tôn Ngộ Không cái mũ là “vòng kim cô”, Ngộ Không hí hửng đội vào đầu, từ đấy mỗi khi Ngộ Không làm điều gì phật ý Đường Tăng, thì Đường Tăng niệm thần chú, đầu của Tôn Ngộ Không bị đau đớn vô cùng, khi đấy Tôn Ngộ Không muốn lấy cái mũ là “vòng kim cô” ra khỏi đầu thì không được nữa, phải lạy lục thầy, mới được tha là Đường Tăng không niệm thần chú nữa.
Ngày nay, người Tàu còn lập phố Tàu, trường đại học Tàu, “Học viện Khổng Tử” tại trường đại học Hà Nội, mưu đồ của chúng là muốn biến nước ta thành tỉnh Quảng Nam của chúng! Trong khi đấy, Chính quyền CSVN hiện nay quá nhu nhược, đã dùng lá cờ từ năm sao (ngũ tinh hồng kỳ) của Tàu cộng, tự nâng lên thành 6 sao, mà sao nhỏ thứ 6 theo chủ ý của Đảng CSVN là biểu tượng nước Việt Nam nhập Tàu?! Ngày 21-12-2011, CSVN đã cho các em nhỏ cầm cờ 6 sao, đón Phó Chủ tịch nước Tàu cộng (nay là Chủ tịch) Tập Cận Bình ở phủ Chủ tịch nước tại Hà Nội?! Đây không phải là lần đầu chính quyền Hà Nội cho sử dụng lá cờ 6 sao của Tàu cộng; mà trước đấy, khi đưa tin Tổng Trọng sang Bắc Kinh ngày 11-10-2011, đài truyền hình VTV1 cho đọc bản tin trên, đã có xuất hiện lá cờ Tàu cộng 6 sao rồi?! Đau đớn thay! “Tổ quốc lâm nguy” thật rồi?!
Tổ Quốc Lâm Nguy
Tổ quốc lâm nguy, há lạnh lùng?!
Sao đành lặng lẽ, sống ung dung?!
Đất đai, Tàu cộng xâm nhiều chỗ?!
Việt cộng, biển Đông hiến mấy vùng?!

Tổ quốc lâm nguy, sao hãi hùng?!
Đồng lòng dọn dẹp kẻ thù chung
Nhìn gương Ai Cập, mong nghiền ngẫm(*)
Gẫm đuốc Tunisia, nhớ nấu nung(*)

Tổ quốc lâm nguy, khắp đó đây!
Tấc lòng son sắt, chớ lung lay?!
Tây Nguyên, bô xít nhiều chua chát
Bản Giốc, Nam Quan lắm đắng cay!

Tổ quốc lâm nguy, hận tháng ngày!
Biểu tình mạnh mẽ, kể từ nay
Thông tin nhanh nhẹn, dùng vi tính
Liên lạc lẹ làng, điện thoại tay

Tổ quốc lâm nguy, đau đớn thay!
Quốc hồn thống thiết, tận trời mây!!!
Tiền nhân dựng nước bằng xương máu
Việt cộng hiến dâng, gây đọa đày!

Tổ quốc lâm nguy, bởi lỗi lầm!
Công an đàn áp khắp xa gần!
Cớ sao hành hạ người yêu nước?!
Muối mặt lụy Tàu, hãm hại dân?!

Tổ quốc lâm nguy, sao ngại ngần?!
Núi sông gìn giữ, kẽo hao dần
Tự do bị mất, quê còn mất???!!!
Hợp sức đấu tranh, ngẫm nghĩ cần?!